Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CỦ CHI

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 163/2024/HSST

Ngày: 01-07-2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Hoài.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Võ văn Dương
  2. Bà Mai Thị Tám

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Thanh Thi và ông Đỗ Thành Công – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Đồng Quang Hải – Kiểm sát viên.

Ngày 01 tháng 07 năm 2024, tại tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 158/2024/TLST-HS ngày 03 tháng 6 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 161/2024/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 06 năm 2024, đối với bị cáo:

Phan Văn T, sinh ngày 25 tháng 01 năm 2002, tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi thường trú: ấp Q, xã L, huyện G, tỉnh Tiền Giang; nơi ở: số A ấp T, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 4/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Văn P (chết) và bà Kiên Thị Kim L, có 01 anh ruột, chưa có vợ, con; tiền án: không; tiền sự: không; bị bắt tạm giam ngày 22 tháng 03 năm 2024, “có mặt”.

Bị hại:

  • Ông Trần Văn D, sinh năm 1976; địa chỉ: ấp L, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh “vắng mặt”.
  • Ông Trương Kiếm A, sinh năm 1978; địa chỉ: ấp Đ, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh “vắng mặt”.
  • Bà Phạm Thị T1, sinh năm 1969; địa chỉ: số B đường T, ấp R, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh “vắng mặt”.
  • Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1957; địa chỉ: số H đường T, ấp P, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh “vắng mặt”.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: ông Ngô Mạnh T2, sinh năm 1964; địa chỉ: số A, Khu phố D, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh “vắng mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phan Văn T và đối tượng tên N quen biết nhau từ tháng 07 năm 2020. Do cần tiền nên ngày 06 tháng 09 năm 2020 T và N rủ nhau cùng đi trộm chó bán lấy tiền tiêu xài. T là người chuẩn bị xe Exciter biển số 59V2-505.27, công cụ trộm chó gồm: 01 bộ dụng cụ kích điện gồm 01 nỏ, 01 mũi tên có nối dây điện dài 4,5m với máy kích điện, 01 bình ắc quy, 01 chai ớt bột, 01 túi nylon kích thước 85 x 115 cm. Ngày 11 tháng 09 năm 2020 Nị điều khiển xe Exciter biển số 59V2-505.27 chở T ngồi sau trực tiếp dùng nỏ điện bắn trộm 05 con chó của người dân, cụ thể như sau:

Vào khoảng 01 giờ 20 phút tại trước nhà số A Tỉnh lộ 7, ấp L, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, T đã bắn trộm được 01 con chó đực, lông xù màu trắng, nặng 20,5 kg của ông Trần Văn D và 01 con chó đực, màu nâu, nặng 8,5 kg (chưa rõ bị hại); đến khoảng 01 giờ 40 tại ấp Đ, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, Trường bắn trộm được 01 con chó đực, lông vàng, nặng 12,5 kg của anh Trương Kiếm A; đến khoảng 02 giờ tại ấp R, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, Trường bắn trộm được 01 con chó cái, lông trắng, nặng 4,5 kg của bà Phạm Thị T1; đến khoảng 02 giờ 15 tại trước nhà số H đường T, ấp P, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, Trường bắn trộm được 01 con chó đực, lông đen, nặng 7,5 kg của bà Nguyễn Thị B. Khi đang trên đường quay về, T và N bị Công an xã P phát hiện đuổi theo, N chạy thoát, T bị bắt giữ cùng với các vật chứng.

Tại Kết luận định giá số 245/KL ngày 23 tháng 09 năm 2020 của Hội đồng định giá trong Tố tụng hình sự định giá 04 con chó bị trộm là 2.340.000 đồng.

Về vật chứng thu giữ của bị cáo gồm: 01 xe mô tô Exciter biển số 59V2-505.27, số khung 1S94-021956, số máy 1S9408Y021956; 01 bộ dung cụ kích điện gồm: 01 nỏ, 01 mũi tên có nối dây điện dài 4,5m với máy kích điện, 01 bình ắc quy; 01 chai ớt bột; 01 túi nylon kích thước 85 x 115cm; 05 con chó đã chết.

Phần dân sự: Bị hại Trần Văn D yêu cầu bồi thường số tiền 4.500.000 đồng, bị hại Phạm Thị T1 yêu cầu bồi thường số tiền 1.000.000 đồng; bị hại Trương Kiếm A và Nguyễn Thị B không yêu cầu bồi thường.

Tại bản Cáo trạng số 156/CT-VKS.CC ngày 30 tháng 05 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Phan Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo cáo trạng. Sau khi phân tích tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm i, s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 173, Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Phan Văn T mức án từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”;

Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về vật chứng: tịch thu tiêu hủy: 01 biển số xe 54Y1-5370, 01 bộ dung cụ kích điện gồm: 01 nỏ, 01 mũi tên có nối dây điện dài 4,5m với máy kích điện, 01 bình ắc quy; 01 chai ớt bột; 01 túi nylon kích thước 85 x 115cm.

Cơ quan cảnh sát điều tra đã ra quyết định tiêu hủy 05 con chó bị chết và chuyển xe gắn máy Yamaha Exciter có số khung: 1S94-021956, số máy: 1S9408Y021956, biển số 54Y1-5370 do ông Ngô Mạnh T2 là chủ sở hữu, xe gắn máy này bị mất trộm tại huyện H từ tháng 07 năm 2018 đến Công an huyện H để xử lý theo thẩm quyền.

Đối với đối tượng tên Nị khi nào cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C điều tra làm rõ được sẽ xử lý sau.

Tại phiên toà, bị cáo Phan Văn T thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi. Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Lời nói sau cùng, bị cáo Phan Văn T đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo Phan Văn T khai nhận:

Vào khoảng 01 giờ 20 phút ngày 11 tháng 09 năm 2020, Phan Văn T cùng với N điều khiển xe gắn máy Exciter biển số 59V2-505.27 di chuyển trên địa bàn các xã T, Trung Lập H, P, thuộc huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh bắn trộm 04 con chó của ông Trần Văn D, ông Trương Kiếm A, bà Phạm Thị T1 và bà Nguyễn Thị B có tổng giá trị là 2.340.000 đồng và 01 con chó trị giá 442.000 đồng (không rõ bị hại), trên đường quay về thì bị công an phát hiện bắt giữ cùng với tang vật.

Hội đồng xét xử xét thấy: Lời khai của bị cáo về hành vi trộm cắp tài sản phù hợp với lời khai của các bị hại, phù hợp với kết luận điều tra của cơ quan điều tra Công an huyện C, với cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, cùng với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý, hành vi lén lút bắn trộm 04 con chó có trị giá 2.340.000 đồng của những người bị hại nhằm mục đích bán lấy tiền tiêu xài, đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ; vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Phan Văn T đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Bị cáo nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, gây bức xúc cho quần chúng nhân dân, song để có tiền tiêu xài bị cáo vẫn cố tình thực hiện. Hội đồng xét xử xét thấy: bị cáo liên tục thực hiện hành vi trộm cắp thú nuôi của người dân, trước khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đã chuẩn bị kỹ lưỡng công cụ phạm tội, phương tiện chống trả nếu bị truy đuổi, sau khi bị bắt bị cáo được tại ngoại nhưng đã bỏ trốn khiến cơ quan chức năng phải ra lệnh truy nã, điều đó thể hiện ý thức của bị cáo rất coi thường pháp luật, nên cần thiết phải áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc và cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để bị cáo học tập và cải tạo, sau này trở thành người biết tôn trọng pháp luật, đồng thời cũng nhằm răn đe, phòng ngừa tội phạm chung.

Tuy nhiên, trong quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.

Về hình phạt bổ sung được quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử xét tính chất của vụ án và hoàn cảnh của bị cáo nên quyết định miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[3] Về xử lý vật chứng:

  • Đối với 05 con chó đã chết cơ quan Cảnh sát điều tra đã thực hiện tiêu hủy là đúng quy định của pháp luật.
  • Đối với 01 bộ dung cụ kích điện gồm: 01 nỏ, 01 mũi tên có nối dây điện dài 4,5m với máy kích điện, 01 bình ắc quy; 01 chai ớt bột; 01 túi nylon kích thước 85 x 115cm là công cụ bị cáo dùng để phạm tội không có giá trị sử dụng nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu tiêu hủy.
  • Đối với xe gắn máy Yamaha Exciter có số khung: 1S94-021956, số máy: 1S9408Y021956, biển số 54Y1-5370 do ông Ngô Mạnh T2 là chủ sở hữu, xe gắn máy này bị mất trộm tại huyện H từ tháng 07 năm 2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã ra Quyết định tách vật chứng chuyển đến Công an huyện H để xử lý theo thẩm quyền nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  • Đối với biển số 59V2-505.27, qua xác minh là biển số của xe gắn máy nhãn hiệu Kimko do đương sự Vũ Ngọc T3; địa chỉ: 1 Lô A chung cư A B, Phường E, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh đứng tên đăng ký, đương sự T3 hiện không còn cư trú tại địa chỉ trên, không rõ nơi ở hiện tại; xét thấy, cơ quan điều tra không tìm được chủ sở hữu của chiếc biển số xe gắn máy trên, và biển số đó không còn giá trị sử dụng nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu tiêu hủy.

- Về trách nhiệm dân sự:

Bị hại Trần Văn D yêu cầu bồi thường số tiền 4.500.000 đồng, bị hại Phạm Thị T1 yêu cầu bồi thường số tiền 1.000.000 đồng, xét thấy, hành vi trộm cắp của bị cáo đã gây tổn thất về tài sản cho những người bị hại, tại phiên tòa bị cáo đồng ý bồi thường theo yêu cầu của các bị hại nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Bị hại ông Trần Kiếm A1 và bà Nguyễn Thị B không yêu cầu bồi thường thiệt hại nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4] Đối với đối tượng tên Nị khi nào cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C điều tra làm rõ được sẽ xử lý sau.

[5] Hội đồng xét xử xét thấy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi truy tố bị cáo Phan Văn T tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, mức hình phạt mà Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa đề nghị áp dụng đối với bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật nên chấp nhận.

[6] Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Phan Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  2. Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017:

    Xử phạt bị cáo Phan Văn T 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giam là ngày 22 tháng 03 năm 2024;

    Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

  3. Áp dụng các Điều 46, 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:

    Tịch thu tiêu hủy : 01 biển số 59V2-505.27; 01 bộ dung cụ kích điện gồm: 01 nỏ, 01 mũi tên có nối dây điện dài 4,5m với máy kích điện, 01 bình ắc quy; 01 chai ớt bột; 01 túi nylon kích thước 85 x 115cm.

    (Phiếu nhập kho số 56/PNK ngày 31 tháng 3 năm 2021 và số 152/PNK ngày 05 tháng 06 năm 2024).

Buộc bị cáo Phan Văn T bồi thường cho Trần Văn D 4.500.000 đồng (bốn triệu năm trăm nghìn đồng), bồi thường cho bà Phạm Thị T1 1.000.000 đồng (một triệu đồng), bồi thường một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.

  1. Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Toà án: buộc bị cáo Phan Văn T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
  2. Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015: bị cáo Phan Văn T có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn là 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
  3. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - VKSND Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Sở Tư pháp Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - VKSND huyện Củ Chi;
  • - Chi cục THADS huyện Củ Chi;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Trần Thị Kim Hoài

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 163/2024/HSST ngày 01/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 163/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 01/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger