Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHƯƠNG MỸ

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 162/2024/DSST

Ngày: 30/08/2024

“V/v: “Tranh chấp Hợp đồng đặt cọc”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ - THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Long

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Mai Phương

Bà Nguyễn Thị Luận

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Đỗ Thị Luân – Thư ký Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Gia Ánh - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 08 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số: 249/2023/TLST – DS ngày 27/12/2023 về “Tranh chấp Hợp đồng đặt cọc” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 69/2024/QĐST-DS ngày 13/08/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 59/2024/QĐHPT-ST ngày 22/8/2024 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Ông Lê Đình H, sinh năm 1987.

Nơi đăng ký HKTT và cư trú tại: Tổ C, tổ dân phố T, thị trấn X, huyện C, Thành phố Hà Nội.

Đại diện theo uỷ quyền của ông Lê Đình H: Ông Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1978. trú tại: tổ dân phố T, thị trấn X, huyện C, Thành phố Hà Nội.

* Bị đơn: 1. Ông Phạm Văn K, sinh năm 1986.

2. Bà Nguyễn Thanh H1, sinh năm 1991.

Nơi đăng ký HKTT và cư trú tại: thôn V, xã V, huyện C, Thành phố Hà Nội.

Tại phiên tòa: Người đại diện theo uỷ quyền của ông Lê Đình H là ông Nguyễn Ngọc T có mặt; ông Phạm Văn K và bà Nguyễn Thanh H1 vắng mặt không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và lời trình bày trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa. Người đại diện theo ủy quyền của Nguyên đơn (Lê Đình H) – Ông Nguyễn Ngọc T trình bày:

Ngày 15/5/2022, ông Lê Đình H đặt cọc cho ông Phạm văn K1 và bà Nguyễn Thanh H1 số tiền: 300.000.000 đồng (Ba trăm triệu đồng) để giao kết về việc ông H nhận chuyển nhượng từ ông K1, bà H1 02 thửa đất số 221, tờ bản đồ số 20, diện tích 1577,6m² địa chỉ: thôn T, xã H, huyện L, tỉnh Hòa Bình và thửa đất số 223, tờ bản đồ số 20, diện tích 118,9m² địa chỉ: thôn T, xã H, huyện L, tỉnh Hòa Bình.

Tuy nhiên, sau đó ông H được biết hai thửa đất đó phần diện tích dính vào quy hoạch hành lang giao thông và phần mặt tiền của thửa đất không đúng 16m như trong hợp đồng đặt cọc ngày 15/5/2022.

Sau nhiều lần ông H đến gặp ông K1 và bà H1 để giải quyết thì ông K1 và bà H1 không trả lại ông H số tiền đặt cọc. Vì vậy, đến nay ông Lê Đình H khởi kiện yêu cầu Toà án nhân dân huyện Chương Mỹ quyết:

  1. Công nhận hợp đồng đặt cọc ký ngày 15/5/2022 giữa ông Lê Đình H và vợ chồng ông Phạm Văn K, bà Nguyễn Thanh H1
  2. Yêu cầu ông Phạm Văn K, bà Nguyễn Thanh H1 hoàn trả cho ông H số tiền cọc là 300.000.000 đồng và khoản tiền phạt cọc gấp 2 lần số tiền cọc là 600.000.000 đồng. Tổng cộng ông Lê Đình H yêu cầu ông Phạm Văn K, bà Nguyễn Thanh H1 phải trả số tiền là: 900.000.000 đồng theo đúng thoả thuận trong hợp đồng đặt cọc ký ngày 15/5/2022 giữa ông Lê Đình H và vợ chồng ông Phạm Văn K, bà Nguyễn Thanh H1.

* Tại iên bản ghi lời khai. Bị đơn – Ông Phạm Văn K trình bày:

Ông Phạm Văn K làm nghề buôn bán bất động sản nên có quen biết với ông Lê Đình H. Đầu năm 2002, ông K có đứng ra đặt cọc mua bản thửa đất số 221, tờ bản đồ số 20 diện tích 1.577,6m² tại địa chỉ: thôn T, xã H, huyện L, tỉnh Hòa Bình và thửa đất số 223, tờ bản đồ số 20 diện tích 118,9m² tại địa chỉ: thôn T, xã H, huyện L, tỉnh Hòa Bình của ông Nguyễn Cao K2 ở xã P, huyện L, tỉnh Hòa Bình.

Sau khi đặt cọc để mua 2 thửa đất trên (chưa làm thủ tục ký hợp đồng công chứng) thì ông K có rao bán lại và ông Lê Đình H đề nghị với ông K là ông H muốn mua lại hai thửa đất trên. Thời điểm ông K và ông H thoả thuận mua bán và đặt cọc tiền thì 02 thửa đất (thửa đất số 221 và thửa đất số 223) vẫn chưa sang tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông K, cũng như ông K và ông Nguyễn Cao K2 chưa làm hợp đồng công chứng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với 02 thửa đất (thửa đất số 221 và thửa đất số 223), khi đó việc mua bán, chuyển nhượng giữa ông K và ông Nguyễn Cao K2 mới chỉ trong giai đoạn hai bên (ông K

và ông K2) làm hợp đồng đặt cọc. Khi làm hợp đồng đặt cọc thì ông Lê Đình H là người đọc nội dung hợp đồng và vợ ông K là bà Phạm Thanh H2 là người viết hợp đồng đặt cọc.

Sau đó ông Lê Đình H có chuyển cho ông K số tiền là: 300.000.000 đồng (Ba trăm triệu đồng) để làm tiền đặt cọc và ông K đã nhận đủ. Hai bên thoả thuận trong thời hạn 40 ngày, từ 15/5/2022 đến hết 25/6/2022 các bên giao nốt tiền và làm thủ tục công chứng giấy tờ chuyển nhượng quyền sử dụng đất.

Trước ngày 25/6/2022, ông H có gọi điện cho ông K nói là không thể mua được và đề nghị ông K tìm khách cho, chứ ông H không hề nói với ông K là do diện tích của hai thừa đất thuộc hành lang giao thông vượt quá 250m², không đúng với việc hai bên thoả thuận trong hợp đồng đặt cọc.

Việc ông K và ông H thoả thuận diện tích 250m² vào quy hoạch hành lang giao thông chỉ là tương đối vì ông K và ông H không đo đạc củ thể diện tích và trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã thể hiện rõ chỉ giới giao thông là 50m.

Do ông H bảo không mua được, không chuyển tiền cho ông K theo đúng thỏa thuận trong hợp đồng đặt cọc nên ông H phải chịu mất tiền cọc là 300.000.000 đồng. Do vậy, ông K không có trách nhiệm phải trả tiền cọc cũng như bổi thường tiền cọc cho ông H. Ông H và ông K đã nói chuyện và làm việc rất nhiều lần, nhưng hai bên không thống nhất được quan điểm.

Hiện nay 2 thửa đất (thửa đất số 221 và thửa đất số 223) đã chuyển nhượng cho ông Phạm Minh T1, cư trú tại địa chỉ: tổ dân phố số A, phường L, quận H, Thành phố Hà Nội.

Thời điểm ông H trao đổi với ông K là không mua bán đất nữa thì ông H chỉ gọi điên cho ông K chứ hai bên không làm văn bản gì.

Ông K thừa nhận hợp đồng đặt cọc mà ông Nguyễn Ngọc T là người đại diện theo ủy quyền của ông Lê Đình H nộp cho Toà án đúng là hợp đồng đặt cọc mà ông K, bà H2 và ông H đã thoả thuận và ký kết. Ông K thừa nhận đã nhận được thông báo thụ lý vụ án của Toà án và đã thông báo cho bà Nguyễn Thanh H1, do bà H1 đi làm vắng nhà nên mọi việc liên quan đến giải quyết tranh chấp thì ông K sẽ là người đứng ra giải quyết. Tuy nhiên ông K sẽ không đến tham gia tố tụng tại Tòa án vì ông K thấy ông H khởi kiện ông K là sai.

Số tiền 300.000.000 đồng ông K nhận đặt cọc của ông H thì ông K cũng đã đi đặt cọc đất chỗ khác và đã bị mất tiền cọc. Nên ông K không còn tiền để trả cho ông H.

Tại phiên tòa:

+ Người đại diện theo ủy quyền của Nguyên đơn – Ông Nguyễn Ngọc T có quan điểm: Ông Lê Đình H giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đề nghị Tòa án buộc ông Phạm Văn K, bà Nguyễn Thanh H1 hoàn trả cho ông H số tiền cọc là 300.000.000 đồng và khoản tiền phạt cọc gấp 2 lần số tiền cọc là 600.000.000 đồng. Tổng cộng ông Lê Đình H yêu cầu ông Phạm Văn K, bà Nguyễn Thanh H1 phải trả số tiền là: 900.000.000 đồng theo đúng thoả thuận trong hợp đồng đặt cọc ký ngày 15/5/2022 giữa ông Lê Đình H và vợ chồng ông Phạm Văn K, bà Nguyễn Thanh H1.

+ Bị đơn là ông Phạm Văn K và bà Nguyễn Thanh H1 đều vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ tham gia phiên tòa có quan điểm:

Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự từ khi thụ lý vụ án đến trước khi nghị án, Nguyên đơn chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự trong quá trình giải quyết vụ án; bị đơn chưa chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự trong quá trình giải quyết vụ án

Về nội dung: Sau khi phân tích, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố Hợp đồng đặt cọc ngày 15/5/2022 vô hiệu do bên chuyển nhượng (bên nhận đặt cọc) không có quyền chuyển nhượng đối với 02 thửa đất mà các bên tiến hành đặt cọc với mục đích chuyển nhượng đối với 02 thửa đất là thửa đất số 221 và thửa đất số 223, tờ bản đồ số 20 tại địa chỉ: xã H, huyện L, tỉnh Hòa Bình. Hợp đồng đặt cọc bị vô hiệu nên các bên hoàn lại cho nhau những gì đã nhận. Do vậy, ông Phạm Văn K phải hoàn trả cho ông Lê Đình H số tiền đã nhận là 300.000.000 đồng.

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Đình H yêu cầu ông Phạm Văn K và bà Nguyễn Thanh H1 phải chịu phạt cọc số tiền là 600.000.000 đồng.

Về án phí: Các đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Ngày 15/5/2022, giữa ông Lê Đình H và ông Phạm văn K1 và bà Nguyễn Thanh H1 (vợ ông K1) ký Hợp đồng đặt cọc để ông Lê Đình H nhận chuyển nhượng 02 thửa đất gồm: Thửa đất số 221, tờ bản đồ số 20, diện tích 1577,6m² địa chỉ: thôn T, xã H, huyện L, tỉnh Hòa Bình và thửa đất số 223, tờ bản đồ số 20, diện tích 118,9m² tại địa chỉ: thôn T, xã H, huyện L, tỉnh Hòa Bình. Khi các bên giao kết Hợp đồng đặt cọc ông H đã đặt cọc cho ông K1 và bà H1 số tiền: 300.000.000 đồng (Ba trăm triệu đồng). Sau đó các bên không tiến hành giao kết Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo cam kết trong Hợp đồng đặt cọc

do ông H không nhận chuyển nhượng vì ông H cho rằng diện tích đất thực tế không đúng như thỏa thuận do hành lang 50m đã vượt quá diện tích thỏa thuận. Nay ông H khởi kiện yêu cầu ông K1, bà H1 phải trả lại tiền cọc số tiền: 300.000.000 đồng (Ba trăm triệu đồng) và phải chịu phạt cọc số tiền gấp 2 lần số tiền đặt cọc là: 600.000.000 đồng (Ba trăm triệu đồng). Tổng cộng là: 900.000.000 đồng (Chín trăm triệu đồng)

Ông Phạm văn K1 và bà Nguyễn Thanh H1 đều đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú: thôn V, xã V, huyện C, Thành phố Hà Nội. Do vậy, Tòa án xác định tranh chấp giữa các bên được xác định là “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc”. Theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp Dân sự và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội.

[2] Về nội dung vụ kiện:

[2.1]. Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Ngày 15/5/2022, ông Lê Đình H với ông Phạm văn K1, bà Nguyễn Thanh H1 ký Hợp đồng đặt cọc để ông Lê Đình H nhận chuyển nhượng từ ông K1, bà H1 02 thửa đất bao gồm: Thửa đất số 221, tờ bản đồ số 20, diện tích 1577,6m² địa chỉ: thôn T, xã H, huyện L, tỉnh Hòa Bình và thửa đất số 223, tờ bản đồ số 20, diện tích 118,9m² tại địa chỉ: thôn T, xã H, huyện L, tỉnh Hòa Bình với tổng số tiền các bên thỏa thuận chuyển nhượng cả 02 thửa đất theo ghi trong Hợp đồng đặt cọc là: 3.393.000.000 đồng (Ba tỷ, ba trăm chín mươi ba triệu đồng). Ông H đã đặt cọc cho ông K1 số tiền 300.000.000 đồng (Ba trăm triệu đồng), số tiền còn lại các bên sẽ thanh toán khi ký Hợp đồng chuyển nhượng công chứng tại Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.

Hợp đồng đặt cọc đến nay bên nhận tiền đặt cọc là ông K1, bà H1 cũng thừa nhận đã nhận khoản tiền đặt cọc từ ông H số tiền là 300.000.000 đồng. Do vậy, về hình thức của hợp đồng đặt cọc thì việc các bên giao kết hợp đồng đặt cọc đã hoàn tất.

Tuy nhiên, trên thực tế cả hai thửa đất các bên thỏa thuận tại thời điểm giao kết Hợp đồng đặt cọc là của người khác là ông Nguyễn Cao K2 đứng tên chủ sử dụng đất. Theo ông Phạm Văn K, đầu năm 2002, ông K có đứng ra đặt cọc để nhận chuyển nhượng thửa đất số 221 và thửa đất số 223, tờ bản đồ số 20 tại xã H, huyện L, tỉnh Hòa Bình của ông Nguyễn Cao K2 ở xã P, huyện L, tỉnh Hòa Bình. Sau khi đặt cọc thì ông K có rao bán lại và ông Lê Đình H đề nghị mua lại hai thửa đất trên.

Ông Phạm Văn K xuất trình cho Tòa án Giấy biên nhận tiền đặt cọc giữa ông Phạm Văn K với ông Nguyễn Cao K2 có nội dung: “Tên tôi là Nguyễn Cao K2; địa chỉ: khu C, huyện L, tỉnh Hòa Bình có nhận tiền đặt cọc bán mảnh đất thôn T, xã H, huyện L, tỉnh Hòa Bình...thửa đất số 221, tờ bản đồ số 20, thôn T, xã H, huyện L, tỉnh Hòa Bình với số tiền 2.800.000.000 đồng (Hai tỷ, tám trăm triệu đồng), bên mua đặt cọc số tiền 400.000.000 đồng (Bốn trăm triệu đông). Hẹn ngày 15/05/2022 thanh toán tiếp 1.600.000.000 đồng (Một tỷ, sáu trăm triệu đồng). Số tiền còn lại khi hoàn tất thủ tục bên mua phải thanh toán đủ cho bên bán....Ký: Người giao tiền: Phạm Văn K; Người nhận tiền: Nguyễn Cao K2”. Cũng trong ngày 15/05/2022, ông K nhận tiền đặt cọc từ ông Lê Đình H số tiền: 300.000.000 đồng.

Như vậy, tại thời điểm các bên (ông K, bà H1 và ông H) ký hợp đồng đặt cọc để chuyển nhượng đối với 02 thửa đất nêu trên, giữa ông K và ông Nguyễn Cao K2 mới dừng lại ở việc đặt cọc, chưa có việc ông K, ông K2 (chủ sử dụng đất) giao kết Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất công chứng và không có việc ông K được ông K2 ủy quyền thực hiện công việc giao dịch liên quan đến thửa đất trên. Do vậy, ông Phạm Văn K và bà Nguyễn Thanh H1 chưa có đầy đủ quyền đối với 02 thửa đất nên không có quyền chuyển nhượng đối với 02 thửa đất trên. Ông Lê Đình H khi có nhu cầu nhận chuyển nhượng cũng không xem xét ông K và bà H1 đã có quyền chuyển nhượng đối với 02 thửa đất hay chưa.

Tại Điều 1 của Hợp đồng đặt cọc có ghi: Bên bán đồng ý bán cho bên mua thửa đất số 221, tờ bản đồ số 20, diện tích 1.577,6m² và thửa đất số 223, tờ bản đồ số 20, diện tích 118,9m²; Điều 2: Thỏa thuận giá bán – Chuyển nhượng: Tổng số tiền là 3.393.000.000 đồng (Ba tỷ, ba trăm chín mươi ba triệu đồng)....và Điều 3: Thời hạn đặt cọc – Thanh toán là 40 ngày kể từ ngày 15/05/2022 đến ngày 25/06/2022 dương lịch bên bán nhận đủ tiền sẽ cùng bên mua làm thủ tục chuyển nhượng tại Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.

Thời điểm ông K và ông H thoả thuận mua bán và đặt cọc tiền thì 02 thửa đất (thửa đất số 221 và thửa đất số 223) vẫn chưa sang tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông K và bà H1 cũng như ông K và ông Nguyễn Cao K2 chưa làm hợp đồng công chứng để chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với 02 thửa đất (thửa đất số 221 và thửa đất số 223), khi đó việc mua bán, chuyển nhượng giữa ông K và ông Nguyễn Cao K2 mới chỉ trong giai đoạn làm hợp đồng đặt cọc và nội dung ghi trong Hợp đồng đặt cọc các bên cũng không thể hiện nội dung thỏa thuận giữa ông K và ông H liên quan đến việc chủ sử đất tại thời điểm các bên giao kết Hợp đồng đặt cọc là ông Nguyễn Cao K2 và ông K và ông K2 mới dừng lại ở việc ông K đặt cọc cho ông K2 để nhận chuyển nhượng 02 thửa đất nêu trên để

thống nhất việc ông H vẫn chấp nhận đặt cọc trong khi biết ông Nguyễn Cao K2 đang đứng tên chủ sử dụng đất nhưng vẫn đồng ý đặt cọc để nhận chuyển nhượng 02 thửa đất trên.

Như vậy, tại thời điểm lập hợp đồng đặt cọc ông K, bà H1 không đứng tên trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và chưa có quyền đầy đủ đối với 02 thửa đất nên việc ông K, bà H1 lập hợp đồng đặt cọc để chuyển nhượng 02 thửa đất đứng tên ông Nguyễn Cao K2 là không đúng quy định của pháp luật, do giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không đứng tên ông K, bà H1 nên việc chuyển nhượng sẽ không thể thực hiện được dẫn đến hợp đồng đặt cọc không phát sinh hiệu lực và vô hiệu.

Theo quy định tại Điều 131 của Bộ luật Dân sự năm 2015 về Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu quy định:

  1. Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm giao dịch được xác lập.
  2. Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận...

Do vậy, ông Phạm Văn K, bà Nguyễn Thanh H1 phải có trách nhiệm hoàn trả cho ông Lê Đình H số tiền đã nhận là: 300.000.000 đồng.

[2.2]. Về yêu cầu khoản tiền phạt cọc của Nguyên đơn:

Ông Lê Đình H khởi kiện yêu cầu ông Phạm Văn K và bà Nguyễn Thanh H1 phải hoàn trả cho ông H số tiền đặt cọc là: 300.000.000 đồng và ông K, bà H1 phải bồi cho ông H số tiền gấp 2 lần tiền cọc là: 600.000.000 đồng theo như đã cam kết trong Hợp đồng đặt cọc. Tuy nhiên, Hợp đồng đặt cọc các bên giao kết ngày 15/05/2022 có nội dung: “...Sau khi hợp đồng được ký kết, quá thời hạn thỏa thuận trên, nếu bên bán không bán, chuyển nhượng tài sản đã đặt cọc trên cho bên mua, thì bên bán phải bồi thường cho bên mua gấp 2 (hai) lần số tiền mà bên mua đã đặt cọc cho bên bán. Tổng số tiền hoàn trả và bồi thường là 600.000.000 đồng (Sáu trăm triệu đồng chẵn). Ngược lại nếu bên mua không tiến hành mua thì sẽ chịu mất số tiền đã đặt cọc trên.....”. Như vậy, số tiền phạt cọc các bên thỏa thuận trong Hợp đồng đặt cọc chỉ là 300.000.000 đồng chứ không phải phạt cọc 600.000.000 đồng theo như đơn khởi kiện. Tuy nhiên, tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khoản tiền phạt cọc là 600.000.000 đồng.

Như đã phân tích ở trên, khi giao dịch dân sự vô hiệu thì không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên tham gia giao dịch. Do vậy, yêu cầu khởi kiện của ông Lê Đình H yêu cầu ông K, bà H1 phải chịu khoản tiền phạt cọc là không có căn cứ để chấp nhận.

Do giao dịch giữa các bên thể hiện trong Hợp đồng đặt cọc ngày 15/05/2022 bị vô hiệu do vi phạm về chủ thể giao kết hợp đồng đặt cọc nên Tòa án không xem xét đến lý do ông Lê Đình H không tiến hành nhận chuyển nhượng do không đúng diện tích như đã thỏa thuận trong Hợp đồng đặt cọc ngày 15/05/2022 giữa: Bên mua là ông Lê Đình H với bên bán là ông Phạm Văn K, bà Nguyễn Thanh H3.

[3]. Về án phí:

+ Ông Lê Đình H phải chịu án phí Dân sự sơ thẩm trên số tiền phạt cọc 600.000.000 đồng không được chấp nhận là: 28.000.000 đồng.

+ Ông Phạm Văn K, bà Nguyễn Thanh H1 phải chịu án phí Dân sự sơ thẩm trên số tiền 300.000.000 đồng phải hoàn trả cho ông Lê Đình H là: 15.000.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 116, Điều 117, Điều 122; Điều 131; Điều 328; Điều 401; Điều 407; Điều 408 của Bộ Luật Dân sự năm 2915; Khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 235, Điều 244, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Lê Đình H về yêu cầu thực hiện hợp đồng đặt cọc.
  2. Tuyên bố Hợp đồng đặt cọc ngày 15/05/2024 giữa bên đặt cọc là ông Lê Đình H với bên nhận đặt cọc là ông Phạm Văn K và bà Nguyễn Thanh H1 vô hiệu. 2. Buộc ông Phạm Văn K và bà Nguyễn Thanh H1 phải trả cho ông Lê Đình H số tiền là: số tiền: 300.000.000 đồng (Ba trăm triệu đồng). Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
  3. Về án phí:
    • + Ông Lê Đình H phải chịu 28.000.000 đồng án phí Dân sự sơ thẩm.
    • + Ông Phạm Văn K, bà Nguyễn Thanh H1 phải chịu 15.000.000 đồng án phí Dân sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo:
    • + Nguyên đơn là ông Lê Đình H có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
    • + Ông Phạm Văn K, bà Nguyễn Thanh H1 vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ tại nơi cư trú.

Nơi nhận

  • - Các đương sự;
  • - TAND Tp.Hà Nội;
  • - VKSND H.Chương Mỹ;
  • - Chi cục THA H.Chương Mỹ;
  • - Lưu HSVA – VP;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Nguyễn Hoàng Long

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 162/2024/DSST ngày 30/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ - THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng đặt cọc

  • Số bản án: 162/2024/DSST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng đặt cọc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chấp nhận đơn khởi kiện
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger