Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH AN GIANG

____________
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
_______________________________________

Bản án số: 163/2020/DS-PT

Ngày: 30-11-2020

V/v “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: bà Bùi Thị Nguyễn

Các Thẩm phán: ông Lâm Thuận Tùng; ông Nguyễn Văn Thiện

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên toà: bà Trần Phan Ý Vy – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: ông Huỳnh Thanh Phước – Kiểm sát viên.

Trong ngày 30 tháng 11 năm 2020, tại Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số: 204/2020/TLPT-DS, ngày 12/10/2020 về việc: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 108/2020/DS-ST, ngày 05 tháng 8 năm 2020 của Toà án nhân dân huyện CT bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 202/2020/QĐPT-DS ngày 12 tháng 10 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 216/2020/QĐ-PT, ngày 10 tháng 11 năm 2020, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn:

  • - Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1967;
  • - Bà Phạm Thị Ngọc B, sinh năm 1968;
  • Nơi cư trú: số 371, tổ 19, ấp VP, xã VB, huyện CT, tỉnh An Giang.

2. Bị đơn:

  • - Ông Nguyễn Văn T2, sinh năm 1965;
  • - Bà Nguyễn Thị Kim N, sinh năm 1970;
  • Cùng cư trú: số 285, tổ 19, ấp VP, xã VB, huyện CT, tỉnh An Giang.
  • Người đại diện hợp pháp của bà Nguyễn Thị Kim N là ông Nguyễn Văn T2, sinh năm 1965, đại diện theo ủy quyền (Giấy ủy quyền ngày 26/11/2020).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Nguyễn Văn T2 và bà Nguyễn Thị Kim N: Luật sư Nguyễn Thị Việt B - Văn phòng Luật sư VA thuộc Đoàn Luật sư tỉnh An Giang.

Người kháng cáo: ông Nguyễn Văn T2 và bà Nguyễn Thị Kim N.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo hồ sơ cấp sơ thẩm thể hiện:

* Nguyên đơn: ông Nguyễn Văn T, bà Phạm Thị Ngọc B trình bày:

Do chỗ anh em ruột nên vào ngày 16-8-2012, ông bà có cho anh ruột là ông Nguyễn Văn T2 và chị dâu là bà Nguyễn Thị Kim N mượn số tiền 80.000.000đ để mua thức ăn nuôi cá, khi hỏi mượn tiền bà N có ghi giấy nợ cho ông bà. Sau đó, ông T2 và bà N mượn thêm 50.000.000đ, tổng cộng ông T2 và bà N mượn của ông bà là 130.000.000đ. Sau nhiều năm, ông T2 bà N không chịu trả lại ông bà số tiền đã mượn. Nay, ông bà yêu cầu ông Nguyễn Văn T2 và bà Nguyễn Thị Kim N trả lại ông, bà số tiền đã mượn là 80.000.000đ và yêu cầu tính lãi theo quy định của pháp luật. Ông, bà rút lại yêu cầu ông T2, bà N phải trả số tiền 50.000.000đ.

* Bị đơn: ông Nguyễn Văn T2 và bà Nguyễn Thị Kim N trình bày:

Ông T2 và bà N không mượn tiền của ông T, bà B nhưng ông và bà N chỉ có nhận tiền bán đất còn lại là 80.000.000đ. Văn bản mượn tiền ngày 16-8-2012 là chữ viết của bà N viết, nhưng đó chỉ là biên nhận đã nhận tiền bán đất. Nay ông và bà N xác định có nợ và đồng ý trả cho ông T bà B 80.000.000đ, nhưng không đồng ý tính lãi. Về phương thức thanh toán ông và bà N xin được trả dần mỗi tháng 1.000.000đ cho đến khi hết nợ.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 108/2020/DS-ST, ngày 05 tháng 8 năm 2020 của Toà án nhân dân huyện CT, tỉnh An Giang, tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn trả 137.422.000đ (bao gồm nợ gốc và lãi).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Sau khi nghiên cứu các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra và qua kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[4]. Về nội dung kháng cáo: ông T2 và bà N kháng cáo không đồng ý tính lãi vì đây là tiền mượn không có lãi. Hội đồng xét xử xét thấy: Giao dịch được thực hiện năm 2012, tại thời điểm Bộ luật Dân sự năm 2005 có hiệu lực. Theo quy định tại Điều 477 Bộ luật Dân sự năm 2005, đối với hợp đồng vay không kỳ hạn và không có lãi thì bên cho vay có quyền đòi lại tài sản nhưng phải báo trước một thời gian hợp lý. Do nguyên đơn không chứng minh được việc có thỏa thuận lãi và thời gian đòi tiền, nên yêu cầu tính lãi của nguyên đơn đối với số tiền 80.000.000đ là không đúng quy định. Vì vậy, chấp nhận kháng cáo của bị đơn về việc không tính lãi.

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng: khoản 2, Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 4, Điều 26, khoản 2 Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14.

Tuyên xử:

  • - Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Văn T2 và bà Nguyễn Thị Kim N.
  • - Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 108/2020/DS-ST ngày 05/8/2020 của Tòa án nhân dân huyện CT.
  • - Buộc ông Nguyễn Văn T2 và bà Nguyễn Thị Kim N trả cho ông Nguyễn Văn T và bà Phạm Thị Ngọc B số tiền 80.000.000đ (Tám mươi triệu đồng).
  • - Bác yêu cầu của ông Nguyễn Văn T và bà Phạm Thị Ngọc B về việc tính lãi đối với số tiền 80.000.000đ.
Nơi nhận:
  • - Đương sự;
  • - VKSND tỉnh An Giang;
  • - TAND huyện CT;
  • - VKSND huyện CT;
  • - Chi cục THA huyện CT;
  • - Lưu: Hồ sơ, Phòng KTNV, Tòa Dân sự, Văn phòng.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ



Bùi Thị Nguyễn
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 163/2020/DS-PT ngày 30/11/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 163/2020/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 30/11/2020
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh An Giang
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả số tiền vay là 80.000.000đ (tám mươi triệu đồng) và yêu cầu tính lãi theo quy định của pháp luật kể từ ngày mượn tiền cho đến ngày Tòa án xét xử vụ án
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger