|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO TỈNH TIỀN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 163/2024/HSST Ngày: 27-11-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bảnh.
Các Hội thẩm nhân dân.
Bà Lê Thị Bé Bảy
Ông Nguyễn Kim Huy Bằng
- Thư ký phiên toà: Ông Trần Minh Cường, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho tham gia phiên tòa: Bà Lê Phương Trinh - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 11 năm 2024 tại Trụ sở Toà án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 161/2024/HSST ngày 24 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 162/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Tuấn K, sinh năm 1979 tại tỉnh Tiền Giang; tên gọi khác: Không có. Số CMND: [...]. Nơi đăng ký thường trú: số B L, Phường E, thành phố M, tỉnh Tiền Giang; Nơi ở hiện tại: Không có nơi ở cố định; Nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Cha: Nguyễn Văn S (đã chết); Mẹ: Phan Thị Ngọc S1 (đã chết); Có vợ tên Lâm Như Ngọc T (đã ly hôn năm 2018) và có 02 người con (sinh năm 2005 và 2015)
Tiền án, Tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ ngày 15/8/2024, tạm giam ngày 18/8/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố M. Có mặt tại phiên tòa.
*Người bị hại: Nguyễn Thị Thùy T1, sinh năm: 1998. Vắng mặt
Địa chỉ: số A N, Phường E, thành phố M, Tiền Giang.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1/ Lâm Văn G, sinh năm 1985. Vắng mặt
Địa chỉ: số B khu phố C, Phường A, thị xã C, tỉnh Tiền Giang
2/ Lâm Thị Mộng T2, sinh năm 1983. Có mặt
Địa chỉ: số 87/3 Hồ Hải Nghĩa, khu phố 1, Phường 1, thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.
Chỗ ở: ấp Bình Tạo A, xã Trung An, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 14/8/2024, Nguyễn Tuấn K điều khiển xe mô tô Wave Alpha màu xanh biển số 63B2-847.92 lưu thông trên đường H hướng từ đường L đi đường Á. Khi đi ngang nhà số F H, Phường E, thành phố M, tỉnh Tiền Giang thì K nhìn thấy xe mô tô biển số 63C1-227.41 của chị Nguyễn Thị Thùy T1 đang đậu cặp lề đường phía trước nhà không người trông coi, trên baga phía trước bên trái có treo một túi xách bằng nhựa màu trắng trong suốt, có viền và quai túi màu đen nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. K liền dừng lại rồi quay đầu xe, đi bộ đến lấy trộm túi xách rồi lên xe tẩu thoát. Sau đó, K dừng xe lại ở khu đất trống ven đường tại khu phố C, Phường E kiểm tra bên trong túi xách có 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 màu vàng có ốp lưng bằng nhựa màu trắng cùng 01 ví tiền bằng nhựa màu hồng có 11.000.000 đồng tiền Việt Nam (22 tờ mệnh giá 500.000 đồng) và các giấy tờ tùy thân. K lấy hết tiền và điện thoại di động đem về phòng trọ tại Phường E cất giấu, còn túi xách, ví tiền cùng các giấy tờ K ném bỏ vào khu đất trống ven đường. Đến ngày 15/8/2024 K bị lực lượng Công an phát hiện bắt giữ và giao nộp tài sản.
Bản kết luận định giá tài sản số 3732/BKL-HĐĐGTS ngày 17/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản thành phố M kết luận: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 màu vàng, số máy MWLH2LL/A trị giá 7.800.000 đồng; 01 túi xách bằng nhựa màu trắng trong suốt, có viền và quai màu đen, 01 ví đựng tiền bằng nhựa màu hồng và 01 ốp lưng điện thoại bằng nhựa có tổng giá trị 270.000 đồng.
Tại bản cáo trạng số 152/CT-VKSMT ngày 23/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang đã truy tố Nguyễn Tuấn K để xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự (BLHS).
*Tại phiên tòa:
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố M trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố của Viện kiểm sát đối với bị cáo Nguyễn Tuấn K về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự; Phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội cùng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo, đã đề nghị Hội đồng xét xử:
+Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tuấn K phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
+Về hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, 50 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.
+Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét
+Về xử lý vật chứng: đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 mũ bảo hiểm màu đen, 01 quần vải màu đen, 01 áo thun màu đen, 01 đôi dép có quai màu nâu. Trả lại cho chị Lâm Thị Mộng T2 01 chiếc xe mô tô biển số 63B2-847.92.
-Bị cáo Nguyễn Tuấn K đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo như Cáo trạng đã nêu, bị cáo không bào chữa cho hành vi phạm tội. Nói lời sau cùng, bị cáo xin lỗi bị hại về hành vi của mình, cám ơn bị hại đã có ý kiến xin giảm nhẹ cho bị cáo, bị cáo lần đầu phạm tội nên xin hứa sẽ không vi phạm pháp luật nữa, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để sớm được về làm người công dân tốt.
-Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lâm Thị Mộng T2 vẫn giữ ý kiến đã trình bày trong quá trình điều tra, chị xác định chiếc xe mô tô biển số 63B2-847.92 là của em ruột tên Lâm Văn G đã bán cho chị nhưng chị chưa làm thủ tục sang tên, chị và bị cáo sử dụng chung chiếc xe này, bị cáo lấy đi và sau đó thực hiện hành vi trộm cắp tài sản thì chị không biết do đang ở quê nên chị yêu cầu được nhận lại xe.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Tuấn K đã khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo đúng như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác mà Cơ quan điều tra thu thập được, đã được Hội đồng xét xử thẩm tra tại phiên tòa, có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử kết luận: Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 14/8/2024 tại trước nhà số F H, Phường E, thành phố M, tỉnh Tiền Giang, bị cáo Nguyễn Tuấn K có hành vi lén lút trộm cắp 01 túi xách bằng nhựa màu trắng trong suốt bên trong có 01 ví đựng tiền, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 màu vàng, 01 ốp lưng điện thoại bằng nhựa màu trắng và số tiền 11.000.000 đồng, tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 19.070.000 đồng
Do đó, có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Nguyễn Tuấn K phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự như kết luận của Kiểm sát viên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[2] Xét thấy, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm hại đến tài sản của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự và an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật sẽ bị trừng trị nghiêm khắc nhưng chỉ vì có ý thức chiếm đoạt tài sản của người khác để phục vụ nhu cầu cá nhân nên bị cáo bất chấp pháp luật, cố ý thực hiện tội phạm. Vì vậy cần áp dụng mức hình phạt nghiêm đối với bị cáo mới đủ sức răn đe và giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt.
Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cũng cân nhắc bị hại có một phần lỗi; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.
[3] Về trách nhiệm dân sự:
Bị hại Nguyễn Thị Thùy T1 đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu bồi thường gì nên cần ghi nhận.
[4] Về xử lý vật chứng
Cơ quan điều tra đã xử lý trả cho bị hại số tiền 11.000.000 đồng, điện thọai di động Iphone 11 màu vàng cùng ốp lưng điện thoại, túi xách, ví đựng tiền cùng các giấy tờ cá nhân là đúng quy định.
Đối với xe mô tô biển số 63B2-847.92 mà bị cáo K sử dụng là của anh Lâm Văn G đứng tên sở hữu. Xe này anh G đã bán lại cho chị ruột là Lâm Thị Mộng T2 nhưng chưa làm thủ tục sang tên. Hiện chị T2 đang chung sống cùng K, khi K lấy xe đi sau đó trộm cắp tài sản thì chị T2 không biết, chị có yêu cầu nhận lại xe, vì vậy cần trả xe cho chị T2.
Đối với 01 mũ bảo hiểm màu đen; 01 quần vải màu đen; 01 áo thun màu đen;01 đôi dép có quai màu nâu. Đây là các tài sản cá nhân bị cáo sử dụng vào ngày thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo không có yêu cầu nhận lại nên cần tịch thu tiêu hủy.
[5] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục tố tụng theo quy định. Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng nên các hành vi, quyết định đã thực hiện đều hợp pháp.
[6] Lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử có xem xét khi nghị án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tuấn K phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
1. Về hình phạt:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điều 50, Điều 38; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn K: 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 15/8/2024.
2. Về trách nhiệm dân sự:
Ghi nhận chị Nguyễn Thị Thùy T1 đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường gì thêm.
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
-Tịch thu tiêu hủy: 01 Mũ bảo hiểm màu đen, loại thể thao có 03 sọc đen; 01 Quần vải màu đen, loại quần short; 01 Áo thun màu đen, sau lưng có chữ “STAFF”; 01 Đôi dép có quai màu nâu, đế dép màu đen có chữ “PVS”.
-Trả lại cho chị Lâm Thị Mộng T2: 01 Chiếc xe mô tô hiệu Honda, loại xe Wave Alpha, màu xanh-đen-bạc, có gắn biển số: 63B2-847.92. Tình trạng khi tiếp nhận: xe không nổ máy, không kính chiếu hậu bên phải, không kiểm tra được bên trong cũng như chất lượng xe máy; có số máy: JA39E-2268392, số khung không rõ.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 20/11/2024.)
4. Về án phí: Căn cứ Điều 135, 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo K, chị Mộng T2 có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại và anh G vắng mặt thì có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt hoặc niêm yết bản án.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Bảnh |
Bản án số 163/2024/HSST ngày 27/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 163/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp TS
