Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 5 – HÀ NỘI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 163/2025/HS-ST

Ngày: 22/10/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 – HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Hoàng Thùy Dương Ngọc Anh

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Nga
  2. Bà Phạm Thị Oanh – Giáo viên

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Lệ Quyên, Thư ký TAND khu vực 5 - Hà Nội

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Bùi Bách Thành, Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 10 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 - Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 139/2025/TLST-HS ngày 02/10/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 149/2025/QĐXXST-HS ngày 07/10/2025 đối với:

* Bị cáo: LƯƠNG THÚY Q, sinh ngày: 20072007 (phạm tội khi 17 tuổi 05 tháng 12 ngày); CCCD số: 001307xxxxxxxxxxxx; HKTT và nơi ở: Tổ G, phường L, thành phố Hà Nội (số nhà A ngõ A phố N); trình độ học vấn: lớp 11/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Không; con ông Lương Công Đ và bà Vũ Hồng N; theo D chỉ bản số 01 ngày 12/8/2025 của Công an phường P, TP . và Trích lục tiền án, tiền sự số 7068239/2025/PV06 ngày 18/9/2025 của Phòng Hồ sơ nghiệp vụ Công an thành phố H thể hiện: bị cáo không có tiền án, tiền sự; hiện đang áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú - Có mặt tại phiên tòa.* Người đại diện hợp pháp của bị cáo:1) Ông Lương Công Đ, sinh năm 1983 (Có mặt tại phiên toà)

2) Bà Vũ Hồng N, sinh năm 1984 (Có mặt tại phiên toà)

Cùng địa chỉ: Tổ G phường L, thành phố Hà Nội.

* Người bào chữa cho bị cáo: Ông Trương Công Đ1 – Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước thành phố H (Có mặt tại phiên tòa).

* Bị hại: Trần Bảo T, sinh ngày 25/11/2010; địa chỉ: Phòng H tòa S, xã G, thành phố Hà Nội .

* Người đại diện hợp pháp của bị hại:

  1. Ông Trần Văn B, sinh năm 1979;
  2. Bà Đỗ Thị Thúy N1, sinh năm 1983;

Cùng địa chỉ: Phòng H tòa S, xã G, thành phố Hà Nội

(Bị hại và đại diện hợp pháp của Bị hại đều có đơn xin vắng mặt).

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Phạm Thị Lan A, sinh ngày 05/11/2009; HKTT: thôn A, xã N, tỉnh H; nơi ở: số I ngách B N, thành phố H(vắng mặt).* Đại diện hợp pháp của cháu Lan A: 1) Anh Phan Văn N2, sinh năm 1985; HKTT: thôn A, xã N, tỉnh H; nơi ở: số I ngách B N, thành phố H Ni(vắng mặt).2) Chị Đinh Thị L, sinh năm 1990; địa chỉ: xã Đ, huyện V (cũ), nay là xã Đ, tỉnh H n (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 23 giờ 30 phút ngày 11/6/2025, Trần Bảo T đi đến nhà bạn là La Bảo T1 (ở số I ngách B N, phường P, H) chơi và ngủ lại. Khi đến nhà T1 chơi, T mang theo 01 xe máy Honda Vision BKS: 29B2-173.79, 01 máy tính xách tay Macbook Pro đựng trong túi vải màu xám có chữ H và số tiền 150.000 đồng. Tại đây, T gặp Phạm Thị Lan A (SN: 2009,N, T).

Phát hiện T có tài sản, Lan A nảy sinh ý định trộm cắp. Vào khoảng 04 giờ ngày 12/6/2025, Lan A nhắn tin qua Facebook rủ Lê Phương Tú U (SN: 22009, P, Hà Nội) và Lương Thúy Q cùng tham gia vào việc chiếm đoạt tài sản của T. Lan A phân công U vào phòng ngủ tầng 2 lấy túi đựng Macbook, chìa khóa xe máy, và 150.000 đồng trong túi xách, sau đó dắt xe Honda Vision BKS: 29B2-173.79 ra ngoài. Q đứng đợi sẵn bên ngoài, rồi cả hai mang tài sản đi cất giấu. Lan A đặt xe công nghệ cho U đến nhà T1.Đến khoảng 06 giờ 30 phút ngày 12/6/2025, U thực hiện đúng kế hoạch: lấy Macbook Pro, 150.000 đồng, túi đồ trang điểm màu đen, và lấy thêm iPhone 12 Pro Max màu xanh của Lan A để tạo bằng chứng giả tránh bị nghi ngờ. Sau đó, U và Q mang tài sản về nhà Uyên: Uyên giữ M, còn Q giữ các tài sản còn lại.Lan A nhắn mật khẩu Macbook của T cho U để xóa dữ liệu. Khoảng 08h30 cùng ngày, U mang Macbook đến cửa hàng “Linh Al” ở P bán cho anh Hà Văn H1 nhưng được anh H1 giới thiệu cho anh Nguyễn Khắc K (SN: 1988). Anh K đồng ý mua lại với giá 6.000.000 đồng và chuyển khoản cho U. U nhận được 6.000.000 đồng sau đó chuyển 3.400.000 đồng cho Lan A, giữ lại 2.600.000 đồng tiêu xài cá nhân.

Khoảng 11 giờ cùng ngày, Q đặt xe cho Lan A về nhà Q (phố N, L). Cả hai sử dụng xe máy chiếm đoạt được để đi ăn uống, sau đó Lan A tự dán xe thành màu đen và tháo biển số để tránh bị phát hiện.

Đến ngày 14/7/2025, khi thấy chiếc xe máy lạ không biển số để tại nhà, bố của Q là ông Lương Công Đ đã mang xe đến cơ quan công an giao nộp.

Vật chứng thu giữ gồm:

  • 01 xe moto nhãn hiệu Honda Vision màu trắng nâu đen, BKS: 29B2-173.79, số khung: RLHJK0313MY566258, số máy: JK03E2472929 do ông Lương Công Đ giao nộp;
  • 01 Macbook Pro màu xám 16GB, màn hình 16inch, 01 túi đặng bằng vải màu xám do ông Hà Văn H1 giao nộp;
  • 01 điện thoại Iphone 11 Promax màu xanh do cháu Phạm Thị Lan A giao nộp.

Theo Kết luận định giá tài sản số: 631/KL-HĐĐGTS ngày 06/8/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng Thành phố Hà Nội kết luận:

  • Giá trị 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision màu Trắng Nâu Đen, BKS: 29B2-173.79, số khung: RLHJK0313MY566258, số máy: JK03E2472929 đã qua sử dụng tại thời điểm ngày 11/6/2025 là: 26.666.667 đồng.
  • Giá trị 01 máy tính xách tay nhãn hiệu Macbook Pro màu xám 16GB, màn hình 16inch, số seri: C02DT1PMMD6M đã qua sử dung tại thời điểm 11/6/2025 là: 7.000.000 đồng.
  • Giá trị 01 túi đựng máy tính xách tay (Laptop) nhãn hiệu Haras màu xám đã qua sử dụng tại thời điểm ngày 11/6/2025 là: 50.000đồng.

Bản cáo trạng số 134/VKS-KV5 ngày 29/9/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Hà Nội đã truy tố Lương Thúy Q về tội “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

- Bị cáo Lương Thúy Q thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, xác nhận Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Hà Nội truy tố là đúng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện. Bị cáo vô cùng ân hận về hành vi của mình. Bị cáo đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội.

- Đại diện Viện kiểm sát sau khi phân tích tính chất mức độ hành vi phạm tội, đánh giá vai trò cũng như nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đã kết luận giữ quan điểm như cáo trạng truy tố và đề nghị HĐXX áp dụng Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự, tuyên bố bị cáo Lương Thúy Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tài sản đã thu hồi trả lại bị hại, đã bồi thường dân sự cho người liên quan, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt, nên đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo Điểm i, s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; Khoản 1 Điều 119, Điều 124 Luật Tư pháp người chưa thành niên; xử phạt bị cáo từ 06 đến 10 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách 12 đến 20 tháng. Áp dụng Điều 41 BLHS, Điều 106 BLTTHS: tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động thu giữ của Phạm Thị Lan A.

- Người bào chữa cho bị cáo: Thống nhất với quan điểm của VKS về tội danh cũng như đánh giá về vai trò, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Đề nghị HĐXX cân nhắc khi lượng hình vì bị cáo khi phạm tội là người chưa thành niên, chưa hoàn thiện về thể lực lẫn trí lực; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, trong suốt quá trình giải quyết vụ án bị cáo luôn thể hiện thái độ hợp tác, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã bồi thường khắc phục hậu quả; bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo và cho bị cáo được hưởng mức án cải tạo không giam giữ cũng đủ để giáo dục đồng thời tạo điều kiện cho bị cáo có cơ hội làm lại cuộc đời.

- Đại diện hợp pháp của bị trình bày: cháu Q tuổi còn nhỏ, bị bạn bè lôi kéo dụ dỗ, chưa nhận thức đầy đủ về mức độ sai trái của hành vi nên đã nảy sinh lòng tham. Cháu mắc phải lỗi lầm cũng một phần do sự lơi lỏng quản lý của phụ huynh; tại phiên tòa hôm nay chúng tôi xin nhận lỗi chưa làm tròn trách nhiệm trong việc giáo dục con. Gia đình tôi tha thiết đề nghị HĐXX cho cháu được cải tạo tại gia đình và địa phương để các cháu có cơ hội sửa sai, làm lại cuộc đời, gia đình có cơ hội uốn nắn và cam kết sẽ giám sát, giáo dục cháu để trở thành công dân lương thiện.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Bị hại, đại diện hợp pháp cho bị hại, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ đến phiên tòa nhưng vắng mặt; xét bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường. Việc vắng mặt bị hại và người liên quan không làm cản trở việc xét xử bị cáo. Do vậy, căn cứ vào Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Tòa án xét xử vắng mặt họ.

[1.2] Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng.

[2] Về tội danh: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người liên quan cùng các tài liệu khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở để xác định:

Vào ngày 12/6/2025, tại số I N, phường P, thành phố Hà Nội, Lương Thúy Q đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 chiếc xe máy Honda Vision BKS 29B2-173.79 trị giá 26.666.667 đồng, 01 Macbook trị giá 7.000.000 đồng, 01 túi đựng Laptop nhãn hiệu Haras màu xám trị giá 50.000 đồng và số tiền 150.000 đồng của cháu Trần Bảo T. Tổng giá trị tài sản Lương Thúy Q đã chiếm đoạt là 33.866.667 đồng (ba mươi ba triệu tám trăm sáu mươi sáu nghìn, sáu trăm sáu mươi bảy đồng). Tài sản đã được thu hồi trả lại cho bị hại.

Hành vi nêu trên của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được Bộ luật Hình sự bảo vệ, gây mất trật tự trị an xã hội, đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Hà Nội đã truy tố đối với bị cáo là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, phù hợp pháp luật.

[3] Đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, vai trò, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của của bị cáo:

[3.1] Trong vụ án có nhiều người cùng thống nhất thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản, trong đó Phạm Thị Lan A là người chủ mưu đồng thời tham gia vào một phần trong chuỗi hành vi, Lê Phương Tú U và Lương Thúy Q là người thực hành. Tuy nhiên, tại thời điểm thực hiện hành vi thì Lan A và Tú U chưa đủ 16 tuổi nên không bị truy cứu trách nhiệm hình sự đối với tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại Khoản Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Cơ quan Điều tra đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính với Lan A và Tú U, không khởi tố bị can và quyết định xử phạt hành chính là phù hợp pháp luật.

[3.2] Bị cáo phạm tội lần đầu, nhân thân chưa có tiền án, tiền sự; quá trình điều tra và tại phiên toà thành khẩn khai báo, thể hiện thái độ ăn năn hối cải, tài sản đã thu hồi trả lại cho bị hại, tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả cho người liên quan, bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo Điểm i, s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[3.2] Trong vụ án này, bị cáo là người dưới 18 tuổi, thực hiện hành vi đồng phạm với vai trò người thực hành, do vậy bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự tương ứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà mình đã thực hiện.

[3.3] Xét thấy bị cáo là người chưa thành niên, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng với vai trò là người thực hành và bị xúi giục. Căn cứ vào tính chất và mức độ của hành vi phạm tội, căn cứ vào nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ của bị cáo như đã viện dẫn, xét bị cáo hiện đang tại ngoại, có nơi cư trú rõ ràng, cùng với sự giám sát của gia đình thì bị cáo có khả năng tự cải tạo nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, thấy áp dụng hình phạt “cải tạo không giam giữ,, theo quy định tại Điều 100 của Bộ luật Hình sự cũng đủ tác dụng giáo dục đối với bị cáo, đồng thời đáp ứng nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội là nhằm đảm bảo lợi ích tốt nhất và chủ yếu nhằm mục đích giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh, trở thành công dân có ích cho xã hội.

Đề nghị của người bào chữa cho bị cáo phù hợp với đánh giá của HĐXX nên được chấp nhận.

[3.4] Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[4] Bồi thường dân sự, xử lý vật chứng:

[4.1] Bị hại Trần Bảo T tự ý lấy xe máy Honda Vision BKS: 29B2-173.79 của mẹ là chị Đỗ Thị Thúy N1 để tham gia giao thông mà chưa được sự đồng ý của chị N1. Quá trình điều tra xác định chiếc xe trên không có trong cơ sở dữ liệu vật chứng và đăng ký chính chủ mang tên chị Đỗ Thị Thúy N1. Chị N1 khai chiếc xe máy trên cùng 01 M bị chiếm đoạt là tài sản của chị mua để sử dụng. Kết luận giám định số 5731 ngày 10/9/2025 của Phòng K1 - Công an T kết luận: xe moto nhãn hiệu Honda Vision dán màu đen, không biển kiểm soát, có số máy JK03E2472929, số khung RLHJK0313MY566258 là số nguyên thuỷ. Do đó, cơ quan điều tra đã trả cho bị hại (T) và đại diện hợp pháp của bị hại (chị N1) các tài sản nêu trên kèm theo 01 túi đựng laptop nhãn hiệu Haras cùng số tiền 150.000 đồng.

Bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu, nên Tòa án không xem xét.

[4.2] Đối với anh Hà Văn H1 và Nguyễn Khắc K là người mua máy tính xách tay nhãn hiệu Macbook Pro của Lê Phương Tú U, khi mua thì không biết tài sản Uyên mang bán có nguồn gốc do phạm tội mà có, nên Cơ quan điều tra không đặt vấn đề xử lý là có căn cứ.

Lương Thúy Q, Phạm Thị Lan A và Lê Phương Tú U đã hoàn trả anh Nguyễn Khắc K số tiền 6.000.000 đồng. Anh Khoa đã nhận đủ tiền và không có yêu cầu, đề nghị gì khác.

[4.3] Đối với chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 13 do Lê Phương T2 U sử dụng để liên lạc với Lan A và Thúy Q: quá trình điều tra xác định được đây là điện thoại của cháu Lê Phương Tú A2 (em gái Tú U) cho Tú A2 mượn để sử dụng, khi cho mượn thì Tú A2 không biết U sử dụng điện thoại của mình làm phương tiện liên lạc thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản. Cơ quan điều tra đã trả lại 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 cho Lê Phương Tú A2 là phù hợp.

[4.4] Đối với 01 điện thoại Iphone 11 Promax màu xanh tạm giữ của Phạm Thị Lan A: Lan A khai nhận đây là điện thoại của mình mua, được sử dụng làm phương tiện liên lạc thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy, cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước theo quy định tại Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[5] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

[6] Bị cáo và những người tham gia tố tụng trong vụ án có quyền kháng cáo theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào Khoản 1 Điều 173, Điểm i, s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51, Điều 90, 91, 98 và 100 của Bộ luật Hình sự; các Điều 136, 292, 331 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; các Điều 119 và 179 của Luật Tư pháp người chưa thành niên; Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Chính phủ quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

+ Tuyên bố bị cáo Lương Thúy Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”

+ Xử phạt bị cáo Lương Thúy Q 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ. Giao bị cáo Lương Thúy Q về Ủy ban nhân dân phường L, thành phố Hà Nội để giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành hình phạt. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày UBND phường L, thành phố Hà Nội nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.

Trường hợp bị cáo Lương Thúy Q thay đổi nơi cư trú thì việc giám sát bị cáo thực hiện theo Khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.

- Căn cứ Điểm a Khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Đ2 a Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax màu xanh có lắp sim được đựng trong phong bì màu trắng có niêm phong, theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 2025/KV5/GN/THA-CA ngày 01/10/2025 của Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 5.

- Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.

- Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị cáo và người bào chữa cho bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

- Bị hại và đại diện hợp pháp của bị hại được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và đại diện hợp pháp của người liên quan có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Nơi nhận :

  • - Bị cáo; Người tham gia tố tụng;
  • - VKSND KV5-HN;
  • - VKSNDTP Hà Nội;
  • - TAND TP Hà Nội;
  • - PC06-Công an TP.Hà Nội;
  • - Phòng THADS KV5 - Hà Nội;
  • - THAHS TA khu vực 5 - HN;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Nguyễn Hoàng Thùy Dương Ngọc Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 163/2025/HS-ST ngày 22/10/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 – HÀ NỘI về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 163/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/10/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 – HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: .
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger