Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 163/2024/HS-PT

Ngày: 02-5-2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tào

Các thẩm phán: Ông Lê Tự

Ông Đặng Kim Nhân

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Minh Hoàng, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Chiến, Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 469/2023/TLPT-HS ngày 02 tháng 10 năm 2023 đối với bị cáo Võ Thị Dy L về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Do có kháng cáo của bị cáo và bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 74/2023/HS-ST ngày 21 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng.

- Bị cáo có kháng cáo, bị kháng cáo:

Họ và tên: Võ Thị Dy L; giới tính: nữ; tên gọi khác: không; sinh ngày: 25/6/1985, tại Quảng Nam; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 12/ 12; Nghề nghiệp: kinh doanh; Nơi ĐKTT: xã Q, huyện T, tỉnh Đắc Nông; Chỗ ở: Thôn T, xã B, huyện T, tp Đà Nẵng; Con ông: Võ Đức S (đã chết). Con bà: Phan Thị L1 (sinh năm 1952). Gia đình có 04 anh em, bị cáo là con thứ tư; Chồng: Nguyễn Kim T (đã chết). Bị cáo có 02 con, sinh năm 2016 và năm 2018; Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Võ Thị Dy L: Luật sư Nguyễn Thanh S1 - Công ty L3, thuộc Đoàn Luật sư thành phố Đ. Có mặt.

- Bị hại có kháng cáo: Bà Trần Thị Thu H, sinh năm 1987; Trú tại: Số E đường L, tổ B, phường P, quận S, thành phố Đà Nẵng. Có mặt.

1

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại Trần Thị Thu H: Luật sư Lê Hữu P – Công ty L4 và Cộng sự, Đoàn Luật sư thành phố Đ. Có mặt.

Ngoài ra trong vụ án có những người tham gia tố tụng khác không có kháng cáo, kháng nghị nên Toà án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 4/2020 đến tháng 8/2021, Võ Thị Dy L đưa thông tin gian dối cần vốn để buôn bán các mặt hàng: khẩu trang, hàng gia dụng, bánh kẹo và rủ các chị Võ Thị T1 (sinh năm 1994, trú: C, phường H, quận C), chị Trần Thị Thu H (sinh năm 1987, trú: E L, phường P, quận S, TP Đà Nẵng) và chị Phạm Thị Vân A (sinh năm 1991, trú tổ C, phường H, quận N, TP Đà Nẵng) cùng góp vốn buôn bán để được hưởng tiền lời hàng hóa cao. Tin lời nói của L, chị T1, chị H và chị A nhiều lần đưa tiền và L đã chiếm đoạt để tiêu xài, dùng để trả nợ cá nhân và trả lãi hàng hóa cho chính các bị hại. Cụ thể:

  1. Chiếm đoạt của chị Võ Thị T1 số tiền 125.000.000 đồng.

    Lần 1: Đầu năm 2020, L thuê nhà trọ gần chỗ ở của chị T1 nên quen biết nhau. Khoảng tháng 4/2020, tình hình dịch bệnh covid 19 phức tạp, biết chị T1 có nhu cầu mua khẩu trang y tế bán kiếm lời nên L nảy sinh ý định lừa chị T1 để lấy tiền. L rủ chị T1 góp vốn để buôn bán khẩu trang, chị T1 đồng ý. Ngày 20/4/2020, L nói chị T1 chuyển khoản 60.000.000 đồng để mua 200 thùng khẩu trang (L nói tiền lãi mỗi thùng là 50.000 đồng). Chị T1 đã chuyển khoản cho L 55.000.000 đồng và đưa trực tiếp 5.000.000 đồng.

    Lần 2: Đầu tháng 5/2020, L tiếp tục yêu cầu chị T1 đưa thêm 60.000.000 đồng để mua 200 thùng khẩu trang. Để chị T1 tin tưởng, L thông báo đợt hàng trước chị T1 lãi được 9.500.000 đồng, nên đợt này chị T1 chỉ góp 50.500.000 đồng. Vài ngày sau, L nói chị T1 góp thêm 9.000.000 đồng để mua thêm 30 thùng khẩu trang. Chị T1 đồng ý nên ngày 05/5/2020, chị T1 chuyển khoản cho L 59.500.000 đồng.

    Lần 3: Khoảng tháng 10/2021, L nói dối chị T1 cần tiền để đưa con đi cấp cứu, chị T1 đã chuyển cho L 02 lần với số tiền 5.500.000 đồng.

  2. Chiếm đoạt của chị Trần Thị Thu H 390.000.000 đồng.

    Khoảng cuối năm 2020, L quen biết với chị H. Tháng 5/2021, L nói chị H góp vốn để nhập hàng gia dụng bán kiếm lời, để tạo lòng tin với chị H những lần góp vốn đầu tiền, L trả cho chị H tiền vốn và lãi đầy đủ. Đồng thời, L tạo lập 01 nhóm zalo với tên “nhóm sĩ gia dụng Cẩm L2-H” và đưa H vào nhóm, L tải hình ảnh từ mạng xã hội để đưa vào nhóm zalo. Chị H tin tưởng thông tin của L và nhiều lần đưa tiền để góp vốn và bị L chiếm đoạt, cụ thể:

    • Ngày 08/6/2021, chị H đưa cho L số tiền 75.000.000 đồng, L hứa 15 ngày sau sẽ chia lãi 6.850.000 đồng.
    • Ngày 27/6/2021, chị H đưa tiếp cho L số tiền 50.000.000 đồng, L hứa 15 ngày trả lãi tiền hàng.
    • Các ngày 09/7, 11/7, 31/7/2021, chị H tiếp tục đưa cho L tổng số tiền 225.000.000 đồng, mỗi lần L đều hứa 15 ngày trả lãi tiền hàng.

2

  • Ngày 31/8/2021, chị H đưa tiếp cho L số tiền 40.000.000 đồng, L hứa trả lãi sau 7 ngày.

Khi chị H phát hiện hành vi gian dối của L, L đã viết giấy nợ của chị H số tiền nêu trên.

  1. Chiếm đoạt của chị Phạm Thị Vân A 184.000.000 đồng.

    Năm 2019, Võ Thị Dy L cùng vợ chồng chị Phạm Thị Vân A và anh Nguyễn Đức T2 (sinh năm 1990) kinh doanh cháo dinh dưỡng Việt Soup. Đến gần cuối năm 2020, L nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền của chị Vân A để trả nợ cá nhân nên nói góp vốn để buôn bán hàng bánh kẹo. Để tạo sự tin tưởng, thời gian đầu khi chị A góp vốn mua hàng, L đã trả tiền vốn và tiền lãi hàng đầy đủ. L tạo nhóm zalo và đưa chị A vào nhóm để chị A biết việc đặt hàng hóa và tiền lãi của các đơn hàng. Chị A tin tưởng nên nhiều lần đưa tiền và bị L chiếm đoạt, cụ thể:

    • Ngày 06/01/2021, chị A chuyển khoản cho L 25.500.000 đồng.
    • Ngày 09/01/2021, chị A chuyển khoản cho L 34.000.000 đồng.
    • Ngày 11/01/2021, chị A chuyển khoản cho L 18.800.000 đồng.
    • Ngày 20/01/2021, chị A chuyển khoản cho L 15.500.000 đồng.
    • Ngày 26/01/2021, chị A chuyển khoản cho L 25.500.000 đồng.
    • Ngày 28/01/2021, chị A chuyển khoản cho L 34.000.000 đồng.
    • Ngày 02/02/2021, chị A chuyển khoản cho L 31.500.000 đồng.

Toàn bộ số tiền chiếm đoạt, L sử dụng để trả nợ, tiêu xài cá nhân và chuyển trả lãi hàng hóa cho chính chị A. Khi chị Phạm Thị Vân A phát hiện hành vi gian dối của L, L viết giấy nợ chị A số tiền 409.000.000 đồng (bao gồm tiền nợ và số tiền chiếm đoạt nêu trên).

Toàn bộ số tiền chiếm đoạt là 699.800.000 đồng, L sử dụng để tiêu xài, trả nợ cho anh Ngô Thái B (sinh năm 1982, trú tổ C, phường H, quận C), Nguyễn Khoa T3 (sinh năm 1997, trú: phường T, quận T), Phạm Lê Như Q (sinh năm 1983, trú phường A, quận S), Phạm Thị Ni N (sinh năm 1995, trú: Đ, Đ, Quảng Nam), Võ Văn Bính T4 (sinh năm 1977, trú: phường H, quận L) và trả tiền lãi hàng hóa cho chính các bị hại.

Quá trình điều tra, Võ Thị Dy L đã bồi thường cho chị Trần Thị Thu H 597.550.000 đồng, chị Võ Thị T1 125.000.000 đồng, chị Phạm Thị Vân A 106.839.000 đồng.

* Vật chứng tạm giữ:

  • 01 tập tin nhắn zalo giữa Võ Thị Dy L và chị Võ Thị T1 trao đổi mua bán khẩu trang và việc con cấp cứu ở bệnh viện.
  • 01 tập tin nhắn zalo nhóm sỹ gia dụng, L tạo lập sử dụng để nhắn tin với chị Trần Thị Thu H.
  • 01 tập tin nhắn zalo, Võ Thị Dy L tạo lập để lừa dối chị Phạm Thị Vân A trong việc đặt hàng hóa.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 74/2023/HS-ST ngày 21/8/2023, Toà án nhân dân thành phố Đà Nẵng đã quyết định:

Tuyên bố: Bị cáo Võ Thị Dy L phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

3

  1. Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54 của Bộ luật hình sự.

    Xử phạt: Bị cáo Võ Thị Dy L 08 (T5) năm tù. Thời gian chấp hành án kể từ ngày bắt giam thi hành án.

  2. Về dân sự: Căn cứ Điều 48 BLHS; Điều 589 BLDS;

    Buộc Võ Thị Dy L bồi thường cho bị hại là bà Phạm Thị Vân A số tiền: 77.941.000 đồng;

    Buộc bà Trần Thị Thu H phải hoàn trả lại cho bị cáo khoản tiền đã trả dư là 119.000.000 đồng.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về phần án phí và thông báo về quyền kháng cáo.

Ngày 20/8/2023, bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xem xét lại số tiền phải trả cho bị hại Phạm Thị Vân A.

Ngày 31/8/2023, bị hại bà Trần Thị Thu H kháng cáo yêu cầu tăng hình phạt tù đối với bị cáo và không đồng ý trả lại số tiền 119.000.000 đồng cho bị cáo.

Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Võ Thị Dy L và kháng cáo của người bị hại Trần Thị Thu H; giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận; Hội đồng xét xử thấy đủ cơ sở kết luận:

Trong khoảng thời gian từ tháng 04/2020 đến tháng 8/2021, Võ Thị Dy L đưa ra nhiều thông tin gian dối về việc buôn bán các mặt hàng khẩu trang, hàng gia dụng, bánh kẹo có lãi cao và rủ rê các chị Võ Thị T1, Trần Thị Thu H và Phạm Thị Vân A góp vốn để cùng buôn bán. Tin tưởng thông tin L đưa ra, chị Võ Thị T1 03 lần đưa số tiền 125.000.000 đồng, chị Trần Thị Thu H 06 lần đưa số tiền 390.000.000 đồng, chị Phạm Thị Vân A 07 lần đưa số tiền 184.800.000 đồng. Võ Thị Dy L đã chiếm đoạt toàn bộ số tiền 699.800.000 đồng để sử dụng tiêu xài cá nhân và trả nợ.

Với hành vi và hậu quả nêu trên, án sơ thẩm tuyên bố bị cáo Võ Thị Dy L phạm tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

[1]. Xét kháng cáo yêu cầu tăng hình phạt của bị hại, nhận thấy: Án sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội; tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” và cũng đã xem xét đầy đủ tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo như đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đã bồi thường khắc phục hậu quả đủ số tiền chiếm đoạt cho chị Trần Thị Thu H (390.000.000 đồng), Võ Thị T1 (125.000.000 đồng) và chị Phạm Thị Vân A được số tiền 106.839.000 đồng, nên đã xử phạt bị cáo 08 năm tù là phù hợp với tính chất, mức độ

4

hành vi phạm tội, không nhẹ. Do đó không có căn cứ để tăng mức hình phạt theo kháng cáo của người bị hại.

Đối với bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt; nhận thấy: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ, phúc thẩm bị cáo đã thật thà khai báo, ăn năn hối cải; đã khắc phục phần lớn số tiền chiếm đoạt; hiện nay hoàn cảnh gia đình của bị cáo rất khó khăn, chồng chết, có 02 con còn quá nhỏ. Do đó, hội đồng xét xử xét thấy cần chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà an tâm cải tạo tốt, sớm trở về gia đình chăm sóc các con.

[2]. Xét kháng cáo của bị hại Trần Thị Thu H về nội dung không đồng ý hoàn trả số tiền 119.000.000 đồng cho bị cáo Võ Thị Dy L; nhận thấy: Theo tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án thể hiện qua giấy đối chiếu xác nhận nợ, các bản sao kê chuyển tiền do ngân hàng cung cấp thể hiện bị cáo đã chuyển cho chị H số tiền 597.550.000 đồng; sau khi khấu trừ số tiền bị cáo chiếm đoạt 390.000.000 đồng (đã khắc phục đủ), số tiền góp vốn 88.550.000 đồng; án sơ thẩm buộc chị H hoàn trả cho bị cáo số tiền 119.000.000 đồng là có căn cứ.

[3]. Xét kháng cáo của bị cáo về xem xét lại số tiền phải trả cho bị hại Phạm Thị Vân A; nhận thấy: Theo tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, lời khai của bị cáo và lời khai của bị hại Phạm Thị Vân A; án sơ thẩm đã quyết định buộc bị cáo phải bồi thường cho Phạm Thị Vân A số tiền 77.941.000 đồng là có căn cứ.

[4]. Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.

[5]. Do kháng cáo về phần trách nhiệm dân sự không được chấp nhận nên bị cáo Võ Thị Dy L và bị hại Trần Thị Thu H phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 Bộ luật tố tụng hình sự.

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo và người bị hại về phần trách nhiệm dân sự; giữ nguyên bản án sơ thẩm về phần dân sự. Không chấp nhận kháng cáo của bị hại về yêu cầu tăng hình phạt đối với bị cáo; chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo; sửa án sơ thẩm về phần hình phạt đối với bị cáo L.
    • - Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54 của Bộ luật hình sự.
    • Xử phạt: Bị cáo Võ Thị Dy L 07 (B1) năm tù. Thời gian chấp hành án kể từ ngày bắt giam thi hành án.
    • - Về dân sự: Căn cứ Điều 48 BLHS; Điều 589 BLDS;
    • + Buộc Võ Thị Dy L phải bồi thường cho bị hại là bà Phạm Thị Vân A số tiền: 77.941.000 đồng.
    • + Buộc bà Trần Thị Thu H phải hoàn trả lại cho bị cáo khoản tiền đã trả dư là 119.000.000 đồng.

5

  1. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật và được thi hành theo Bản án hình sự sơ thẩm số 74/2023/HS-ST ngày 21/8/2023 của Toà án nhân dân thành phố Đà Nẵng.
  2. Án phí phúc thẩm: Bị cáo Võ Thị Dy L và bà Trần Thị Thu H mỗi người phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Vụ Giám đốc kiểm tra I - TAND tối cao;
  • - VKSND cấp cao tại Đà Nẵng;
  • - TAND tp Đà Nẵng;
  • - VKSND tp Đà Nẵng;
  • - Cơ quan CSĐT-Công an tp Đà Nẵng;
  • - Phòng HSNV-Công an tp Đà Nẵng;
  • - Cơ quan CSTHAHS-CA tp Đà Nẵng;
  • - Sở Tư pháp tp Đà Nẵng;
  • - Bị cáo;
  • - Cục THADS tp Đà Nẵng;
  • - Người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu HSVA, PHCTP, LT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Nguyễn Văn Tào

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 163/2024/HS-PT ngày 02/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG về hình sự - lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 163/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 02/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo và người bị hại về phần trách nhiệm dân sự; giữ nguyên bản án sơ thẩm về phần dân sự. Không chấp nhận kháng cáo của bị hại về yêu cầu tăng hình phạt đối với bị cáo; chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo; sửa án sơ thẩm về phần hình phạt đối với bị cáo L.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger