|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 163/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 10/5/2024
V/v: “Tranh chấp ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Tùng Lâm
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Văn Hễ
Ông Huỳnh Phẩm Dũng Phát
- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Viết Nhiên - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Không tham gia.
Ngày 10 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 320/2023/TLST-HNGĐ ngày 27/11/2023 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1932/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 15/4/2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Hứa Tùng N, sinh năm 1988 (Có đơn xin vắng mặt).
Địa chỉ: H H, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị đơn: Bà Chiang Shin C, sinh năm 1980 (Có đơn xin vắng mặt).
Quốc tịch: Trung Quốc (Đài Loan)
Địa chỉ: Số B, đường Q, Khóm D, phường Q, khu B, thành phố Đ, Đài Loan (Trung Quốc).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và B tự khai, nguyên đơn ông Hứa Tùng N trình bày: Ông và bà Chiang Shin C đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 217, ngày 11/11/2019 do Ủy ban nhân dân Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh cấp. Sau khi kết hôn, ông ở lại Việt Nam, bà Chiang Shin C trở về Đài Loan, cần một thời gian để bà Chiang Shin C làm thủ tục bảo lãnh ông sang Đài Loan định cư thì xảy ra dịch bệnh Covid-19, do vậy ông và bà Chiang Shin C chỉ liên lạc với nhau qua điện thoại, do trở ngại bà Chiang Shin C không thể về Việt Nam thăm ông. Sau thời gian xa cách, tình cảm giữa hai người phai nhạt dần, dần dần cả hai không còn tiếng nói chung và cũng không còn liên lạc với nhau. Nay tình cảm vợ chồng không còn, cả hai cũng không còn liên lạc và đã sống ly thân nên ông yêu cầu được ly hôn với bà Chiang Shin C.
Về con chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ông xin được vắng mặt khi Tòa án giải quyết vụ án.
Tại Bản tự khai, bị đơn bà Chiang Shin C trình bày: Bà đồng ý ly hôn với ông Hứa Tùng N vì hai bên sống xa cách, tình cảm không còn.
Về con chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bà xin được vắng mặt khi Tòa án giải quyết vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng:
Ông Hứa Tùng N và bà Chiang Shin C có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông Hứa Tùng N và bà Chiang Shin C.
Về nội dung:
[1] Về quan hệ hôn nhân:
Ông Hứa Tùng N và bà Chiang Shin C có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 217, do Ủy ban nhân dân Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 11/11/2019 nên là hôn nhân hợp pháp.
Về yêu cầu xin ly hôn của ông Hứa Tùng N, Hội đồng xét xử xét thấy:
Bà Chiang Shin C đang sinh sống tại Đài Loan. Sau khi kết hôn, ông Hứa Tùng N ở Việt Nam, bà Chiang Shin C trở về Đài Loan, do cần một thời gian để làm thủ tục bảo lãnh ông N sang Đài Loan định cư thì xảy ra dịch bệnh Covid-19, do vậy ông N, bà Chiang Shin C chỉ liên lạc với nhau qua điện thoại, bà Chiang Shin C không thể về Việt Nam thăm ông N. Sau thời gian xa cách, tình cảm giữa hai người phai nhạt dần, dần dần cả hai không còn tiếng nói chung và cũng không còn liên lạc với nhau. Nay tình cảm vợ chồng không còn, cả hai cũng không còn liên lạc và đã sống ly thân nên ông N yêu cầu được ly hôn với bà Chiang Shin C là có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận.
[2] Về con chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[3] Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết; Về nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.
[4] Về án phí: Ông Hứa Tùng N là nguyên đơn trong vụ án ly hôn nên phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, khoản 1 Điều 37, Điều 147, Điều 227, Điều 228, khoản 5 Điều 477, Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ các điều 9, 51, 56, 121 và 127 Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ vào Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu của ông Hứa Tùng N.
-
Về hôn nhân:
Ông Hứa Tùng N được ly hôn với bà Chiang Shin C.
- Về con chung; tài sản chung và nợ chung: Không có gì để giải quyết.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Hứa Tùng N chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí sơ thẩm, được trừ vào 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai số 0000884 ngày 20/11/2023 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh, ông N đã nộp đủ án phí sơ thẩm.
-
Về quyền kháng cáo:
Nguyên đơn có quyền kháng cáo đối với bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật. Bị đơn có quyền kháng cáo đối với bản án trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc bản án được niêm yết; Thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát cùng cấp là 15 ngày, của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là 01 tháng, kể từ ngày tuyên án.-
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Tùng Lâm |
3
Bản án số 163/2024/HNGĐ-ST ngày 10/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 163/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ng và bà Chiang Shin C đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 217, ngày 11/11/2019 do Ủy ban nhân dân Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh cấp. Sau khi kết hôn, ông ở lại Việt Nam, bà Chiang Shin C trở về Đài Loan, cần một thời gian để bà Chiang Shin C làm thủ tục bảo lãnh ông sang Đài Loan định cư thì xảy ra dịch bệnh Covid-19, do vậy ông và bà Chiang Shin C chỉ liên lạc với nhau qua điện thoại, do trở ngại bà Chiang Shin C không thể về Việt Nam thăm ông. Sau thời gian xa cách, tình cảm giữa hai người phai nhạt dần, dần dần cả hai không còn tiếng nói chung và cũng không còn liên lạc với nhau.
