Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 163/2025/DS-PT
Ngày 02-4-2025
“V/v Tranh chấp về hợp đồng
bảo hiểm nhân thọ”

NHÂN DÂN

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Chí Tâm;

Các Thẩm phán: Ông Lê Hồng Nước;

Ông Ngô Tấn Lợi;

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Vũ Đình Quang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp;

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp: Bà Nguyễn Ngọc Trang - Kiểm sát viên tham gia phiên toà.

Trong ngày 25 tháng 3 và 02 tháng 4 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 34/2025/TLPT-DS, ngày 14/01/2025 về việc “Tranh chấp về hợp đồng bảo hiểm nhân thọ”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 268/2024/DS-ST ngày 04 tháng 10 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 95/2025/QĐ-PT ngày 14/02/2025, giữa:

Nguyên đơn: Anh Đặng Thái H, sinh năm 1982.

Địa chỉ: Ấp D, xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

Người đại diện hợp pháp: Anh Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1987;

Địa chỉ: C, Tòa nhà R. Số A B, phường F, quận D, thành phố Hồ Chí Minh.

Bị đơn: Công Ty Cổ Phần B1.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Paul George N, chức vụ: Tổng giám đốc.

Người đại diện hợp pháp: Anh Ngô Quốc B - chức vụ: Chuyên viên pháp lý;

Địa chỉ: Tầng B, tòa nhà P. Số H đường H, phường T, quận G, thành phố Hồ Chí Minh.

Người kháng cáo: Công Ty Cổ Phần B1 là bị đơn trong vụ án.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Nguyên đơn anh Đặng Thái H và Người đại diện hợp pháp anh Nguyễn Ngọc T trình bày:

Vào ngày 25/7/2020, anh H và Công Ty Cổ Phần B1 (gọi tắt là Công ty B1) ký hợp đồng bảo hiểm nhân thọ số 80061043, trong đó anh H là người được bảo hiểm, gồm quyền lợi như sau: Quyền lợi bảo hiểm cơ bản là 1.000.000.000 đồng; Quyền lợi bảo hiểm tăng cường tử vong và thương tật do tại nạn là 1.500.000.000 đồng, hỗ trợ chi phí nằm viện là 400.000 đồng, bệnh hiểm nghèo là 200.000.000 đồng. Sau khi mua bảo hiểm một thời gian, tối ngày 07/8/2020 anh H gặp tai nạn phải cấp cứu và điều trị nội trú từ ngày 07/8/2020 đến ngày 13/8/2020 tại Bệnh viện Đ. Khi vào bệnh viện chuẩn đoán anh H bị rách xé nhãn cầu và thủng với sa hay mất tổ chức trong nhãn cầu. Khi xuất viện bệnh viện C anh H bị MT rách giác mạc - Đục T3 chấn thương thị lực ST âm - Phương pháp điều trị là khâu giác mạc. Hậu quả của tai nạn dẫn đến võng mạc một mắt bên trái bị rách, anh H không còn nhìn thấy ánh sáng.

Sau đó, anh H có nộp hồ sơ thông báo sự kiện bảo hiểm cho Công ty B1, đến ngày 03/09/2020, Công ty B1 có giấy giới thiệu cho anh H đến Trung tâm giám định y khoa tỉnh Đồng Tháp. Ngày 11/9/2020, Trung tâm giám định y khoa tỉnh Đ ra kết luận giám định số 83/GĐYK-TTBH, theo đó anh H bị mù mắt (T) chấn thương mắt. Đến ngày 26/10/2020, Công ty B1 có thư mời khám sức khỏe tại Trung tâm giám định y khoa thành phố H. Trung tâm giám định y khoa thành phố H ra kết luận, theo đó anh H mắt trái rách giác mạc đã khâu, đục pha lê thể nhiều, phù gai do chấn thương, thị lực mắt trái sáng tối âm tính; Mắt phải chưa phát hiện bệnh lý, thị lực 10/10; Được xác định suy giảm khả năng lao động do bệnh tật và tỉ lệ tổn thương cơ thể vĩnh viễn là 41%. Đến ngày 30/12/2020, Công ty B1 ra Thông báo kết quả giải quyết quyền lợi bảo hiểm với nội dung là từ chối chi trả quyền lợi bảo hiểm hỗ trợ chi phí nằm viện và thương tật do tai nạn, hủy bỏ toàn bộ hợp đồng bảo hiểm của anh H với các căn cứ không thuyết phục. Từ khi sự việc xảy ra thì phía Công ty B1 chỉ mới thanh toán cho anh H được số tiền là 15.230.000 đồng và nay anh Hòa đồng Ý trừ số tiền này vào số tiền yêu cầu. Sau khi khấu trừ số tiền yêu cầu còn là 737.170.000 đồng.

Nay, anh H yêu cầu Tòa án giải quyết buộc Công ty B1 thanh toán quyền lợi bảo hiểm và bồi thường cho anh H như sau: Tổng số tiền bảo hiểm phải trả thêm là 737.170.000 đồng và tiền lãi chậm phát sinh với mức lãi suất là 9%/năm, tính từ ngày 30/12/2020 đến ngày 04/10/2024 làm tròn 45 tháng, thành tiền là 737.170.000 đồng x 0,75%/tháng x 45 tháng = 248.795.000 đồng. Ngoài ra, anh H không còn trình bày hoặc yêu cầu gì khác.

- Bị đơn Công Ty Cổ Phần B1 và Người đại diện hợp pháp anh Ngô Quốc B trình bày:

Công ty B1 không thống nhất với toàn bộ lời trình bày của phía anh H. Trong quá trình ký hợp đồng với Công ty B1 thì anh H đã khai báo không trung thực, cụ thể: Thứ nhất: Anh H ký hợp đồng bảo hiểm với Công ty B1 vào ngày 25/7/2020 nhưng ngày 21/7/2020 anh H đã ký hợp đồng bảo hiểm với Công ty D nhưng trong Đơn yêu cầu thì anh H không khai báo việc này mà chọn mục không có mua bảo hiểm ở công ty khác: Thứ hai: Ngày 20/11/2019 anh H đã từng đi

khám bệnh tại Bệnh viện X, bệnh viện đã chuẩn đoán anh H bị viêm dạ dày, tá tràng và ngày 21/7/2020 anh H đã đi khám tại Bệnh viện T2, bệnh viện đã kết luận anh H bị chấn thương ở vùng đầu nhưng anh H cũng không khai việc này vào mục thông tin thẩm định sức khỏe mục E trong Đơn yêu cầu bảo hiểm, việc này đã vi phạm nghĩa vụ kê khai thông tin tại Điều 5 của hợp đồng mà hai bên đã ký kết. Sau khi nhận được yêu cầu thanh toán quyền lợi bảo hiểm của anh H thì Công ty B1 đã xác minh và phát hiện được 02 nguyên nhân kể trên nên Công ty B1 đã ra thông báo từ chối chi trả quyền lợi bảo hiểm cho anh H và đã hủy bỏ hợp đồng bảo hiểm với anh H. Phía Công ty B1 cũng đã thanh toán đầy đủ khoản tiền theo quy định của pháp luật cho anh H với tổng số tiền là 15.230.000 đồng.

Nay, Công ty B1 không đồng ý theo toàn bộ yêu cầu của anh H, vì những lý do đã trình bày phần trên. Ngoài ra, Công ty B1 không còn trình bày hoặc yêu cầu gì khác.

Bản án dân sự sơ thẩm số 268/2024/DS-ST ngày 04 tháng 10 năm 2024
của Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp quyết định:

Căn cứ Điều 75, Điều 87, Điều 357, Điều 398, Điều 401, Điều 402, Điều 468 của Bộ luật dân sự; Điều 3, Điều 12, Điều 15, Điều 16, Điều 17, Điều 18, Điều 19, Điều 21, Điều 30, Điều 31, Điều 32 của Luật kinh doanh bảo hiểm; Khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 40, khoản 1 Điều 147, Điều 235, Điều 264, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Án lệ số 22/2018/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 17/10/2018; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Đặng Thái H.

- Buộc Công Ty Cổ Phần B1 phải trả quyền lợi bảo hiểm cho anh Đặng Thái H với số tiền là 737.170.000 đồng và tiền lãi do chậm chi trả là 248.795.000 đồng, tổng cộng là 985.965.000 đồng.

- Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (Đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (Đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án), bên phải thi hành án chưa thi hành xong thì hàng tháng còn phải chịu lãi bằng 50% mức lãi suất theo quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án đến khi thi hành án xong.

2. Về án phí:

- Anh H không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả lại cho anh H 21.121.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự đã nộp theo biên lai số 0000911, ngày 17/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp.

- Công ty B1 phải chịu 41.579.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Ngoài ra bản án còn tuyên quyền kháng cáo và quyền yêu cầu thi hành án của các đương sự. Sau khi xét xử vụ án, Công Ty Cổ Phần B1 kháng cáo yêu cầu

hủy bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm có thẩm quyền giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật để giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm có mặt anh T, anh B. Các đương sự khẳng định đã cung cấp đầy đủ chứng cứ cho Tòa án giải quyết vụ án. Công ty B1 không cung cấp thêm chứng cứ chứng minh yêu cầu kháng cáo của mình.

Công ty B1 do anh B đại diện trình bày: Công ty B1 thay đổi yêu cầu kháng cáo, không đề nghị hủy bản án sơ thẩm vì vi phạm thẩm quyền mà yêu cầu sửa bán ản sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh H. Vì khi ký kết hợp đồng với Công ty thì anh H đã không trung thực trong phần khai báo tình trạng sức khỏe và việc ký kết với bảo hiểm Công ty khác nên Công ty Á Điều 5 mục 5.2 của bảng quy tắc và điều khoản sản phẩm để hủy hợp đồng từ chối bảo hiểm theo hợp đồng cho anh H.

Đối với số tiền bảo hiểm, đã được tuyên xác định thì công ty không có ý kiến phản đối, nhưng tiền lãi đề nghị áp dụng là 4%/tháng. Đối với trường hợp bị tật mắt vĩnh viễn của anh H chưa được xem là tai nạn xảy ra vì chưa có biên bản của cơ quan nhà nước xác định có tai nạn xảy ra mà có thể do bị bệnh lý trước đó nên không áp dụng đề mục 14.2 loại trừ đối với các trường hợp thương tật toàn bộ và vĩnh viễn để áp dụng không chi trả bảo hiểm cho anh H.

Anh T1 trình bày: Anh không đồng ý theo yêu cầu của Công ty B1, đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm. Theo văn bản trình bày ý kiến đã cung cấp về hợp đồng bảo hiểm công ty không giới thiệu rõ yêu cầu về việc kê khai sức khỏe và việc mua bảo hiểm công ty khác. Do anh H tham dự hội nghị khách hàng của nhiều công ty bảo hiểm cùng một thời điểm nên không biết có được việc ký kết hợp đồng của công ty nào, cũng không yêu cầu chỉ được ký kết hợp đồng với 01 công ty. Tất cả các mục kê khai đều do nhân viên Công ty bảo hiểm thực hiện ghi chú, anh H chỉ có ký tên. Anh H không được tư vấn cụ thể về hợp đồng sau khi xảy ra tai nạn phải làm thủ tục gì, phía công ty cũng không phản đối sự việc tai nạn, chỉ yêu cầu anh H điều trị và giám định thương tật để đền bù nhưng sau đó không thực hiện nên xảy ra tranh chấp. Nay xác định anh H bị tai nạn thương tất mắt vĩnh viễn, anh H cũng đã cung cấp thêm chứng cứ khẳng định có sự việc xảy ra tai nạn cho anh H nên đề nghị Công ty thực hiện đền bù cho anh H. Về đề nghị sửa lãi suất là không có căn cứ nên đề nghị không chấp nhận giá của Công ty đưa ra.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử đúng theo quy định của pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng có mặt thực hiện đúng theo quy định về quyền và nghĩa vụ đương sự. Về nội dung giải quyết vụ án đề nghị không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Công Ty Cổ Phần B1, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được kiểm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng: Các đương sự thống nhất không có khiếu nại gì về thành phần những người tham gia tố tụng, không có yêu cầu gì khác.

[2] Về nội dung vụ án tranh chấp các đương sự. Vào ngày 25/7/2020, anh H với Công ty B1 ký hợp đồng bảo hiểm nhân thọ số 80061043, theo đó anh H là người được bảo hiểm, gồm quyền lợi như sau: Quyền lợi bảo hiểm cơ bản là 1.000.000.000 đồng; Quyền lợi bảo hiểm tăng cường tử vong và thương tật do tại nạn là 1.500.000.000 đồng, hỗ trợ chi phí nằm viện là 400.000 đồng, bệnh hiểm nghèo là 200.000.000 đồng; Thời hạn được bảo hiểm là 61 năm kể từ ngày 25/7/2020 đến ngày 25/7/2081, định kỳ đóng phí hàng năm; Tổng phí đóng bảo hiểm định kỳ là 33.011.000 đồng. Việc tham gia ký kết hợp đồng giữa các bên đều trên tinh thần tự nguyện. Sau khi ký hợp đồng thì bên mua bảo hiểm anh H đã thực hiện theo đúng các thỏa thuận đã ký kết. Đồng thời, trong khoảng thời gian hợp đồng bảo hiểm đang còn hiệu lực thì ngày ngày 07/8/2020 anh H gặp tai nạn phải cấp cứu và điều trị nội trú từ ngày 07/8/2020 đến ngày 13/8/2020 tại Bệnh viện Đ. Hậu quả của tai nạn dẫn đến võng mạc một mắt bên trái bị rách, anh H không còn nhìn thấy ánh sáng. Ngày 11/9/2020, Trung tâm giám định y khoa tỉnh Đ ra kết luận giám định số 83/GĐYK-TTBH, theo đó anh H bị mù mắt (T) chấn thương mắt. Đến ngày 26/10/2020, Công ty B1 có thư mời khám sức khỏe tại Trung tâm giám định y khoa thành phố H. Trung tâm giám định y khoa thành phố H ra kết luận, theo đó anh H mắt trái rách giác mạc đã khâu, đục pha lê thể nhiều, phù gai do chấn thương, thị lực mắt trái sáng tối âm tính; Mắt phải chưa phát hiện bệnh lý, thị lực 10/10; Được xác định suy giảm khả năng lao động do bệnh tật và tỉ lệ tổn thương cơ thể vĩnh viễn là 41%. Nay anh H khởi kiện yêu cầu được thực hiện quyền lợi hợp đồng bảo hiểm đối với Công ty B1.

Tòa án cấp sơ thẩm qua thu thập chứng cứ và diễn biến phiên tòa nhận định: Xét thấy, anh H là người được bảo hiểm và cũng là bên mua bảo hiểm nên có quyền yêu cầu Công ty B1 chi trả quyền lợi cho người được bảo hiểm bị thương tật theo hợp đồng bảo hiểm mà hai bên đã ký kết.

Công ty B1 cho rằng anh H đã khai báo không trung thực nên Công ty B1 đã ra Thông báo từ chối chi trả quyền lợi bảo hiểm cho anh H và đã hủy hợp đồng bảo hiểm với anh H. Xét thấy, lời trình bày của Công ty B1 là không có cơ sở, vì:

+ Thứ nhất: Theo quy định tại khoản 1.10 Điều 1 của Bản quy tắc và điều khoản sản phẩm bảo hiểm liên kết chung của hợp đồng thì đơn yêu cầu bảo hiểm là 01 phần không thể tách rời của hợp đồng bảo hiểm và được soạn thảo theo mẫu của Công ty B1, toàn bộ nội dung và hình thức của đơn đều do Công ty B1 ban hành để người yêu cầu bảo hiểm điền vào. Tại mục 1 phần D (Thông tin các hợp đồng liên quan) của đơn yêu cầu có ghi: “1. Hiện nay, ông/bà có đang được bảo hiểm hoặc đang yêu cầu bảo hiểm ở các công ty B1, kể cả Công ty CP B1 không? Nếu có, vui lòng liệt kê các hợp đồng bảo hiểm”. Phía Công ty B1 cho rằng anh H đã tự đánh dấu x vào cột không, có nghĩa là không có mua bảo hiểm ở Công ty nào khác, về việc này thì anh H không thừa nhận, anh H trình bày khi ký hợp đồng bảo hiểm anh chỉ có ký tên và ghi họ, tên còn tất cả các phần còn lại đều do nhân viên bảo hiểm làm thay cho anh H. Người đại diện theo ủy quyền của Công

ty B1 cam kết sẽ mời nhân viên đã tư vấn bảo hiểm cho anh H tham gia phiên tòa để đối chất làm rõ vấn đề này nhưng đến nay phía Công ty B1 vẫn không thực hiện việc này, chứng tỏ Công ty B1 mặc nhiên thừa nhận lời trình bày trên của anh H là đúng. Phía Công ty B1 không đưa ra được bất kỳ chứng cứ nào để chứng minh cho lời trình bày của mình. Đồng thời, theo quy định tại khoản 1, 2 Điều 405 của Bộ luật dân sự quy định:

“1. Hợp đồng theo mẫu là hợp đồng gồm những điều khoản do một bên đưa ra theo mẫu để bên kia trả lời trong một thời gian hợp lý; nếu bên được đề nghị trả lời chấp nhận thì coi như chấp nhận toàn bộ nội dung hợp đồng theo mẫu mà bên đề nghị đã đưa ra.

2. Trường hợp hợp đồng theo mẫu có điều khoản không rõ ràng thì bên đưa ra hợp đồng theo mẫu phải chịu bất lợi khi giải thích điều khoản đó”.

Như vậy, theo quy định trên thì trong trường hợp các bên có sự giải thích khác nhau không rõ ràng khó hiểu thì điều khoản này phải được giải thích theo hướng có lợi cho anh H. Do đó, việc Công ty B1 cho rằng anh H tham gia bảo hiểm ở Công ty B1 khác vào thời điểm trước khi nộp hồ sơ tham gia bảo hiểm tại Công ty B1 nhưng không kê khai đầy đủ là không có có sở.

+ Thứ hai: Tại mục 8 phần E (Thông tin thẩm định và sức khỏe) của đơn yêu cầu có ghi: “8. Trong 5 năm vừa qua, ông/bà có đi khám hay từng điều trị nội trú hoặc ngoại trú tại bệnh viện, trung tâm y tế hay đã làm các xét nghiệm như X-quang, chụp CT, cộng hưởng từ, siêu âm, điện tim, sinh thiết, xét nghiệm máu, nước tiểu hay bất kỳ xét nghiệm nào khác hay không”. Phía Công ty B1 cho rằng anh H đã tự đánh dấu x vào cột không, về việc này thì anh H không thừa nhận, anh H trình bày khi ký hợp đồng bảo hiểm anh chỉ có ký tên và ghi họ, tên còn tất cả các phần còn lại đều do nhân viên bảo hiểm làm thay cho anh H. Người đại diện theo ủy quyền của Công ty B1 cam kết sẽ mời nhân viên đã tư vấn bảo hiểm cho anh H tham gia để đối chất làm rõ vấn đề này nhưng đến nay phía Công ty B1 vẫn không thực hiện việc này, chứng tỏ Công ty B1 mặc nhiên thừa nhận lời trình bày trên của anh H là đúng. Tại phiên tòa sơ thẩm, phía Công ty B1 không đưa ra được bất kỳ chứng cứ nào để chứng minh cho lời trình bày của mình.

Đồng thời, như phân tích ở phần trên trong trường hợp các bên có sự giải thích khác nhau không rõ ràng khó hiểu thì điều khoản này phải được giải thích theo hướng có lợi cho anh H.

Mặc khác, theo nội dung Án lệ số 22/2018/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 17/10/2018. Do đó, việc Công ty B1 cho rằng anh H đã từng đi khám bệnh tại Bệnh viện T2 và Bệnh viện X vào thời điểm trước khi nộp hồ sơ tham gia bảo hiểm tại Công ty B1 nhưng không kê khai đầy đủ là không có có sở. Như vậy, chưa có đủ cơ sở xác định anh H có gian dối khi ký hợp đồng bảo hiểm làm ảnh hưởng trực tiếp đến việc Công ty B1 có xem xét để ký hợp đồng bảo hiểm với anh H hay không.

- Căn cứ khoản 3.1 Điều 3 Điều khoản của quyền lợi bảo hiểm tăng cường tử vong và thương tật do tai nạn có ghi: “Trong thời gian hiệu lực của quyền lợi bảo hiểm tăng cường tử vong/thương tật do tai nạn nếu người được bảo hiểm bị thương tật do tai nạn, Công ty sẽ chi trả tỷ lệ phần trăm của số tiền bảo hiểm theo

Phụ lục 1”. Đối chiếu số thứ tự 4 của Phụ lục 1 (Danh sách thương tật và tỷ lệ chi trả) quy định trường hợp anh H bị mất một mắt thì tỷ lệ chi trả là 50%. Căn cứ giấy chứng nhận bảo hiểm số 80061043 ngày 25/7/2020 thì số tiền bảo hiểm quyền lợi tăng cường là 1.500.000.000 đồng và hỗ trợ chi phí nằm viện là 400.000đồng/ngày. Do đó, nay anh H yêu cầu Công ty B1 chi trả quyền lợi thương tật với số tiền là 750.000.000 đồng và tiền hỗ trợ chi phí nằm viện 06 ngày là 2.400.000 đồng là có căn cứ nên chấp nhận. Đồng thời, anh H thừa nhận có nhận từ Công ty B1 giá trị hoàn lại của hợp đồng bảo hiểm với số tiền 15.230.000 đồng nên anh Hòa đồng Ý trừ số tiền này vào số tiền quyền lợi bảo hiểm mà anh H được hưởng, cụ thể: 752.400.000 đồng - 15.230.000 đồng = 737.170.000 đồng.

- Về tiền lãi chậm trả quyền lợi bảo hiểm thì theo Điều 35 Bản quy tắc và điều khoản sản phẩm bảo hiểm liên kết chung của hợp đồng bảo hiểm quy định: “Công ty có trách nhiệm xem xét giải quyết hồ sơ yêu cầu giải quyết quyền lợi bảo hiểm trong thời hạn 30 ngày từ khi nhận được hồ sơ yêu câu giải quyết quyền lợi bảo hiểm đầy đủ và hợp lệ theo quy định tại Điều 34.1 ... Nếu quá thời hạn trên, đối với các hồ sơ chấp nhận chi trả, khi thanh toán Công ty sẽ chi thêm lãi của số tiền này theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng N1 công bố tại thời điểm chi trả”. Theo quyết định số 2868/QĐ-NHNN của Ngân hàng N1 thì mức lãi suất cơ bản là 9%/năm, tương đương 0,75%/tháng. Nay, anh H yêu cầu mức lãi suất 0,75%/tháng đối chiếu với quy định trên là phù hợp. Đồng thời, thời gian chậm trả được tính từ ngày 30/12/2020 (Ngày Công ty B1 ra thông báo từ chối chi trả bảo hiểm cho anh H) đến ngày 04/10/2024 là 45 tháng 4 ngày nhưng anh H chỉ yêu cầu tròn 45 tháng. Như vậy, số tiền lãi mà Công ty B1 phải trả cho anh H cụ thể: 737.170.000 đồng x 0,75%/tháng x 45 tháng = 248.795.000 đồng.

Từ những phân tích trên, nên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh H; Đồng thời căn cứ vào đây để quyết định các đương sự phải chịu án phí tố tụng dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật. Ngoài ra bản án còn tuyên quyền kháng cáo và quyền yêu cầu thi hành án của các đương sự.

Sau khi xét xử vụ án Công ty B1 kháng cáo bản án dân sự sơ thẩm, tại phiên tòa phúc thẩm yêu cầu xem xét giải quyết là sửa bản án sơ thẩm chấp nhận trình bày yêu cầu của Công ty không có nghĩa vụ đền bù bảo hiểm cho anh H, hủy hợp đồng bảo hiểm giữa hai bên, trả cho anh H số tiền là 15.230.000 đồng.

Công ty B1 không cung cấp thêm chứng cứ gì mới. Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy các đương sự thống nhất là khi anh H ký kết hợp đồng với Công ty B1 thì chỉ tham gia vào một buổi hội thảo giới thiệu sản phẩm. Phía Công ty B1 cho rằng anh H có thể hiểu hết điều khoản và trách nhiệm ràng buộc theo hợp đồng là không thể thực hiện. Ngày anh H đã xảy ra tai nạn, phía Công ty không có ý kiến phản đối sự việc xảy ra. Đến nay anh H cũng đã cung cấp bổ sung thêm xác nhận sự việc là do té xe, có vật gây tác động vào mặt, sự việc xảy ra là bất khả kháng của anh H.

Về số tiền anh H yêu cầu được đền bù thì Công ty không có ý kiến về số tiền thực hiện đền bù. Xét số tiền ký kết thực hiện nghĩa vụ đền bù của Công ty là dựa

vào sản phẩm bảo hiểm anh H ký kết và số tiền anh H phải đóng tiền cho Công ty B1 để mua bảo hiểm, không phụ thuộc vào anh H có mua bảo hiểm công ty khác.

Các ý kiến của Công ty B1 nêu ra yêu cầu hủy hợp đồng với anh H là không đúng với mục 14.2 các đề mục hủy hợp đồng ký kết của hai bên và các điều khoản không rõ ràng về Điều 5 của hủy hợp đồng.

Về lãi suất Công ty B1 xin điều chỉnh số tiền áp dụng là 4%/tháng nhưng không đưa ra căn cứ quy định pháp luật để áp dụng theo đề nghị của Công ty B1 do đó không có căn cứ chấp nhận.

Do Công ty B1 kháng cáo nhưng không có gì chứng minh cho yêu cầu của mình nên không chấp nhận yêu cầu kháng cáo là đúng theo quy định pháp luật.

Tuy nhiên cần ghi điều chỉnh lại cách tuyên án về lãi suất chậm thi hành án đúng theo hướng dẫn của quy định pháp luật để đảm bảo thuận tiện cho việc thi hành án.

[7] Đại diện Viện kiểm sát đề nghị không chấp nhận kháng cáo của Công ty B1; giữ nguyên bản án sơ thẩm là phù hợp, đúng quy định pháp luật nên chấp nhận. Hội đồng xét xử phúc thẩm quyết định giữ nguyên bản án sơ thẩm. Các phần còn lại của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[8] Về chi phí, án phí dân sự phúc thẩm: Do giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm nên Công ty B1 phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 308, Điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

- Không chấp nhận kháng cáo của Công ty Cổ Phần B1.

- Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Đặng Thái H.

- Buộc Công Ty Cổ Phần B1 phải trả quyền lợi bảo hiểm cho anh Đặng Thái H với số tiền là 737.170.000 đồng và tiền lãi do chậm chi trả là 248.795.000 đồng, tổng cộng là 985.965.000 đồng.

- Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Anh H không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả lại cho anh H 21.121.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự đã nộp theo biên lai số 0000911, ngày 17/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp.

- Công Ty Cổ Phần B1 phải chịu 41.579.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

3. Về án phí dân sự phúc thẩm:

Công Ty Cổ Phần B1 phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự phúc thẩm nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí dân sự đã nộp theo biên lai số 0011417, ngày 30/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Đồng Tháp;
  • - Phòng TT, KTNV và THA;
  • - TAND huyện Tháp Mười;
  • - Chi cục THADS huyện Tháp Mười;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: VT, HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đinh Chí Tâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 163/2025/DS-PT ngày 02/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp về hợp đồng bảo hiểm nhân thọ

  • Số bản án: 163/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về hợp đồng bảo hiểm nhân thọ
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 02/04/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: NĐ: Đặng Thái H BĐ: Công ty PH
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger