|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
|
|
|
Bản án số: 163/2025/HS-ST Ngày: 26 - 5 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đặng Thuỳ Trang
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Võ Văn Tốt - Nghề nghiệp: Hưu trí
Bà Nguyễn Thị Thu Thuỷ - Nghề nghiệp: Giáo viên
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Phương Thuý – Thư ký Toà án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Yến Hoà – Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 134/2025/TLST-HS ngày 09 tháng 4 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 666/2025/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 5 năm 2025 đối với bị cáo:
Nguyễn Khánh N – sinh ngày: 20/4/2007 tại thành phố Hồ Chí Minh; Nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: Số C đường H, khu phố D, phường H, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn L và bà Bùi Thị X; Vợ, con: chưa có
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 11/7/2024, bị Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố T ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 06/02/2025 đến nay; có mặt.
- Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Nguyễn Khánh N: Ông Nguyễn Văn L, sinh năm: 1972; địa chỉ: Số C đường H, khu phố D, phường H, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh – là cha đẻ của bị cáo; có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Khánh N do chỉ định: Ông Huỳnh Trọng N1 – Luật sư thực hiện Trợ giúp pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước Thành phố H; có mặt.
Bị hại: Cháu Lê Đức A, sinh ngày 17/11/2011; địa chỉ: Số F đường T, khu phố F, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt.
Người đại diện hợp pháp của bị hại Lê Đức A: Ông Lê Văn T, sinh năm: 1983 và bà Vũ Thị Bích H, sinh năm: 1981; địa chỉ: Số F đường T, khu phố F, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh - Là cha mẹ đẻ của bị hại; vắng mặt.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- + Cháu Lê Hoàng A1, sinh ngày: 15/12/2009; địa chỉ: Số B TX C, khu phố B, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Người đại diện hợp pháp của Lê Hoàng A1: Ông Lê Văn H1, sinh năm: 1966; địa chỉ: Số B TX C, khu phố B, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh – Là cha đẻ; có mặt.
- + Bà Hoàng Thị H2, sinh năm: 1977; địa chỉ: Số B TX C, khu phố B, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt.
- + Anh Nguyễn Huy H3, sinh năm: 1989; địa chỉ: Số B đường T, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do không có tiền tiêu xài nên vào khoảng 15 giờ ngày 29/11/2024, Nguyễn Khánh N đã rủ Lê Hoàng A1 (sinh ngày 15/12/2009) đi trộm cắp tài sản của người khác để bán lấy tiền chia nhau. Do đồng ý đi trộm cắp tài sản với Nguyễn Khánh N nên khoảng 16 giờ cùng ngày, Hoàng A1 điều khiển xe mô tô biển số 53V8-0957 chở N vào đường bờ kè thuộc khu dân cư T, khu phố E, phường T, Quận A để tìm tài sản trộm cắp. Khi đến trước bãi đất trống thuộc khu dân cư T, Nam nhìn thấy cháu Lê Đức A (sinh ngày 17/11/2011) đang ngồi câu cá cùng với Nguyễn P và Phạm Hùng B, bên cạnh có 01 xe máy điện màu đen bạc, nhãn hiệu Kazuki XMen New của Đức A đang dựng. N chỉ cho Hoàng A1 thấy chiếc xe máy điện và nói Hoàng A1 giúp N lấy chiếc xe này. Hoàng A1 điều khiển xe mô tô chở N đến nơi Đức A cùng nhóm bạn đang câu cá, N xuống xe đi đến ngồi cạnh và nói chuyện với Đức A, còn Hoàng A1 điều khiển xe đi việc cá nhân. Khoảng 05 phút sau P đi về trước, còn Đức A và B tiếp tục câu cá. Đến khoảng 16 giờ 15 phút cùng ngày, Hoàng A1 quay lại, đi đến làm quen và giả vờ nói dối hết mồi câu nên rủ Đức A đi đào giun đất để N tìm thời cơ thuận lợi thực hiện hành vi chiếm đoạt xe máy điện của Đức A.
Do Đức A đồng ý đi tìm mồi câu nên Hoàng A1 điều khiển xe mô tô biển số 53V8-0957 chở N còn Đức A điều khiển xe máy điện chạy theo sau. Khi đến khu vực đường bờ kè cách vị trí câu cá khoảng 300m thì dừng xe lại rồi đi bộ vào bên trong khu đất đào giun. Khoảng 05 phút sau, N nói Đức A đưa xe máy điện cho Hoàng A1 mượn chạy thử (mục đích nhằm tạo lòng tin với Đức A) thì Đức A đồng ý và đưa chìa khóa xe cho Hoàng A1. Hoàng A1 điều khiển xe máy điện của Đức A chạy đi một lúc rồi quay lại nói dối với Đức A là bánh xe mềm. Do đã bàn bạc từ trước nên N hiểu ý Hoàng A1 muốn thực hiện hành vi chiếm đoạt xe máy điện của Đức A, N nói Hoàng A1 đi bơm bánh xe giúp cho Đức A thì Đức A không nói gì nên Hoàng A1 điều khiển xe máy điện của Đức A chạy đi, hướng ra đường L. Lúc này, N liền điều khiển xe mô tô biển số 53V8-0975 chạy theo hướng ra đường L, khi đến trước khu đất trống thuộc khu dân cư T, khu phố E, phường T, Quận A thì N gặp Hoàng A1 đang đứng chờ cùng với chiếc xe máy điện vừa chiếm đoạt được của Đức A. Sau đó, cả hai điều khiển xe máy điện đến cửa hàng cầm đồ "Minh Quang 2", tại địa chỉ số E đường L, khu phố D, phường H, Quận A, gặp anh Nguyễn Huy H3 là nhân viên của tiệm. Lúc đầu, H3 không đồng ý cầm xe vì xe không có giấy tờ nhưng khi Hoàng A1 nói đây là xe của Hoàng A1, do cần tiền đóng học phí nên đi cầm cố và hứa ngày mai sẽ chuộc lại. Do thấy Hoàng A1 mặc đồng phục học sinh nên H3 tin tưởng và đồng ý nhận cầm cố xe trên với số tiền 2.500.000đồng. Hoàng A1 nhận tiền và biên lai rồi đưa cho N, N chia cho Hoàng A1 số tiền 500.000đồng, Nam giữ số tiền 2.000.000đồng và đã tiêu xài hết 500.000đồng.
Lúc này Đức A không thấy N và Hoàng A1 quay lại nên đã báo cho gia đình và đến khoảng 10 giờ ngày 30/11/2024 thì đến Công an phường T, Quận A trình báo. Qua truy xét, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q mời Nguyễn Khánh N và Lê Hoàng A1 làm việc, cả hai đã thừa nhận toàn bộ hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của Lê Đức A như nội dung vụ án nêu trên (Bút lục số 60-63; 70-73; 81-86; 145-149). Nguyễn Huy H3 đã tự nguyện giao nộp lại chiếc xe máy điện đã nhận cầm cố từ N và Hoàng A1 (bút lục số 87).
* Vật chứng vụ án:
- - 01 xe máy điện màu đen bạc, nhãn hiệu Kazuki XMen New, số khung: RNKYDEKUMPDX00394, số động cơ: HFT60V800WA3230420938 do N và Hoàng A1 chiếm đoạt của Đức A.
- - 01 xe mô tô nhãn hiệu DAMSEL, biển số 53V8-0957, số máy: 1P50FMG310598010, số khung: LFDL10010597859, là phương tiện Hoàng A1 sử dụng chở N đi lừa đảo chiếm đoạt tài sản do bà Nguyễn Thị H4 đứng tên đăng ký.
- - Tiền ngân hàng N2 2.000.000đồng, trong đó N giao nộp 1.500.000đồng và Hoàng A1 giao nộp 500.000đồng.
- - 01 USB hiệu Kingston màu bạc, 01 USB hiệu Kingston màu xanh lưu trữ hình ảnh có liên quan đến vụ án.
* Đồ vật tạm giữ:
- - 01 áo thun tay ngắn màu xanh và 01 quần thun ngắn màu xanh (là trang phục Nguyễn Khánh N mặc khi thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản).
- - 01 áo thun tay ngắn màu xanh trắng và 01 quần dài màu đen (là trang phục của Lê Hoàng A1 mặc khi thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản).
Tại Kết luận định giá tài sản số 291/KL-HĐĐGTS ngày 13/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Quận A kết luận: “01 xe gắn máy hai bánh điện, hiệu Kazuki XMen New, số khung: RNKYDEKUMPDX00394, số động cơ: HFT60V800WA3-230420938, màu đen bạc, đã qua sử dụng, trị giá 6.750.000đồng” (Bút lục 193, 194).
Tại Cơ quan cảnh sát điều tra công an Q và tại phiên toà Nguyễn Khánh N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung vụ án nêu trên.
Công bố lời khai bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có nội dung như bị cáo đã khai nhận. Về trách nhiệm dân sự, bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Huy H3 không có yêu cầu bồi thường về số tiền đã cầm chiếc xe máy điện của bị cáo.
Tại Cáo trạng số 132/CT-VKSQ12 ngày 28/3/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân Quận 12 đã truy tố bị cáo Nguyễn Khánh N về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi sổ sung năm 2017.
Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12 giữ nguyên quan điểm như cáo trạng truy tố đối với bị cáo Nguyễn Khánh N và đề nghị:
- - Áp dụng khoản 1 Điều 174; các điểm h, i, s khoản 1 Điều 51; các điểm i, o khoản 1 Điều 52; các điều 38, 90, 91, 101 Bộ luật Hình sự; Điều 119 Luật Tư pháp người chưa thành niên
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Khánh N từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- - Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Lê Đức A (người đại diện hợp pháp bà Vũ Thị Bích H) đã nhận lại tài sản không có yêu cầu gì khác nên không xem xét, giải quyết. Anh Nguyễn Huy H3 không có yêu cầu gì về số tiền đã cầm chiếc xe máy điện của bị cáo nên không xem xét.
- - Về xử lý vật chứng, đề nghị:
- + Tịch thu sung công quỹ số tiền 2.000.000đồng do bị cáo N và Hoàng A1 giao nộp.
- + Tịch thu tiêu huỷ: 01 áo thun tay ngắn màu xanh; 01 quần thun ngắn màu xanh; 01 áo thun tay ngắn màu xanh trắng và 01 quần dài màu đen.
- + Tiếp tục giao Cơ quan Thi hành án Quận 12 đăng báo tìm chủ sở hữu chiếc xe mô tô biển số 53V8-0957, sau thời hạn đăng báo nếu không tìm được chủ sở hữu thì tịch thu sung quỹ nhà nước.
- + Tiếp tục lưu trong hồ sơ 02 USB có hình ảnh liên quan đến vụ.
Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Khánh N không có ý kiến tranh luận nội dung truy tố của Viện kiểm sát nhân dân Quận 12.
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Khánh N nhất trí với tội danh, điều luật và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như đại diện Viện kiểm sát đã đề nghị. Tuy nhiên, khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo chưa đủ 18 tuổi nên nhận thức còn hạn chế; nhân thân bị cáo chưa có tiền án tiền sự gì nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng thêm các điều 118 và 124 Luật tư pháp người chưa thành niên để áp dụng mức hình phạt thấp nhất đối với bị cáo.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận. Khi nói lời nói sau cùng, bị cáo đã ăn năn, hối cải và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về chứng cứ xác định có tội: Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, lời khai của người làm chứng, vật chứng thu giữ, Kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự Quận A và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nên có đủ căn cứ xác định:
Vào khoảng 16 giờ 45 phút ngày 29/11/2024 tại khu vực đường bờ kè thuộc khu phố E, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Nguyễn Khánh N và Lê Hoàng A1 đã dùng thủ đoạn gian dối để Lê Đức A tin là thật, giao tài sản và chiếm đoạt 01 xe máy điện màu đen bạc, nhãn hiệu K, trị giá tài sản là 6.750.000đồng của bị hại Lê Đức A.
Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo 17 tuổi 07 tháng 09 ngày nên có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội do lỗi cố ý và đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác nên hành vi của bị cáo Nguyễn Khánh N đã phạm vào tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Quận 12 đã truy tố.
[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Khánh N đã xúi giục Lê Hoàng A1 (sinh ngày 15/12/2009) phạm tội và chiếm đoạt tài sản của Lê Đức A (sinh ngày 17/11/2011) nên đã vi phạm vào các điểm o, i khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự “Xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội” và “Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi”.
Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn; tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo: Mặc dù bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 51 nhưng bị cáo có 02 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; ngoài việc thực hiện hành vi phạm này, bị cáo còn bị khởi tố về tội “Trộm cắp tài sản” nên cần áp dụng Điều 38 Bộ luật Hình sự để cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo. Tuy nhiên, khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo mới 17 tuổi 07 tháng 09 ngày nên cần áp dụng các điều 90, 91 và 101 Bộ luật Hình sự và khoản 1 Điều 119 Luật Tư pháp người chưa thành niên trong lượng hình đối với bị cáo. Việc người bào chữa cho bị cáo đề nghị cho bị cáo được áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ; phạt tù nhưng cho hưởng án treo là không có căn cứ.
[6] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 174 của Bộ luật Hình sự, người phạm tội có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm. Xét thấy bị cáo phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi nên căn cứ khoản 6 Điều 91 Bộ luật Hình sự, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[7] Về vật chứng, xử lý vật chứng và đồ vật:
- - Đối với: 01 xe máy điện màu đen bạc, nhãn hiệu Kazuki XMen New, số khung: RNKYDEKUMPDX00394, số động cơ: HFT60V800WA3230420938 (do N và Hoàng A1 chiếm đoạt của Đức A), Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H đã xác minh và ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho chủ sở hữu là bà Vũ Thị Bích H (mẹ Lê Đức A) là có căn cứ.
- - Đối với: 01 xe mô tô nhãn hiệu Damsel, biển số 53V8-0957, số máy: 1P50FMG310598010, số khung: LFDL10010597859 (là phương tiện Hoàng A1 sử dụng chở N đi lừa đảo chiếm đoạt tài sản), do bà Nguyễn Thị H4 đứng tên đăng ký. Qua xác minh, bà H4 không có mặt tại địa phương, đi đâu không rõ. Qua làm việc, bà Hoàng Thị H2 (là mẹ ruột của Hoàng A1) trình bày, xe mô tô trên bà mua lại ở 01 cửa hàng mua bán xe mô tô cũ thuộc tỉnh Bình Dương vào năm 2019, có giấy viết tay về việc mua bán xe nhưng bà H2 đã làm mất nên không nhớ địa chỉ nơi mua xe. Ngày 29/11/2024, bà H2 đi làm để xe mô tô biển số 53V8-0957 ở nhà thì Hoàng A1 tự ý lấy xe đi chơi rồi sau đó sử dụng xe chở N đi lừa đảo chiếm đoạt tài sản mà bà H2 không biết. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã đăng báo tìm chủ sở hữu nhưng chưa có kết quả nên giao cho Cơ quan Thi hành án có thẩm quyền thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng để xác định chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp đối với xe môtô này. Sau thời hạn 04 tháng kể từ ngày đăng số báo đầu tiên, nếu xác định được chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp thì trả lại cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp, nếu không xác định được chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp thì tịch thu sung công quỹ nhà nước.
- - Đối với số tiền 2.000.000đồng do bị cáo Nguyễn Khánh N và Lê Hoàng A1 giao nộp (đây là tiền do anh Nguyễn Huy H3 trả cho bị cáo và Hoàng A1 khi cầm xe máy điện) nhưng anh H3 không có yêu cầu gì số tiền nói trên nên tịch thu sung công quỹ nhà nước số tiền trên.
- - Tiếp tục lưu 01 USB hiệu Kingston màu bạc và 01 USB hiệu Kingston màu xanh lưu trữ hình ảnh có liên quan đên vụ (đã được đính kèm trong hồ sơ).
- - Tịch thu tiêu huỷ: 01 áo thun tay ngắn màu xanh, 01 quần thun ngắn màu xanh; 01 áo thun tay ngắn màu xanh trắng và 01 quần dài màu đen là trang phục bị cáo Nguyễn Khánh N và Lê Hoàng A1 mặc khi thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản, không có giá trị sử dụng.
[8] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu bồi thường gì khác; anh Nguyễn Huy H3 không yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền đã cầm chiếc xe máy điện của bị cáo nên không xem xét, giải quyết.
[9] Về vấn đề khác:
- - Đối với Lê Hoàng A1 tại thời điểm thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản mới 14 tuổi 11 tháng 14 ngày, chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự đối với tội ít nghiêm trọng theo khoản 2 Điều 12 Bộ luật Hình sự. Do đó, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H đã lập hồ sơ chuyển Công an phường T, Quận A xử lý hành chính.
- - Đối với anh Nguyễn Huy H3 do không biết nguồn gốc chiếc xe máy điện nhận cầm cố là tài sản do bị cáo Nguyễn Khánh N phạm tội mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H không xử lý.
[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Tuyên bố bị cáo Nguyễn Khánh N phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản".
- Căn cứ khoản 1 Điều 174; các điểm i, o khoản 1 Điều 52; các điểm h, i, s khoản 1 Điều 51; các điều 38, 90, 91 và 101 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 119 Luật Tư pháp người chưa thành niên.
- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Khánh N 01 (một) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 06/02/2025.
- Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- - Về trách nhiệm dân sự: Không có yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.
- - Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2021:
- + Giao Cơ quan Thi hành án dân sự Quận 12 thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng để tìm chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp đối với xe môtô nhãn hiệu DAMSEL, biển số 53V8-0957, số máy: 1P50FMG310598010, số khung: LFDL10010597859. Sau thời hạn 04 tháng kể từ ngày đăng số báo đầu tiên, nếu xác định được chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp thì trả lại cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp, nếu không xác định được chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp thì tịch thu sung quỹ nhà nước.
- + Tịch thu sung công quỹ nhà nước số tiền 2.000.000đồng (Hai triệu đồng) do bị cáo Nguyễn Khánh N và Lê Hoàng A1 đã giao nộp vào tài khoản Công an.
- + Tịch thu tiêu huỷ: 01 áo thun tay ngắn màu xanh, 01 quần thun ngắn màu xanh; 01 áo thun tay ngắn màu xanh trắng và 01 quần dài màu đen.
- (Theo Quyết định chuyển vật chứng số 105/QĐ-VKSQ12 ngày 28/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 12).
- - Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội buộc bị cáo Nguyễn Khánh N phải nộp 200.000đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- - Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bào chữa; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Đặng Thuỳ Trang |
Bản án số 163/2025/HS-ST ngày 26/05/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự: lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 163/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/05/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Khánh N - Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
