TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 163/2025/DS-PT Ngày: 26-02-2025. V/v tranh chấp hợp đồng đặt cọc | NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh
Các Thẩm phán: Bà Trịnh Thị Phúc
Bà Huỳnh Thị Hồng Vân
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Võ Quang Huy - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Long An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thùy Dung - Kiểm sát viên.
Vào ngày 26 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Long An xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 711/2024/TLPT-DS ngày 05 tháng 12 năm 2024 về tranh chấp hợp đồng đặt cọc.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 288/2024/DS-ST ngày 29 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 725/2025/QĐ-PT ngày 11 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Huỳnh Văn T, sinh năm 1979.
Địa chỉ: Ấp H, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Lê Văn K, sinh năm 1959. Địa chỉ: Số A, đường N, ấp T, xã T, huyện H, thành phố Hồ Chí Minh. (Theo Hợp đồng ủy quyền ngày 23/11/2023).
- Bị đơn: Ông Cao Văn T1, sinh năm 1986
Địa chỉ: Ấp T, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Ông Nguyễn Hòa B, sinh năm 1953. Địa chỉ: Ấp G, xã L, huyện B, tỉnh Long An. (Theo Hợp đồng ủy quyền ngày 11/02/2025).
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
3.1. Bà Bùi Thị Cẩm L, sinh năm 1993.
Địa chỉ: Ấp T, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An.
2. Ngân hàng N (A).
Trụ sở chính: Số B L, phường T, quận B, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Toàn V, chức vụ: Tổng Giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền của A: Ông Lại Ngọc T2 - Chức vụ: Giám đốc A Chi nhánh Đ (Theo Quyết định ủy quyền số: 2665/QĐ-HĐTV-PC ngày 01/12/2022).
- Người kháng cáo: Ông Cao Văn T1.
(Ông K, ông B có mặt; Các đương sự còn lại có đơn vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 25/8/2023 và đơn khởi kiện bổ sung ngày 02/11/2023, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa ông Huỳnh Văn T do ông Lê Văn K đại diện trình bày:
Ngày 14/4/2022, ông Huỳnh Văn T và ông Cao Văn T1 thoả thuận ký giấy nhận cọc để mua bán diện tích đất ngang 30m dài hết đất thuộc một phần các thửa đất số 64, 65, cùng tờ bản đồ số 17, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An thuộc 02 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DD 738286 và số DD738494 do Sở Tài Nguyên và Môi Trường Tỉnh L cấp cùng ngày 21/12/2021 cho ông Cao Văn T1 đứng tên sử dụng. Hai bên thỏa thuận giá mua bán là 85.000.000 đồng/mét ngang.
Sau đó, ông T thỏa thuận mua thêm của ông T1 20 mét ngang, giá mua bán của 20 mét lần sau là 80.000.000 đồng/mét ngang, chiều dài hết đất thuộc một phần các thửa đất số 64, 65, cùng tờ bản đồ số 17, xã H. Tổng cộng, ông T mua của ông T1 diện tích đất ngang 50 mét. Ông T và ông T1 đã ký với nhau 03 giấy nhận cọc, gồm: Giấy nhận tiền cọc ngày 14/4/2022, Hợp đồng đặt cọc ngày 30/6/2022, Hợp đồng đặt cọc ngày 14/10/2022. Tổng cộng, ông T đã đặt cọc cho ông T1 số tiền 2.070.000.000 đồng.
Ông T nhiều lần yêu cầu ông T1 cùng đến Văn phòng Công chứng làm thủ tục chuyển nhượng hợp pháp việc đặt cọc mua bán nhưng ông T1 viện cớ không thực hiện.
Ngoài ra, vào các ngày 04/5/2022, 16/5/2022, 24/5/2022, 15/6/2022, 06/7/2022 và 15/7/2022 ông T còn cho ông T1 vay nhiều lần với số tiền tổng cộng 900.000.000 đồng. Hiện nay ông T1 chưa trả tiền cho ông T, ông T có tìm nhưng không liên lạc được với ông T1 để thu hồi nợ.
Nay ông Huỳnh Văn T yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Tuyên huỷ 03 hợp đồng đặt cọc vào các ngày 14/10/2022, ngày 14/4/2022 và ngày 30/6/2022 được ký kết giữa ông Huỳnh Văn T và ông Cao Văn T1.
- Buộc ông Cao Văn T1 hoàn trả lại cho ông Huỳnh Văn T ngay một lần số tiền ông T đã đặt cọc mua đất là 2.070.000.000 đồng (hai tỷ không trăm bảy mươi triệu đồng).
- Buộc ông Cao Văn T1 hoàn trả lại cho ông Huỳnh Văn T ngay một lần số tiền ông T đã cho ông T1 vay là 900.000.000 đồng (chín trăm triệu đồng), không tính lãi suất.
Tại phiên tòa sơ thẩm, ông Huỳnh Văn T do ông Lê Văn K đại diện rút lại yêu cầu buộc ông Cao Văn T1 trả một phần tiền cho vay tại giấy nợ ghi ngày 01/5/2022 là 250.000.000 đồng. Yêu cầu ông T1 trả tiền đã vay theo sự thừa nhận là 650.000.000 đồng.
Bị đơn ông Cao Văn T1 do ông Ngô Hoàng Q đại diện trình bày trong quá trình giải quyết và tại phiên tòa ông Cao Văn T1 trình bày:
Ông Cao Văn T1 thống nhất vào các ngày 14/4/2022, ngày 30/6/2022 và ngày 14/10/2022 giữa ông Huỳnh Văn T và ông Cao Văn T1 có ký kết Hợp đồng đặt cọc với mục đích chuyển nhượng diện tích đất ngang 50m dài hết đất thuộc một phần các thửa số 64, 65, cùng tờ bản đồ số 17, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An, đất chuyển nhượng thuộc 02 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DD 738286 và số DD738494 do Sở Tài Nguyên và Môi Trường Tỉnh L cấp cùng ngày 21/12/2021 cho ông Cao Văn T1 đứng tên quyền sử dụng. Số tiền cọc mà ông T1 đã nhận của ông T là 2.070.000.000 đồng.
Tại thời điểm ký kết hợp đồng đặt cọc, ông T biết rõ hiện tại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông T1 đang cầm cố thế chấp tại Ngân hàng A Chi nhánh Đ. Ông T và ông T1 có thỏa thuận, ông T sẽ hỗ trợ đưa thêm tiền để ông T1 đi giải chấp tại Ngân hàng A lấy GCN QSDĐ từ A ra để ký kết chuyển nhượng đất cho ông T. Nhưng sau đó ông T không tiếp tục thực hiện theo thỏa thuận, dẫn đến việc ông T1 không có tiền để trả cho Ngân hàng lấy GCN QSDĐ ra nên không thể thực hiện việc chuyển nhượng cho ông T1. Hiện nay GCN QSDĐ của ông Cao Văn T1 vẫn còn đang thế chấp tại Ngân hàng A chi nhánh Đ.
Đối với yêu cầu khởi kiện của ông Huỳnh Văn T về yêu cầu hủy 03 giấy đặt cọc vào các ngày 14/10/2022, 14/4/2022 và 30/6/2022 thì ông Cao Văn T1 không đồng ý. Lý do: ông T1 không vi phạm, ông T1 vẫn mong muốn hai bên tiếp tục thực hiện theo thỏa thuận và thực hiện việc mua bán đất với ông T1. Trong trường hợp ông T không đồng ý tiếp tục thực hiện việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất hoặc Tòa án tuyên hủy Hợp đồng đặt cọc giữa ông T1 và ông T thì yêu cầu Tòa án xem xét yếu tố lỗi dẫn đến việc không thể thực hiện việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất của hai bên. Vì ông T1 không có lỗi nên yêu cầu Tòa án tuyên buộc ông T mất số tiền cọc đã giao cho ông T1.
Đối với số tiền vay 900.000.000 đồng. Tại phiên tòa và trong Biên bản hòa giải ngày 22/7/2024, ông Cao Văn T1 xác định: Ông Cao Văn T1 xác nhận có vay tiền của ông T, nhưng không đồng ý với số tiền trên. Cụ thể: Ngày 01/5/2022 vay số tiền 200.000.000 đồng; Ngày 16/5/2022, vay số tiền 100.000.000 đồng; Ngày 24/5/2022, vay 200.000.000 đồng; Ngày 15/6/2022, vay 50.000.000 đồng, sau đó cùng ngày 15/6/2022, vay thêm số tiền 50.0000.000 đồng, tổng cộng ngày 15/6/2022 vay 100.000.000 đồng; Ngày 6/7/2022, vay 50.000.000 đồng. Tổng số tiền mà ông T1 vay của ông T là 650.000.000 đồng.
Riêng đối với số tiền 250.000.000 đồng ghi thêm vào ngày 15/7/2022, ông T1 trình bày không có vay của ông T. Chữ viết trong giấy mượn tiền không phải là chữ viết của ông T1, ông T1 không có ký nhận tiền phần ghi thêm này nên ông T1 không đồng ý trả số tiền 250.000.000 đồng ghi thêm vào ngày 15/7/2022. Ông T1 đồng ý trả cho ông T 650.000.000 đồng. Do hoàn cảnh của ông T1 hiện quá khó khăn, đề nghị Tòa án giải quyết cho ông T1 trả dần theo qui định pháp luật.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trình bày:
- Ngân hàng N (A) có người đại diện theo ủy quyền là ông Lại Ngọc T2 - Giám đốc A Chi nhánh Đ trình bày tại Văn bản số 378/ĐĐH.LA- KH.2024 ngày 22/3/2024:
- Bà Bùi Thị Cẩm L trình bày: Bà L là vợ của ông Cao Văn T1. Bà L và ông T1 mới kết hôn vào năm 2023 nên bà L không biết gì về việc ông T1 ký hợp đồng đặt cọc và vay tiền với ông T. Nay bà L xin vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.
Ngân hàng N chi nhánh Đ xác định Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hai thửa đất số 64 và 65 của ông Cao Văn T1 đang là tài sản thế chấp cho các Hợp đồng tín dụng số 6613LAV202101743 ngày 15/9/2021; 6613LAV202302350 ngày 13/10/2023 và 6613LAV202302975 ngày 19/12/2023 mà ông T1 đã ký kết với Ngân hàng. Tuy nhiên, do nợ chưa đến hạn nên Ngân hàng không có tranh chấp Hợp đồng tín dụng với ông T1 trong vụ án này và xin vắng mặt.
Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn rút yêu cầu buộc bị đơn trả số tiền 250.000.000 đồng ngày 15/7/2022, giữ nguyên các yêu cầu khởi kiện còn lại, không cung cấp thêm chứng cứ.
Bị đơn ông Cao Văn T1 không có yêu cầu phản tố nhưng có ý kiến đề nghị yêu cầu Tòa án tuyên ông Huỳnh Văn T mất số tiền cọc đã giao.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 288/2024/DS-ST ngày 29 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An đã căn cứ vào Điều 5, Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 228, Điều 244, Điều 483 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Căn cứ vào Điều 117, Điều 280, Điều 328, Điều 423, Điều 425, Điều 427, Điều 427, Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015; Áp dụng khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH.14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án;
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Huỳnh Văn T đối với ông Cao Văn T1 về việc tranh chấp “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc” đối với Giấy nhận tiền cọc ngày 14/4/2022, Hợp đồng đặt cọc ngày 30/6/2022, Hợp đồng đặt cọc ngày 14/10/2022;
- Huỷ Giấy nhận tiền cọc ngày 14/4/2022, Hợp đồng đặt cọc ngày 30/6/2022, Hợp đồng đặt cọc ngày 14/10/2022 được ký kết giữa ông Huỳnh Văn T và ông Cao Văn T1.
- Ông Cao Văn T1 có nghĩa vụ hoàn trả lại cho ông Huỳnh Văn T số tiền đã nhận cọc là 2.070.000.000 đồng (hai tỷ không trăm bảy mươi triệu đồng).
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Huỳnh Văn T đối với ông Cao Văn T1 về việc “Tranh chấp vay tài sản” theo Giấy vay tiền đề ngày 01/5/2022.
- Buộc ông Cao Văn T1 phải hoàn trả lại cho ông Huỳnh Văn T số tiền vay là 650.000.000 đồng (S trăm năm mươi triệu đồng).
- Tổng số tiền Cao Văn T1 có nghĩa vụ hoàn trả lại cho ông Huỳnh Văn T là 2.720.000.000 đồng (Hai tỷ bảy trăm hai mươi triệu đồng).
- Đình chỉ yêu cầu của nguyên đơn Huỳnh Văn T về việc buộc bị đơn trả số tiền 250.000.000 đồng ghi thêm vào ngày 15/7/2022.
- Về chi phí tố tụng: Bị đơn ông Cao Văn T1 phải chịu: Chi phí bản vẽ 21.000.000 đồng, chi phí định giá 14.000.000 đồng, chi phí thẩm định tại chổ ngày 26/3/2024 là 3.000.000 đồng. Tổng cộng 38.000.000 đồng.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí tòa án;
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) bên có nghĩa vụ chưa thi hành xong số tiền trên thì còn phải trả cho bên được thi hành án khoản tiền lãi suất theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 BLDS năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.
Buộc ông Cao Văn T1 có nghĩa vụ hoàn lại cho ông Huỳnh Văn T số tiền 38.000.000 đồng (Ba mươi tám triệu đồng).
Buộc bị đơn ông Cao Văn T1 chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu khởi kiện tranh chấp hợp đồng đặt cọc của nguyên đơn được chấp nhận là 73.400.000 đồng và ông T1 chịu án phí DSST đối với yêu cầu trả tiền mượn của ông T được chấp nhận là 15.000.000 đồng, tổng cộng ông Cao Văn T1 nộp 88.400.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Ông Cao Văn T1 chưa nộp.
Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Đức Hòa, tỉnh Long An hoàn trả cho nguyên đơn Huỳnh Văn T tiền tạm ứng án phí đã nộp là 57.800.000 đồng theo các biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006358 ngày 25/10/2023 và số 0006892 ngày 06/11/2023 tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo và hướng dẫn về quyền và nghĩa vụ thi hành án của đương sự.
Ngày 05/9/2024, ông Cao Văn T1 kháng cáo bản án sơ thẩm yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với số tiền cọc 2.070.00.000 đồng
Tại phiên tòa phúc thẩm;
Nguyên đơn không rút đơn khởi kiện, người kháng cáo không rút đơn kháng cáo, các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án, không nộp thêm tài liệu, chứng cứ gì mới và vẫn giữ nguyên ý kiến như đã trình bày ở cấp sơ thẩm.
Ông Lê Văn K trình bày: Ông T1 nhiều lần cam kết với ông T sẽ trả tiền cho Ngân hàng và thực hiện việc chuyển nhượng cho ông T nhưng không thực hiện, ông T không đồng ý tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng với ông T1, đề nghị giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.
Ông Nguyễn Hòa B trình bày: Theo nội dung thỏa thuận trong hợp đồng đặt cọc, các bên không thỏa thuận thời hạn thực hiện hợp đồng chuyển nhượng, ông T biết đất đang thế chấp cho Ngân hàng, ông T hứa sẽ đưa tiền cho ông T1 trả tiền cho Ngân hàng (nói miệng) nhưng không thực hiện, do đó ông T1 không có lỗi.
Nay bị đơn đồng ý tiếp tục thực hiện việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho nguyên đơn trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày 26/02/2025. Nếu nguyên đơn từ chối nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì mất cọc. Đề nghị chấp nhận kháng cáo của ông T1.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:
Về thủ tục tố tụng: Kháng cáo của ông Cao Văn T1 đúng quy định của pháp luật nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm. Từ khi thụ lý cho đến khi đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng pháp luật.
Qua xem xét hồ sơ vụ án và yêu cầu kháng cáo của ông Cao Văn T1, nhận thấy:
Đối với các Giấy nhận tiền cọc ngày 14/4/2022, Hợp đồng đặt cọc ngày 30/6/2022, Hợp đồng đặt cọc ngày 14/10/2022 được ký kết giữa ông Huỳnh Văn T và ông Cao Văn T1:
Các đương sự thống nhất hai bên có ký vào giấy nhận tiền cọc ngày 14/4/2022 và hai hợp đồng đặt cọc 30/6/2022 và ngày 14/10/2022, ông T1 đã nhận 2.070.000.000 đồng tiền cọc mục đích chuyển nhượng diện tích đất ngang 50m dài hết đất thuộc một phần các thửa đất số 64, 65, tổng diện tích 3.963,1m² (thửa 64 là 1.451,8m², thửa 65 5 là 2.511,3m²), loại đất lúa, cùng tờ bản đồ số 17, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An tại 02 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DD 738286 và số DD738494 do Sở Tài Nguyên và Môi Trường Tỉnh L cấp cùng ngày 21/12/2021 cho ông Cao Văn T1 đứng tên sử dụng. Như vậy, hai bên tự nguyện mua bán, ký kết các giao dịch đặt cọc này và diện tích chuyển nhượng đủ điều kiện để tách thửa theo quy định của pháp luật.
Nhưng tại thời điểm ký kết 03 hợp đồng đặt cọc này thì cả hai đều biết 02 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất số 64, 65 đang bị thế chấp để đảm bảo cho giao dịch vay tiền của ông T1 tại Ngân hàng N chi nhánh Đ.
Ông T1 cho rằng ông không vi phạm thỏa thuận đặt cọc giữa hai bên và vẫn muốn hai bên tiếp tục thực hiện theo thỏa thuận mua bán đất nhưng do ông T không thực hiện theo thỏa thuận dẫn đến việc ông không có tiền trả Ngân hàng để lấy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ra, còn số tiền cọc ông đã sử dụng vào việc riêng của gia đình và cho anh chị em mượn xoay sở nên không còn. Ông T xác định có đưa tiền cho ông T1 để lấy sổ ra và ông đã giao tiền cọc là 2.070.000.000 đồng nhưng ông T1 đã tiêu xài hết mà không trả nợ cho Ngân hàng để lấy giấy chứng nhận dẫn đến không ký được thủ tục chuyển nhượng đất cho ông T. Các bên đã thỏa thuận nhiều phương án thực hiện hợp đồng và sau khi Tòa án xét xử sơ thẩm hai bên đã lập vi bằng cắt giao đất với diện tích tương ứng số tiền cọc nhưng không thực hiện được do ông T1 chưa có phương án trả nợ cho Ngân hàng để xóa thế chấp lấy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ra, ông T1 cũng thừa nhận ông không có khả năng thanh toán.
Như vậy, thỏa thuận mua bán đất giữa ông T và ông T1 theo các hợp đồng đặt cọc không thể thực hiện được là lỗi của ông T1 nên Tòa sơ thẩm căn cứ theo qui định tại Điều 423, 425, 280, 427 BLDS, tuyên huỷ Giấy nhận tiền cọc ngày 14/4/2022, Hợp đồng đặt cọc ngày 30/6/2022, Hợp đồng đặt cọc ngày 14/10/2022 của ông T và buộc ông T1 trả lại số tiền đã nhận cọc 2.070.000.000 đồng là có căn cứ, kháng cáo của ông T1 không có cơ sở chấp nhận.
Đề nghị Hội đồng xét xử: Không chấp nhận kháng cáo của ông Cao Văn T1. Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, đề nghị giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của ông Cao Văn T1 thực hiện đúng về hình thức, nội dung và thời hạn theo quy định tại các Điều 272, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 nên vụ án được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
- Về thủ tục xét xử vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Bùi Thị Cẩm L, Ngân hàng N (A) đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt những người này.
- Về phạm vi xét xử phúc thẩm:
Bị đơn ông Cao Văn T1 kháng cáo yêu cầu Tòa án buộc ông H Văn Thơm phải mất tiền cọc 2.070.000.000 đồng. Căn cứ Điều 293 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án cấp phúc thẩm xem xét lại phần của bản án sơ thẩm có kháng cáo liên quan đến nội dung kháng cáo của đương sự.
- Xét kháng cáo của ông Cao Văn T1, thấy rằng:
- Nguyên đơn ông Huỳnh Văn T khởi kiện có cung cấp các chứng cứ “Giấy nhận tiền cọc ngày 14/4/2022, Hợp đồng đặt cọc ngày 30/6/2022, Hợp đồng đặt cọc ngày 14/10/2022”. Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị đơn ông Cao Văn T1 thống nhất có cùng ông T ký kết các giấy nhận cọc trên, thống nhất số tiền cọc ông T1 đã nhận là 2.070.000.000 đồng, mục đích là để chuyển nhượng diện tích đất ngang 50m dài hết đất thuộc một phần các thửa đất số 64, 65, cùng tờ bản đồ số 17, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An tại 02 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DD 738286 và số DD738494 do Sở Tài Nguyên và Môi Trường Tỉnh L cấp cùng ngày 21/12/2021 cho ông Cao Văn T1 đứng tên sử dụng. Đây là những tình tiết không cần phải chứng minh theo qui định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015.
- Xét yêu cầu tuyên huỷ Giấy nhận tiền cọc ngày 14/4/2022, Hợp đồng đặt cọc ngày 30/6/2022, Hợp đồng đặt cọc ngày 14/10/2022 được ký kết giữa ông Huỳnh Văn T và ông Cao Văn T1:
Đối với Giấy nhận tiền cọc ngày 14/4/2022, Hợp đồng đặt cọc ngày 30/6/2022, Hợp đồng đặt cọc ngày 14/10/2022. Ông Huỳnh Văn T và ông Cao Văn T1 đều thừa nhận có việc mua bán, ký kết các giao dịch đặt cọc theo sự thỏa thuận tự nguyện của ông T và ông T1, không ai bị ép buộc. Khi ký kết cả ông T và ông T1 đều tự nguyện, đã hiểu rõ, đầy đủ các nội dung trong giao dịch đặt cọc. Phần diện tích đất mà ông T1 sẽ chuyển nhượng cho ông T có tổng diện tích 3.963,1m² (thửa 64 là 1.451,8m², thửa 65 là 2.511,3m²), loại đất Lúa, đủ điều kiện để tách thửa theo qui định pháp luật. Như vậy, thỏa thuận đặt cọc giữa ông Huỳnh Văn T với ông Cao Văn T1 tại 03 hợp đồng đặt cọc tại thời điểm hai bên ký kết là có giá trị thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 117, Điều 328 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Tuy nhiên, tại thời điểm ký kết 03 hợp đồng đặt cọc trên, ông T1 và ông T đều biết tình trạng của 02 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DD 738286 và số DD738494 đối với 02 thửa đất số 64, 65 do Sở Tài Nguyên và Môi Trường Tỉnh L cấp cùng ngày 21/12/2021 cho ông Cao Văn T1 đang bị thế chấp để đảm bảo cho giao dịch vay tiền của ông T1 tại Ngân hàng N chi nhánh Đ.
Tại Văn bản trình bày số 378/ĐĐH.LA – KH.2024 ngày 22/3/2024, Ngân hàng N - Chi nhánh Đ cũng xác định: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hai thửa đất số 64 và 65 đang là tài sản thế chấp cho các Hợp đồng tín dụng số 6613LAV202101743 ngày 15/9/2021; 6613LAV202302350 ngày 13/10/2023 và 6613LAV202302975 ngày 19/12/2023 do ông T1 đã ký với Ngân hàng.
Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án và tại phiên tòa các bên thừa nhận từ khi ký hợp đồng đặt cọc đến khi tranh chấp ra Tòa, các bên có đưa ra nhiều phương án thỏa thuận theo hướng cắt giao đất theo các hợp đồng đặt cọc, nhưng do ông Cao Văn T1 không có phương án để trả nợ cho Ngân hàng, dẫn đến các bên không thực hiện việc ký thủ tục chuyển nhượng đất cho ông T. Như vậy, thỏa thuận đặt cọc giữa ông Huỳnh Văn T với ông Cao Văn T1 tuy có giá trị, có hiệu lực tại thời điểm ký kết nhưng sau khi ông T1 đã nhận được tiền cọc từ ông T lại không thanh toán ngay cho Ngân hàng để lấy giấy chứng nhận dẫn đến không ký được thủ tục chuyển nhượng cho ông T. Hiện nay Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Cao Văn T1 vẫn còn thế chấp tại Ngân hàng và ông T1 thừa nhận không có khả năng thanh toán, thỏa thuận mua bán đất giữa ông T và ông T1 theo các hợp đồng đặt cọc không thể thực hiện được là trách nhiệm và lỗi chính của phía ông T1. Từ đó, xét ông Huỳnh Văn T yêu cầu tuyên huỷ Giấy nhận tiền cọc ngày 14/4/2022, Hợp đồng đặt cọc ngày 30/6/2022, Hợp đồng đặt cọc ngày 14/10/2022 là có căn cứ nên HĐXX chấp nhận theo qui định tại Điều 423, 425 Bộ luật Dân sự 2015.
- Đối với yêu cầu “Buộc ông Cao Văn T1 hoàn trả lại cho ông Huỳnh Văn T ngay một lần số tiền ông T đã đặt cọc mua đất là 2.070.000.000 đồng (hai tỷ không trăm bảy mươi triệu đồng)”:
Như đã phân tích trên, thỏa thuận đặt cọc nhằm mục đích chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Huỳnh Văn T và ông Cao Văn T1 không thể thực hiện được và yêu cầu hủy giao dịch đặt cọc của nguyên đơn được chấp nhận vì lỗi của ông Cao Văn T1. Đồng thời, ông T1 thừa nhận có nhận số tiền đặt cọc của ông T là 2.070.000.000 đồng. Do ông Cao Văn T1 là bên có lỗi nên khi hủy 03 hợp đồng đặt cọc, ông T yêu cầu buộc ông T1 trả lại số tiền đã nhận cọc 2.070.000.000 đồng là có căn cứ, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận theo qui định tại Điều 280, Điều 427 Bộ luật Dân sự năm 2015 là có căn cứ.
- Đối với hợp đồng vay tài sản
Nguyên đơn yêu cầu “Buộc ông Cao Văn T1 hoàn trả lại cho ông Huỳnh Văn T ngay một lần số tiền ông T đã cho ông T1 vay là 650.000.000 đồng (sáu trăm năm mươi triệu đồng)”:
Xét Giấy vay tiền đề ngày 01/5/2022 do nguyên đơn cung cấp.
Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị đơn ông Cao Văn T1 thừa nhận có vay tiền của ông T, cụ thể: Ngày 01/5/2022 vay số tiền 200.000.000đồng; Ngày 16/5/2022, vay số tiền 100.000.000đồng; Ngày 24/5/2022, vay 200.000.000 đồng; Ngày 15/6/2022, vay 50.000.000 đồng, sau đó cùng ngày 15/6/2022, vay thêm số tiền 50.0000.000 đồng; Ngày 6/7/2022, vay 50.000.000 đồng. Tổng số tiền mà ông T1 vay của ông T là 650.000.000 đồng. Ông T1 không đồng ý đối với số tiền 250.000.000 đồng ghi ngày 15/7/2022. Ông T1 xác định chỉ mượn của ông T 650.000.000 đồng và đồng ý trả cho ông T số tiền này.
Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn Huỳnh Văn T rút yêu cầu buộc bị đơn trả số tiền 250.000.000 đồng, ông Cao Văn T1 đồng ý trả cho ông T số tiền đã vay 650.000.000 đồng, không tính lãi suất là tự nguyện nên cần ghi nhận. Do đó, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn có căn cứ nên Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận theo quy định tại Điều 466 Bộ luật Dân sự 2015 là phù hợp.
- Đối với Ngân hàng N (A) có người đại diện theo ủy quyền là ông Lại Ngọc T2 - Giám đốc A Chi nhánh Đ trình bày tại Văn bản số 378/ĐĐH.LA- KH.2024 ngày 22/3/2024 xác định không tranh chấp trong vụ án này nên không cần xem xét.
- Đối với bà Bùi Thị Cẩm L là vợ của ông Cao Văn T1. Bà L và ông T1 mới kết hôn vào năm 2023 là sau thời điểm ông T1 ký hợp đồng đặt cọc và vay tiền với ông T nên không có cơ sở xem xét trách nhiệm liên đới thanh toán nợ của bà L cho ông T.
- Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn Huỳnh Văn T rút yêu cầu buộc bị đơn trả số tiền 250.000.000 đồng ghi thêm vào ngày 15/7/2022, nên Tòa án cấp sơ thẩm đình chỉ xét xử theo khoản 2 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 là phù hợp;
- Từ những phân tích trên, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của ông Cao Văn T1.
- Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông T1 là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
- Về chi phí tố tụng ở Tòa án cấp sơ thẩm:
Buộc bị đơn Cao Văn T1 phải chịu: Chi phí bản vẽ là 21.000.000 đồng, chi phí định giá 14.000.000đồng, chi phí thẩm định tại chổ ngày 26/3/2024 là 3.000.000 đồng. Tổng cộng 38.000.000 đồng.
Nguyên đơn ông Huỳnh Văn T đã nộp tạm ứng số tiền 38.000.000 đồng và Tòa án đã chi phí xong. Ông Cao Văn T1 có nghĩa vụ hoàn lại cho ông Huỳnh Văn T số tiền 38.000.000 đồng.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH.14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án;
Buộc bị đơn ông Cao Văn T1 chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu khởi kiện tranh chấp hợp đồng đặt cọc của nguyên đơn được chấp nhận là 73.400.000 đồng và ông T1 chịu án phí DSST đối với yêu cầu trả tiền mượn của ông T được chấp nhận là 15.000.000 đồng (theo mức án phí Hòa giải thành trước khi mở phiên tòa của số tiền 650.000.000 đồng), tổng cộng ông Cao Văn T1 nộp 88.400.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo của ông Cao Văn T1 không được chấp nhận nên phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự;
Không chấp nhận kháng cáo của ông Cao Văn T1.
Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 288/2024/DS-ST ngày 29 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.
Căn cứ vào Điều 5, Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 228, Điều 244, Điều 483 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Các Điều 117, Điều 280, Điều 328, Điều 423, Điều 425, Điều 427, Điều 427, Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH.14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án;
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Huỳnh Văn T đối với ông Cao Văn T1 về việc tranh chấp “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc” đối với Giấy nhận tiền cọc ngày 14/4/2022, Hợp đồng đặt cọc ngày 30/6/2022, Hợp đồng đặt cọc ngày 14/10/2022;
- Huỷ Giấy nhận tiền cọc ngày 14/4/2022, Hợp đồng đặt cọc ngày 30/6/2022, Hợp đồng đặt cọc ngày 14/10/2022 được ký kết giữa ông Huỳnh Văn T và ông Cao Văn T1.
- Ông Cao Văn T1 có nghĩa vụ hoàn trả lại cho ông Huỳnh Văn T số tiền đã nhận cọc là 2.070.000.000 đồng (hai tỷ không trăm bảy mươi triệu đồng).
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Huỳnh Văn T đối với ông Cao Văn T1 về việc “Tranh chấp vay tài sản” theo Giấy vay tiền đề ngày 01/5/2022.
- Buộc ông Cao Văn T1 phải hoàn trả lại cho ông Huỳnh Văn T số tiền vay là 650.000.000 đồng (S trăm năm mươi triệu đồng).
- Tổng số tiền Cao Văn T1 có nghĩa vụ hoàn trả lại cho ông Huỳnh Văn T là 2.720.000.000 đồng (Hai tỷ bảy trăm hai mươi triệu đồng).
- Đình chỉ yêu cầu của nguyên đơn Huỳnh Văn T về việc buộc bị đơn trả số tiền 250.000.000 đồng ghi thêm vào ngày 15/7/2022.
- Về chi phí tố tụng:
Bị đơn ông Cao Văn T1 phải chịu: Chi phí bản vẽ 21.000.000 đồng, chi phí định giá 14.000.000 đồng, chi phí thẩm định tại chổ ngày 26/3/2024 là 3.000.000 đồng. Tổng cộng 38.000.000 đồng.
Buộc ông Cao Văn T1 có nghĩa vụ hoàn lại cho ông Huỳnh Văn T số tiền 38.000.000 đồng (Ba mươi tám triệu đồng).
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
Buộc bị đơn ông Cao Văn T1 chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu khởi kiện tranh chấp hợp đồng đặt cọc của nguyên đơn được chấp nhận là 73.400.000 đồng và ông T1 chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu trả tiền mượn của ông T được chấp nhận là 15.000.000 đồng, tổng cộng ông Cao Văn T1 nộp 88.400.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Ông Cao Văn T1 chưa nộp.
Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Đức Hòa, tỉnh Long An hoàn trả cho nguyên đơn Huỳnh Văn T tiền tạm ứng án phí đã nộp là 57.800.000 đồng theo các biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006358 ngày 25/10/2023 và số 0006892 ngày 06/11/2023 tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.
- Về án phí dân sự phúc thẩm:
Ông Cao Văn T1 phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm được khấu trừ số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên lai số 0005558 ngày 05 tháng 9 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) bên có nghĩa vụ chưa thi hành xong số tiền trên thì còn phải trả cho bên được thi hành án khoản tiền lãi suất theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 BLDS năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Mỹ Hạnh |
Bản án số 163/2025/DS-PT ngày 26/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN về tranh chấp hợp đồng đặt cọc
- Số bản án: 163/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 26/02/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tranh chấp hợp đồng đặt cọc
