TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA Bản án số: 163/2024/HS-PT Ngày 24 - 10 - 2025 | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Nguyệt
Các Thẩm phán: Bà Lê Thu Hương
Ông Phạm Trường Du - Thư ký phiên
toà: Ông Nghiêm Xuân Đạt -Thư ký TAND tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa:
Ông Lê Công Chung – Kiểm sát viên
Ngày 24 tháng 10 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 218/2025/TLPT-HS ngày 02 tháng 10 năm 2025 đối với bị cáo Bùi Văn T do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 08/2025/HSST ngày 28 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Thanh Hoá.
- Bị cáo kháng cáo: Bùi Văn T, sinh ngày 01/5/1977, tại xã V, tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: Thôn B, xã V, tỉnh Thanh Hóa; căn cước công dân số: [...]; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: 3/12; dân tộc: kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn V (đã chết) và bà Trần Thị V1; Vợ đầu là Hoàng Thị X (đã ly hôn), vợ thứ hai Võ Lệ Q (đã ly hôn); có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2001, con nhỏ nhất sinh năm 2017.
Nhân thân: Tại Bản án sơ thẩm số: 39/HSST ngày 26/01/2005, Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội xử phạt 07 (bảy) năm tù về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”, đến ngày 07/02/2010 chấp hành xong hình phạt tù.Tiền án: không, tiền sự: không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 14/5/2025 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh T; Bị cáo có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21 giờ ngày 11/5/2025, Tổ công tác thuộc Phòng CSĐT tội phạm về ma túy Công an tỉnh T phối hợp với Công an xã M, tỉnh Thanh Hóa thực hiện chức năng quản lý người nghiện, người sử dụng trái phép chất ma túy trên địa bàn xã M, đã tiền hành test nhanh ma túy trong nước tiểu đối với Trình Văn M. Kết quả: Dương tính với M1. Mão khai nhận bản thân vừa cùng với Nguyễn Văn T1 và
Đặng Văn D sử dụng trái phép chất ma túy tại nhà của D tại thôn M, xã V, tỉnh Thanh Hóa. Tiếp tục tiến hành test nhanh ma túy đối với Nguyễn Văn T1 và Đặng Văn D, kết quả cả T1 và D đều dương tính với M1. Đồng thời, thu mẫu nước tiểu của T1, D và M để phục vụ công tác giám định. Nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nên M, D và T1 đã xin đầu thú, giao nộp các vật chứng liên quan đến vụ án và khai nhận hành vi phạm tội của mình.
Cơ quan CSĐT Công an tỉnh T đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Đặng Văn D, thu giữ: 01 (một) bật lửa màu hồng, đã qua sử dụng; 01 (một) kéo kim loại có phần cán bằng nhựa màu đen, đã qua sử dụng.
Quá trình điều tra xác định được như sau: Khoảng 19 giờ ngày 11/5/2025, D đang ở nhà của T1 (em vợ của D), do có nhu cầu sử dụng ma túy đá nên D rủ T1 đi mua về sử dụng, T1 đồng ý. D đưa cho T1 tờ 500.000đ để đi đồ xăng xe mô tô và mua ma túy về sử dụng. T1 cầm tiền rồi điều khiển xe mô tô nhãn hiệu SYM, màu xanh, BKS: 36F1-243.73 của D đi khỏi nhà. Trên đường đi, T1 gọi điện thoại rủ M góp tiền mua ma túy đá về cùng nhau sử dụng, M đồng ý góp 200.000đ. T1 điều khiển xe đến nhà đón M. Sau đó, T1 chở M đi đổ xăng xe cho D hết 80.000đ, mua thuốc lá, thẻ điện thoại hết 120.000đ. Do M không có tiền mặt nên T1 đã chở M đến cửa hàng điện thoại B của anh Vũ Văn S, sinh năm: 1978, trú tại thôn T, xã V, tỉnh Thanh Hóa để chuyển tiền. Đến nơi, T1 đưa cho anh S số tiền 300.000đ để nhờ anh S chuyển vào số tài khoản 108110619999 thuộc ngân hàng M2 của M. Sau khi nhờ chuyển thành công số tiền 300.000 đồng cùng với 200.000 đồng có sẵn trong tài khoản của M, T1 liên hệ với Bùi Văn T, sinh năm: 1977, trú tại thôn B, xã V, tỉnh Thanh Hóa để hỏi mua ma túy và chuyển 500.000đ từ tài khoản của Mão vào số tài khoản 100877855636 thuộc ngân hàng V2 của T. Nhận được tiền, T lấy một đoạn ống hút nhựa có chứa ma túy, đem đến khu vực đường đê, bên cạnh nhà làm cơ khí thuộc địa phận thôn B, xã V, tỉnh Thanh Hóa và bỏ vào trong một ống nhựa gần đó rồi gọi điện thoại cho T1 hướng dẫn đến vị trí T vừa cất giấu ma túy để lấy. Sau khi lấy được đoạn ống hút chứa ma túy đá, T1 đưa cho M cầm rồi chở M về nhà của D. Về đến nhà D, thấy khóa cửa nên T1 để M ở lại đợi, còn T1 điều khiển xe mô tô về nhà mình nói D về để mở cửa cho M. D điều khiển xe mô tô BKS: 36F1-243.73 đi về nhà mở cửa cho M rồi cả hai vào trong khu vực bếp ngồi dưới sàn nhà đợi T1. Một lúc sau, T1 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, màu xanh, gắn BKS: 36F1-176.75 của mình cầm theo một bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá, gồm: 01 (một) chai nhựa bên trong đựng khoảng nửa chai nước; 01 (một) vỏ filatop bằng thủy tinh, gắn với một ống hút nhựa màu trắng; 01 (một) ống hút nhựa màu trắng và 01 (một) bật lửa màu hồng đến nhà D. Khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, tại bếp của gia đìng D, T1 lấy kéo, nhặt ống hút chứa ma túy đang để dưới sàn, cắt một đầu ống, đổ ma túy đá vào trong bộ dụng cụ sử dụng rồi bật lửa, đốt vỏ thủy tinh (filatop) để đưa chất ma túy vào cơ thể mình. Sau đó, T1 tiếp tục dùng bật lửa đốt cho D và M sử dụng. Sau khi mỗi người sử dụng hai lượt, M thấy trong ống thủy tinh vẫn còn một ít ma túy nên đã đốt ống thủy tinh để tự sử dụng hết số ma túy còn lại. Sau khi sử dụng ma túy xong, T1 đi xe máy về nhà, còn D cho bộ D2 sử dụng ma túy vào trong một túi nilon, cầm và chở M về. Trên đường đi, khi qua đoạn đường đê chắn biển, D ném túi chứa bộ sử dụng ma túy ra biển rồi đưa M về nhà.
Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Bùi Văn T, đã thu giữ được: 01 (một) túi nilon màu trắng, viền đỏ, kích thước 3 x 5cm, bên trong chứa chất màu trắng dạng tinh thể, T khai nhận đó là ma túy đá. T xin đầu thú và giao nộp 01 (một) điện thoại Nokia, loại bàn phím, màu cam, đã qua sử dụng, gắn sim số: 0373.525.136 và 0819.596.276; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu VIVO, màu xanh, đã qua sử dụng, gắn sim số: 0912.132.421.
Về nguồn gốc ma túy, T khai nhận: Khoảng đầu tháng 04/2025, trong một lần đi thu mua loa cũ tại tỉnh Nam Định, T đã gặp một người đàn ông giới thiệu tên là L. Qua trò chuyện, L giới thiệu có bán ma túy nên T đã hỏi mua 3.000.000đ, trả bằng tiền mặt. Do sợ trên đường mang ma túy về sẽ bị Công an phát hiện, T đưa địa chỉ và số điện thoại của T để L gửi ma túy. Khoảng 11 giờ ngày hôm sau, xe khách (không nhớ biển số xe) gọi cho T hẹn đến ngã ba Quán D, huyện H (nay là xã T) để lấy hàng. T một mình thuê taxi đi đến điểm hẹn và nhận được một hộp giấy bọc kín rồi mang về nhà mở ra lấy túi ma túy cất giấu vào trong phòng đề sử dụng và bán kiếm lời. Khi T1 gọi điện hỏi mua ma túy, T lấy số ma túy còn lại cho một ít bỏ vào một đoạn ống nhựa, bịt kín hai đầu để bán cho T1, số còn lại T bỏ trong một túi nilon màu trắng, viền đỏ.
Tại Kết luận giám định số 1696/KL-KTHS ngày 19/5/2025, Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: "Tìm thấy chất ma túy, loại: Methamphetamine trong mẫu nước tiểu ghi thu của Đặng Văn D, Nguyễn Văn T1, Trình Văn M gửi đến giám định".
Tại Bản kết luận giám định số 1684/KL-KTHS ngày 16/5/2025, Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Chất màu trắng dạng tinh thể của phong bì niêm phong ký hiệu M1 gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 1,080g (một phẩy không tám không gam) loại: Methamphetamine.
Về vật chứng của vụ án chờ xử lý theo quy định, gồm:
- - 01 Phong bì niêm phong vật chứng hoàn trả sau giám định do Phòng K Công an tỉnh T phát hành, được dán kín niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên Lê Minh T2, Lại Thị Thanh L1, Nguyễn Ngọc D1 và các hình dấu của Phòng K Công an tỉnh T (bên trong chứa toàn bộ bao gói mở niêm phong của phong bì ký hiệu M1 và 1,042g chất màu trắng dạng tinh thể);
- - 01 Điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A55, màu đen, số seri HQI V95T4KN99JZGY, đã qua sử dụng, gắn sim số 0842.242.169 của Trình Văn M;
- - 01 Điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A18, màu đen, số seri TGSTUWDAL759LF8H, đã qua sử dụng, gắn sim số 0389.200.465; 01 xe môtô nhãn hiệu YAMAHA, màu xanh, gắn BKS: 36F1-176.75, số khung: RLCSE7610EY016188, số máy: E3N4E016198, đã qua sử dụng của Nguyễn Văn T1;
- - 01 Bật lửa màu hồng; 01 Kéo kim loại có phần cán bằng nhựa màu đen; 01 Xe môtô nhãn hiệu SYM, màu xanh, gắn BKS: 36F1-243.73, số khung: RLGDA12ADGD001983, số máy: VMKBEAD001983 của Đặng Văn D;
- - 01 Điện thoại Nokia, loại bàn phím, màu cam, qua sử dụng gắn sim số: 0373.525.136 và 0819.596.276; 01 Điện thoại di động nhãn hiệu VIVO, màu xanh, đã qua sử dụng, gắn sim số: 0912.132.421 của Bùi Văn T.
Bản án hình sự sơ thẩm số 08/2025/HSST ngày 28 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 5- Thanh Hoá quyết định như sau:
Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với các bị cáo Đặng Văn D, Nguyễn Văn T1 và Trình Văn M.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Bùi Văn T.
Tuyên bố: Các bị cáo Đặng Văn D, Nguyễn Văn T1 và Trình Văn M phạm tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; Bị cáo Bùi Văn T phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Xử phạt:
- - Bị cáo Đặng Văn D 08 (T) năm 06 (S1) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 12/5/2025;
- - Bị cáo Nguyễn Văn T1 08 (T3) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 12/5/2025.
- - Bị cáo Trình Văn M 07 (Bảy) năm 06 (SI) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 12/5/2025.
- - Bị cáo Bùi Văn T 04 (B) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 14/5/2025.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 30 tháng 8 năm 2025, bị cáo Bùi Văn T kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, tội danh, mức hình phạt Toà án cấp sơ thẩm xét xử là đúng. Bị caó giữ nguyên nội dung kháng cáo. Bị cáo không xuất trình thêm tình tiết giảm nhẹ.
Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa:
Bị cáo kháng cáo trong thời hạn luật định, nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Tại cấp phúc thẩm bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng không xuất trình được tình tiết giảm nhẹ mới. Xét tính chất vụ án, hành vi phạm tội của bị cáo thấy rằng Toà án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội danh, điều luật, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ xử phạt bị cáo mức hình phạt 04 năm tù là phù hợp. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 356 BLTTHS. Đề nghị HĐXX không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 08/2025/HSST ngày 28 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 5- Thanh Hoá.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HS phúc thẩm theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Đơn kháng cáo của bị cáo hợp lệ và trong thời hạn theo quy định tại các Điều 331,332,333 Bộ luật tố tụng hình sự nên được chấp nhận để xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
[3]. Tại Phiên tòa phúc thẩm bị cáo Bùi Văn T thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Căn cứ vào lời khai của bị cáo T và các bị cáo khác tại phiên tòa sơ thẩm, tại cơ quan điều tra, các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm có đủ cơ sở xác định: Khoảng 19 giờ 52 phút ngày 11/5/2025, tại khu vực đường đê, thuộc địa phận thôn B, xã V, tỉnh Thanh Hóa, Bùi Văn T đã thực hiện hành vi bán trái phép chất ma túy loại Methamphetamine (được đựng trong 01 đoạn ống nhựa bịt kín 2 đầu) cho Nguyễn Văn T1 và Trình Văn M, để thu lợi bất chính số tiền 500.000đ, thông qua hình thức thanh toán chuyển khoản số tiền 500.000đ, từ tài khoản số [...] tại ngân hàng M2 của Trình Văn M đến tài khoản số [...] của Bùi Văn T4. Ngoài ra cơ quan điều tra còn thu giữ tại nơi ở của bị cáo 1,080g ma tuý, loại: Methamphetamine, bị cáo khai số ma tuý này để bán.
Do vậy, Tòa án cấp sơ thẩm kết án bị cáo Bùi Văn T4 về tội "Mua bán trái phép chất ma tuý" theo quy định tại khoản 1 Điều 151 Bộ luật Hình sự là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4].Xét kháng cáo của bị cáo Bùi Văn T xin giảm nhẹ hình phạt.
Bùi Văn T có hành vi bán trái phép chất ma túy loại Methamphetamine cho Nguyễn Văn T1 và Trình Văn M, để thu lợi bất chính số tiền 500.000₫,
Hành vi nêu trên của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền của nhà nước về quản lý chất ma tuý,xâm phạm đến trật tự trị an và an toàn cho xã hội, tiếp tay cho các đối tượng nghiện là nguyên nhân xảy ra nhiều loại tội phạm khác.Do đó, cần xử lý nghiêm đối với hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dụcbị cáo thành người có ích cho xã hội và nhằm mục đích răn đe, phòng ngừa chung
Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi phạm tội đã ra đầu thú, là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS. Bị cáo có nhân thân xấu: Ngày 26/01/2005, bị Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội xử phạt 07 (bảy) năm tù về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”, đến ngày 07/02/2010 chấp hành xong hình phạt tù.Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, do đóToà án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Bùi Văn T 04 (B) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam (ngày 14/5/2025) là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
Tại cấp phúc thẩm bị cáo không cung cấp thêm được tài liệu nào mới, nên không có cơ xem xét kháng cáo của bị cáo.
Từ những phân tích đánh giá và nhận định nêu trên thống nhất với quan điểm và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tỉnh Thanh Hóa, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 08/2025/HSST ngày 28 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 5- Thanh Hoá.
[5]. Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết kháng cáo, kháng nghị.
[6]. Về án phí: Kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Điểm d khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Bùi Văn T
Giữ nguyên quyết định bản án hình sự sơ thẩm số 08/2025/HSST ngày 28 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Thanh Hoá.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1,2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017
Tuyên bố: Bị cáo Bùi Văn T phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Xử phạt:
Bị cáo Bùi Văn T 04 (Bốn) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 14/5/2025).
Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết kháng cáo, kháng nghị.
Về án phí: Bị cáo Bùi Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Hoàng Thị Nguyệt |
Bản án số 163/2024/HS-PT ngày 24/10/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 163/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 24/10/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Mua bán trái phép chất ma túy
