TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ BẠC LIÊU TỈNH BẠC LIÊU | Độc lập – Tự do – Hạnh phúc ---------- |
Bản án số: 163/2024/DS-ST
Ngày 27 tháng 9 năm 2024
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHÓ BẠC LIÊU, TỈNH BẠC LIÊU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Chi
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Võ Minh Sơn
- Ông Lê Tuấn Kiệt
- Thư ký phiên tòa: Ông Trương Minh Hùng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Bà Trần Mỹ Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 09 năm 2024, tại Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 205/2024/TLST-DS ngày 21 tháng 5 năm 2024 về tranh chấp hợp đồng tín dụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 168A/2024/QĐXXST-DS ngày 21 tháng 8 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 157/2024/QÐST-DS ngày 10 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần K2. Trụ sở: số D P, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang. Người đại diện theo pháp luật: ông Trần Ngọc M chức vụ: Tổng giám đốc. Người đại diện theo ủy quyền: ông Lê Trung V – chức vụ: Phó Tổng giám đốc (theo văn bản ủy quyền số 3366/QĐ-NHKL ngày 21/8/2023). Ông Lê Trung V ủy quyền lại cho:
- - Ông Đinh Việt Q, chức vụ Giám đốc - Phòng xử lý nợ - Ngân hàng TMCP K2.
- - Bà Trương Thị Mỹ N, ông Trương Quốc K, bà Huỳnh Phương T, ông Trần Hải Đ, ông Phạm Quốc T1, chức vụ: Chuyên viên xử lý nợ - Phòng xử lý nợ - Ngân hàng TMCP K2 (theo văn bản ủy quyền số 4790/QĐ-NHKL ngày 21/02/2024)).
- Bị đơn: Bà Quách Dù K1, sinh năm 1957
- Địa chỉ: Số B, Khóm C, Phường B, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- + Anh Sơn Thanh T2, sinh năm 1980
- + Anh Sơn Thanh L, sinh năm 1983
- + Anh Sơn Thanh H, sinh năm 1985
- + Chị Sơn Thanh D, sinh năm 1989
- Cùng địa chỉ: Số B, Khóm C, phường B, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu.
- (Các đương sự vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Ông Sơn S và bà Quách Dù K1 có vay tiền tại Ngân hàng TMCP K2– Chi nhánh B thông qua Hợp đồng tín dụng từng lần số 473/21/HĐTD ngày 15/10/2021, nội dung như sau: số tiền vay 200.000.000 đồng; mục đích vay bổ sung vốn kinh doanh tạp hóa; lãi suất là 12.9%/năm cố định trong 03 tháng; Kể từ tháng thứ 4 lãi suất được điều chỉnh 03 tháng/lần biên độ cộng thêm 3,8%/năm; lãi quá hạn bằng 150% lãi trong hạn; lãi chậm trả 10%/năm. Thời hạn vay 12 tháng, ngày đến hạn trả nợ cuối cùng là ngày 16/10/2022, hình thức thanh toán, trả lãi và gốc hàng tháng và Ngân hàng đã giải ngân số tiền vay cho ông S, bà K1 xong vào ngày 16/10/2021. Để đảm bảo khoản vay ông Sơn S và bà Quách Dù K1 đã ký kết Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 642/20/HĐTC ngày 09/9/2020, qua đó thế chấp tài sản là quyền sử dụng đất diện tích 349,5m² đất ở tại đô thị và đất trồng cây lâu năm thuộc thửa số 186, tờ bản đồ số 6, đất tọa lạc tại Khóm C, Phường B, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu, được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số CQ713346 cho ông Sơn S vào ngày 07/5/2019. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, ông S và bà K1 chưa thanh toán hết nợ gốc lãi cho Ngân hàng và đã phát sinh nợ quá hạn.
Quá trình giải quyết vụ án và tại đơn yêu cầu ngày 27/9/2024, đại diện ngân hàng TMCP K2 xác định ông Sơn S đã chết và nay Ngân hàng chỉ yêu cầu bà Quách Dù K1 có trách nhiệm thanh toán toàn bộ nợ vay cho ngân hàng, tính đến ngày 27/9/2024 số tiền là 96.654.705 đồng (trong đó nợ gốc là 50.000.000 đồng, lãi quá hạn 46.654.705 đồng) và tiền lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng đã ký đến khi trả dứt nợ. Trường hợp bà Quách Dù K1 không thực hiện việc trả nợ thì Ngân hàng yêu cầu được phát mãi tài sản thế chấp nêu trên để thu hồi nợ. Ngân hàng TMCP K2 rút yêu cầu khởi kiện đối với khoản nợ vốn là 90.000.000 đồng.
* Bị đơn bà Quách Dù K1 trình bày: Bà K1 thừa nhận bà và chồng là ông Sơn S có vay tiền tại Ngân hàng TMCP K2– Chi nhánh B với hợp đồng tín dụng như đại diện nguyên đơn xác định là Hợp đồng tín dụng từng lần số 473/21/HĐTD ngày 15/10/2021, nội dung như sau: số tiền vay 200.000.000 đồng; mục đích vay bổ sung vốn kinh doanh tạp hóa; lãi suất là 12.9%/năm cố định trong 03 tháng; Kể từ tháng thứ 4 lãi suất được điều chỉnh 03tháng/lần biên độ cộng thêm 3,8%/năm; lãi quá hạn bằng 150% lãi trong hạn; lãi chậm trả 10%/năm. Thời hạn vay 12 tháng, ngày đến hạn trả nợ cuối cùng ngày 16/10/2022, hình thức thanh toán, trả lãi và gốc hàng tháng. Ông S và bà đã được ngân hàng giải ngân xong. Đối với yêu cầu trả nợ vay của ngân hàng bà đồng ý trả. Nay do ông S đã mất, hoàn cảnh gia định khó khăn nên bà K1 xin Ngân hàng cho thêm thời gian để trả nợ.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Sơn Thanh T2, anh Sơn Thanh L, anh Sơn Thanh H và chị Sơn Thanh D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do và không có ý kiến gửi đến Tòa án.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành đúng quy định về quyền và nghĩa vụ khi tham gia tố tụng, đại diện nguyên đơn và bị đơn có đơn xin vắng theo quy định, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt không lý do nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt các đương sự.
Nội dung vụ án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần K2 đối với bà Quách Dù K1. Buộc Quách Dù K1 thanh toán số tiền còn nợ theo hợp đồng vay tính đến ngày 27/9/2024 số tiền là 96.654.705 đồng (trong đó nợ gốc là 50.000.000 đồng, lãi quá hạn 46.654.705 đồng) và tiền lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng đã ký đến khi trả dứt nợ. Trường hợp bà Quách Dù K1 không thực hiện việc trả nợ thì Ngân hàng yêu cầu được phát mãi tài sản thế chấp nêu trên để thu hồi nợ. Đình chỉ yêu cầu của Ngân hàng TMCP K2 đối với khoản nợ vốn là 90.000.000 đồng do nguyên đơn rút yêu cầu.
Bà Quách D1 Khi được miễn án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có lưu trong hồ sơ vụ án; quan điểm của đại diện Viện kiểm sát; sau khi thảo luận, nghị án; Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1] Thẩm quyền giải quyết: Ngân hàng Thương mại Cổ phần K2 (sau gọi tắt là Ngân hàng) khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Sơn S và bà Quách Dù K1 trả nợ vay theo hợp đồng tín dụng đã ký kết. Bị đơn có địa chỉ cư trú tại thành phố B. Nên đây là tranh chấp hợp đồng tín dụng quy định tại khoản 3 Điều 26 và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Quá trình giải quyết vụ án và tại đơn yêu cầu ngày 27/9/2024, người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện xác định yêu cầu bà Quách Dù K1 có nghĩa vụ trả tiền nợ vay. Xét thấy, theo biên bản xác minh địa phương, ông Sơn S đã chết năm 2022, có vợ là bà Quách Dù K1 và 04 con là anh Sơn Thanh T2, anh Sơn Thanh L, anh Sơn Thanh H và chị Sơn Thanh D, cha mẹ ông S đã chết trước đó. Như vậy, đến thời điểm xét xử, bà K1, anh T2, anh L, anh H và chị D là hàng thừa kế hợp pháp của ông S và di sản của ông S vẫn chưa chia thừa kế. Căn cứ Điều 612, 613, 614 và Điều 615 Bộ luật Dân sự, bà K1, anh T2, anh L, anh H và chị D có nghĩa vụ đối với phần nợ của ông S và trách nhiệm về tài sản thế chấp tại Ngân hàng TMCP K2. Đại diện ngân hàng yêu cầu bà Quách Dù K1 trả nợ nên bị đơn là bà K1 và các con ông S là anh T2, anh L, anh H và chị D là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án theo khoản 4 Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Xét xử vắng mặt đương sự: Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn và bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan từ khi đưa tham gia tố tụng đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vắng mặt không lý do. Hội đồng xét xử căn cứ điểm b, khoản 2 Điều 227 và khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt các đương sự.
[4] Về nội dung vụ án: Xét yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần K2.
Xét Hợp đồng tín dụng từng lần số 473/21/HĐTD ngày 15/10/2021, nội dung như sau: số tiền cho vay 200.000.000 đồng; mục đích vay bổ sung vốn kinh doanh tạp hóa; lãi suất là 12.9%/năm cố định trong 03 tháng; Kể từ tháng thứ 4 lãi suất được điều chỉnh 03 tháng/lần biên độ cộng thêm 3,8%/năm; lãi quá hạn bằng 150% lãi trong hạn; lãi chậm trả 10%/năm. Thời hạn vay 12 tháng, ngày đến hạn trả nợ cuối cùng ngày 16/10/2022, hình thức thanh toán, trả lãi và gốc hàng tháng. Tại Giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 473/21/KUNN thể hiện Ngân hàng đã giải ngân cho ông S, bà K1 vào ngày 16/10/2021 đủ số tiền vay. Bị đơn bà Quách D1 Khi đã thừa nhận có ký hợp đồng tín dụng với Ngân hàng và còn nợ tiền vay như nguyên đơn xác định và đồng ý trả toàn bộ nợ vay. Căn cứ Điều 92 Bộ luật Tố tụng Dân sự đây là tình tiết không phải chứng minh.
Hội đồng xét xử xét thấy, hợp đồng tín dụng nêu trên có hình thức, nội dung thỏa thuận phù hợp theo quy định pháp luật tại thời điểm ký kết. Các bên thoả thuận lãi suất trong hạn, lãi suất quá hạn được nêu trong hợp đồng tín dụng phù hợp với quy định Bộ luật Dân sự năm 2015. Bị đơn xác định còn nợ tiền vay và thống nhất trả nợ cho nguyên đơn. Mặt khác, hiện tại ông Sơn S đã chết nên Ngân hàng Thương mại cổ phần K2 yêu cầu bà Quách Dù K1 trả nợ theo hợp đồng tín dụng đã ký kết và bà K1 cũng đồng ý trả toàn bộ nợ vay như Ngân hàng yêu cầu. Đây là sự tự nguyện của các đương sự, không trái quy định pháp luật nên được chấp nhận. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng TMCP K2 về việc yêu cầu bà Quách Dù K1 thanh toán nợ vay với tổng số tiền tính đến ngày 27/9/2024 là 96.654.705 đồng (trong đó nợ gốc là 50.000.000 đồng, lãi quá hạn 46.654.705 đồng) và tiền lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng đã ký đến khi trả dứt nợ. Đồng thời bà Quách Dù K1 phải chịu trách nhiệm trả tiền lãi phát sinh theo Hợp đồng tín dụng đã ký từ ngày 28/9/2024 cho đến khi trả dứt nợ.
[5] Xét yêu cầu về quyền xử lý tài sản thế chấp: Để đảm bảo khoản vay tại Ngân hàng, ông S, bà K1 đã ký Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 642/20/HĐTC-BĐS/0200-5332 ngày 09/9/2020, nội dung thế chấp tài sản là quyền sử dụng đất diện tích 349,5m² đất ở tại đô thị và đất trồng cây lâu năm thuộc thửa số 186, tờ bản đồ số 6, đất tọa lạc tại Khóm C, Phường B, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu, được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số CQ713346 cho ông Sơn S vào ngày 07/5/2019 và tài sản trên đất. Hội đồng xét xử xét thấy, ông S, bà K1 đã ký kết hợp đồng thế chấp trên với Ngân hàng trên cơ sở tự nguyện thỏa thuận và được công chứng theo quy định. Hợp đồng đã được đăng ký thế chấp tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố B. Việc giao kết hợp đồng thế chấp đảm bảo đúng theo quy định tại Điều 317, 318, 319, 320 Bộ luật Dân sự, Điều 27 Luật Đất đai Hợp đồng ghi nhận quyền thanh lý tài sản thế chấp cho Ngân hàng, nay bị đơn đã vi phạm Hợp đồng tín dụng như đã phân tích nêu trên nên Ngân hàng yêu cầu quyền xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ là phù hợp có căn cứ chấp nhận.
[6] Theo Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 01/8/2024 thể hiện hiện trạng các tài sản thế chấp diện tích đất 349,5m², trong đó 150m² đất ở tại đô thị, 199,5m² đất trồng cây lâu năm thuộc thửa đất số 186, tờ bản đồ số 6, theo giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số CQ713346 cấp ngày 07/5/2019 có tài sản trên đất gồm 01 căn nhà ở loại IV. Kết cấu khung cột bê tông cốt thép, tường xây gạch bao quanh (có dán gạch ốp tường cao trên 01m + sơn tường), nền gạch men, mái lợp tole xi măng; đòn tay gỗ dầu, mặt tiền trước xây gạch (có dán gạch mặt tiền) và xây gạch mặt sau; Mái che phía trước: khung cột sắt tiền chế, mái lợp tole, phía dưới nền lót gạch nhám; Hàng rào phía trước: Khung sắt và song bằng sắt, cổng rào có kết cấu như nhau; 04 cây dừa, 02 cây ổi. Toàn bộ các tài sản nêu trên hiện tại vẫn do bà Quách Dù K1 đang quản lý, sử dụng. Ông Sơn S đã chết năm 2022, hàng thừa kế thứ nhất của ông S là bà Quách Dù K1, anh Sơn Thanh T2, anh Sơn Thanh L, anh Sơn Thanh H và chị Sơn Thanh D.
Hội đồng xét xử xét thấy, đến thời điểm hiện tại tài sản thế chấp có một phần là di sản thừa kế của ông S nhưng các bên chưa chia thừa kế và vẫn được đảm bảo để thi hành nghĩa vụ về tài sản của ông S chết để lại. Căn cứ theo khoản 2 Điều 615 Bộ luật Dân sự quy định: “Trường hợp di sản chưa được chia thì nghĩa vụ tài sản do người chết để lại được người quản lý di sản thực hiện theo thỏa thuận của những người thừa kế trong phạm vi di sản do người chết để lại”. Theo đó, phần nghĩa vụ tài sản của ông S đối với ngân hàng TMCP K2 được thực hiện trong phạm vi di sản của ông S để lại theo hợp đồng thế chấp đã ký kết với ngân hàng. Do đó, việc Ngân hàng yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp trường hợp phải thanh toán nghĩa vụ trả nợ của ông S là phù hợp, có căn cứ chấp nhận. Những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông S gồm bà K1 và các con có nghĩa vụ giao tài sản khi Cơ quan thi hành án phát mãi tài sản để thu hồi nợ cho nguyên đơn.
[7] Đối với số tiền vốn 90.000.000 đồng nguyên đơn có đơn rút yêu cầu, xét đây là sự tự nguyện của đương sự, phù hợp quy định nên Hội đồng xét xử chấp nhận và đình chỉ.
[8] Về chi phí xem xét, thẩm định tài sản thế chấp: Do chấp nhận yêu cầu khởi kiện về hợp đồng thế chấp của Ngân hàng thương mại cổ phần K2, nên bà Quách Dù K1 phải chịu toàn bộ chi phí xem xét, thẩm định tài sản thế chấp theo quy định của pháp luật.
[9] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Quách Dù K1 phải nộp án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch. Nhưng bà K1 thuộc trường hợp được miễn án phí và có đơn xin miễn án phí theo quy định tại điểm đ, khoản 1, Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Do đó xét miễn án phí dân sự sơ thẩm cho bà Quách Dù K1.
Ngân hàng Thương mại cổ phần K2 không phải nộp án phí, nay được hoàn lại tiền tạm ứng án phí đã nộp.
[10] Đề nghị của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 1 Điều 207; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 271, Điều 273; Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Căn cứ các Điều 292, 295, 298, 299, 317; khoản 1 Điều 318, Điều 319, 463, 466, 468; Điều 612, 613, 614 và Điều 615 Bộ luật Dân sự.
- - Căn cứ Điều 100, 103, điểm a khoản 3 Điều 107 Luật các Tổ chức tín dụng.
- - Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Đình chỉ đối với số tiền vốn nguyên đơn rút yêu cầu là 90.000.000 đồng. (Chín mươi triệu đồng)
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần K2 đối với bà Quách Dù K1.
- Buộc bà Quách Dù K1 có trách nhiệm trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần K2 tổng số tiền nợ vay tính đến ngày 27/9/2024 số tiền là 96.654.705 đồng (trong đó nợ gốc: 50.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn: 0 đồng, lãi quá hạn: 46.654.705 đồng).
- Buộc bà Quách Dù K1 tiếp tục trả lãi phát sinh theo Hợp đồng tín dụng ngày 15 tháng 10 năm 2021, kể từ ngày 28 tháng 9 năm 2024 cho đến ngày thực tế bà Quách Dù K1 trả hết nợ cho Ngân hàng thương mại cổ phần K2.
- Trường hợp bà Quách Dù K1 không thực hiện đúng nghĩa vụ thanh toán khoản nợ nêu trên thì Ngân hàng TMCP K2 có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp để thu hồi toàn bộ nợ vay theo quy định của pháp luật là quyền sử dụng đất tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CQ713346 ngày 07/5/2019, cấp cho ông Sơn S, diện tích 349,5m², tại thửa đất số 186, tờ bản đồ 6, loại đất ở đô thị 150m²; đất trồng cây lâu năm 199,5m², tại Khóm C, Phường B, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu và tài sản khác gắn liền.
- Về chi phí xem xét thẩm định tại chổ là 750.000 đồng. Bà Quách Dù K1 phải chịu toàn bộ. Ngân hàng Thương mại Cổ phần K2 đã dự nộp và chi số tiền 750.000 đồng nên Bà Quách Dù K1 phải hoàn lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần K2 số tiền 750.000 đồng (Bảy trăm năm mươi nghìn đồng).
- Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: bà Quách Dù K1 thuộc trường hợp được miễn án phí và có đơn xin miễn án phí theo quy định tại điểm đ, khoản 1, Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án nên được miễn nộp án phí.
- Trong trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Án xử công khai, các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
Buộc bà Quách Dù K1 và người thừa kế của ông S là bà Quách Dù K1, anh Sơn Thanh T2, anh Sơn Thanh L, anh Sơn Thanh H và chị Sơn Thanh D có nghĩa vụ giao lại tài sản cho cơ quan thi hành án có thẩm quyền để thi hành cho nguyên đơn khi có yêu cầu.
Ngân hàng Thương mại Cổ phần K2 không phải chịu án phí. Ngân hàng đã dự nộp tạm ứng án phí số tiền 4.606.000 đồng (Bốn triệu, sáu trăm lẻ sáu ngàn đồng) theo biên lai số 0002689 ngày 20 tháng 5 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu được hoàn lại toàn bộ.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Phạm Thị Chi |
Bản án số 163/2024/DS-ST ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU, TỈNH BẠC LIÊU về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 163/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU, TỈNH BẠC LIÊU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn
