Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. VŨNG TÀU

TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 163/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 30-9-2024

V/v: Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Phạm Thanh M

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đặng Song H

2. Bà Ngô Thị Thúy H

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Q – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu tham gia phiên toà: Bà Lương Ngọc T – Kiểm sát viên

Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 245/TLST – HNGĐ ngày 07 tháng 5 năm 2024, về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 141/QĐST-HNGĐ ngày 26 tháng 8 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 108/2024/QĐST-HNGĐ ngày 13 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Phạm Thị Thúy L, sinh năm 1987

Địa chỉ: 7 Đ, Phường B, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (vắng mặt, có đơn xin giải quyết vắng mặt)

Bị đơn: Ông Đào Văn L1, sinh năm 1980.

Địa chỉ: A N, Phường H, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 15-4-2024, quá trình tố tụng, nguyên đơn bà Phạm Thị Thúy L trình bày:

Bà Phạm Thị Thúy L và ông Đào Văn L1 đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường H, thành phố V vào ngày 13-01-2014. Sau khi kết hôn hai vợ chồng chung sống tại địa chỉ A N, Phường H, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Quá trình chung sống, ông L1 và bà L có 01 con chung là Đào Gia P, sinh ngày 09-11-2015. Thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc nhưng sau một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng không còn tiếng nói chung, cũng như không chia sẻ mọi việc trong cuộc sống, tình cảm không còn được như trước dẫn đến hôn nhân không hạnh phúc. Hiện nay, ông L1 và bà L đã ly thân nhau được 05 tháng, còn cháu P đang ở cùng bà L. Hiện nay bà L xác định không còn tình cảm với ông L1 nên yêu cầu được ly hôn với ông L1.

Về con chung: có 01 con chung là cháu Đào Gia P, sinh ngày 09-11-2015. Bà L có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng cháu P vì bà L hiện nay có công việc ổn định, với mức thu nhập từ 12.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng/tháng và có cha mẹ ruột phụ chăm sóc cháu P.

Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và nợ chung: Bà L không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông Đào Văn L1 đã được Tòa án tống đạt hợp lệ giấy triệu tập, các văn bản tố tụng nhưng không đến Tòa án làm việc, không có ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu phát biểu quan điểm về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, thư kí, HĐXX đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Trong thời kỳ hôn nhân, ông L1 và bà L phát sinh mâu thuẫn, bà L xác định không còn tình cảm với ông L1. Ông L1 không đến Tòa làm việc nên chưa thể hiện thiện chí, chủ động và quyết tâm hàn gắn mối quan hệ vợ chồng đã rạn nứt, chia rẽ của mình, cũng không tham gia hòa giải để có sự động viên, tác động nhằm cải thiện mối quan hệ vợ chồng. Nay bà L xác định tình cảm không còn, một mực xin ly hôn nên khả năng hàn gắn vợ chồng là không thể. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà L; Về con chung: có 01 con chung là cháu Đào Gia P, sinh ngày 09-11-2015. Cháu P đã đủ tuổi thể hiện nguyện vọng ở với ai khi bố mẹ ly hôn và cháu P có nguyện vọng ở với bà L. Bà L có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng cháu P, để đảm bảo nuôi dạy chăm sóc con tốt nhất thì việc giao cháu P cho bà L nuôi dưỡng là phù hợp; Về tài sản chung, nợ chung, cấp dưỡng nuôi con: Bà L không yêu cầu giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Bà Phạm Thị Thúy L có đơn khởi kiện về “Ly hôn” với ông Đào Văn L1, có nơi cư trú tại thành phố V nên xác định đây là vụ án hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu theo quy định tại Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông L1. Tại phiên tòa hôm nay, ông L1 mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt và bà L có đơn xin xét xử vắng mặt. Xét thấy việc vắng mặt của ông L1 và bà L không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án, căn cứ quy định pháp luật Tòa tiến hành giải quyết vắng mặt ông L1 và bà L.

[2]. Về hôn nhân: Xét bà Phạm Thị Thúy L và ông Đào Văn L1 chung sống và tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường H, thành phố V vào ngày 13-01-2014, như vậy hôn nhân giữa ông L1 và bà L là hợp pháp.

Trong thời gian ông L1 và bà L chung sống với nhau, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân theo bà L là do vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, không cùng quan điểm sống, không còn thương yêu nhau. Hai bên cũng đã cố gắng hòa giải nhiều lần nhưng không có kết quả.

Ông L1 vắng mặt tại các buổi làm việc và tại phiên tòa nên chưa thể hiện thiện chí, không tranh thủ sự tác động, động viên, hòa giải của pháp luật để hàn gắn hôn nhân giữa ông và bà L. Ông L1 không tham gia tố tụng tại Tòa nên chưa thể hiện được nguyện vọng thiết tha muốn đoàn tụ của ông.

Do ông L1 vắng mặt, để xem xét yêu cầu của bà L, Tòa đã tiến hành xây dựng hồ sơ, thu thập chứng cứ, xác minh tại địa phương theo quy định của pháp luật.

Nay bà L cương quyết ly hôn do không còn tình cảm với ông L1 nên khả năng đoàn tụ là rất khó khăn. Vì vậy, yêu cầu ly hôn của bà L có cơ sở để xem xét nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3]. Về con chung: Ông L1 và bà L có 01 con chung là cháu Đào Gia P, sinh ngày 09-11-2015. Cháu P đã đủ tuổi theo quy định pháp luật được nêu quan điểm ý kiến về việc có nguyện vọng ở với ai khi bố mẹ ly hôn và cháu có nguyện vọng ở với bà L. Hiện nay bà L cũng có công việc ổn định, có thu nhập và có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng cháu P. Vì vậy, để đảm bảo nuôi dạy chăm sóc cháu P được tốt nhất thì việc giao cháu P cho bà L nuôi dưỡng là phù hợp.

[4]. Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và nợ chung: Bà L không yêu cầu Tòa giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5]. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà L phải nộp theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 273 của Bộ Luật tố tụng Dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội qui định về án phí, lệ phí.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị Thúy L.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị Thúy L và ông Đào Văn L1 ly hôn.
  2. Về con chung: Bà Phạm Thị Thúy L và ông Đào Văn L1 có 01 con chung là cháu Đào Gia P, sinh ngày 09-11-2015. Giao cháu Đào Gia P cho bà Phạm Thị Thúy L trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Ông Đào Văn L1 có quyền đến thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung không ai được cản trở.

Trên cơ sở lợi ích của các con, trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

  1. Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và nợ chung: Bà L không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

4. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Phạm Thị Thúy L nộp 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân và gia đình, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0005790 ngày 07-5-2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Vũng Tàu. Bà L đã nộp xong án phí

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Các đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án (đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa thời hạn trên tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết) để yêu cầu Toà án cấp trên xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.

Nơi nhận:

- TAND tỉnh BR-VT;

- VKSND TP. Vũng Tàu;

- THADS TP. Vũng Tàu;

- UBND UBND P8, TP. VT;

- Các đương sự,

- Lưu hồ sơ.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thanh M

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 163/2024/HNGĐ-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU về ly hôn

  • Số bản án: 163/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị Thúy L. Bà Phạm Thị Thúy L và ông Đào Văn L1 ly hôn. Bà Phạm Thị Thúy L và ông Đào Văn L1 có 01 con chung là cháu Đào Gia P, sinh ngày 09-11-2015. Giao cháu Đào Gia P cho bà Phạm Thị Thúy L trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger