Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT

TỈNH ĐĂK LĂK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 162/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 27 - 8 - 2024

V/v tranh chấp ly hôn và con chung

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐĂK LĂK

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

    Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Kim Cúc

    Các hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Lê Văn Tập
  2. Ông Bùi Ngọc Thảo

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Đình Phan – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đăk Lăk.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột tham gia phiên tòa: Ông Lê Minh Thuận – Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 8 năm 2024, tại phòng xử án - Toà án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 543/2024/TLST-HNGĐ, ngày 17 tháng 6 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn và con chung”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 161/2024/QĐXXST –HNGĐ ngày 01 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 125/2024/QÐST-HNGĐ ngày 19 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thu S - sinh năm 1986

Địa chỉ: Số B, đường T, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Có mặt

2. Bị đơn: Ông Trần Văn T - sinh năm 1984

Địa chỉ: B T, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

*Tại bản lấy lời khai ngày 08/7/2024 và quá trình giải quyết vụ án, Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thu S trình bày: Bà và ông Trần Văn T đã tự nguyện chung sống với nhau và đã đăng ký kết hôn vào ngày 04/9/2008 tại UBND huyện Đ, tỉnh Đắk Nông trên cơ sở tự nguyện. Sau một thời gian chung sống với nhau thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn không hợp nhau, bất đồng quan điểm. Xét thấy tình cảm không còn nên bà S đề nghị Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông T.

- Về con chung: Trong quá trình chung sống bà Nguyễn Thị Thu S và ông Trần Văn T có 03 con chung là cháu Trần Tuấn V sinh ngày 27/8/2007, cháu Trần Thị Cẩm V1 sinh ngày 05/01/2009, cháu Trần Tuấn V2 sinh ngày 31/10/2014. Bà S có nguyện vọng được chăm sóc nuôi dưỡng cả 3 cháu và không yêu cầu ông T cấp dưỡng. Tuy nhiên tại phiên tòa bà S xác định nếu nguyện vọng của 3 cháu là ở với cha thì bà S đồng ý giao cả 3 cháu cho ông T chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành.

Về cấp dưỡng: Bà Nguyễn Thị Thu S và ông Trần Văn T tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung và nợ chung:Nguyễn Thị Thu S và ông Trần Văn T tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

*Tại bản lấy lời khai ngày 11/7/2024 và tại phiên tòa bị đơn ông Trần Văn T trình bày:

Ông và bà Nguyễn Thị Thu S đã tự nguyện chung sống với nhau và đã đăng ký kết hôn vào ngày 04/9/2008 tại UBND huyện Đ, tỉnh Đắk Nông trên cơ sở tự nguyện. Sau một thời gian chung sống với nhau thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn cũng có bất đồng quan điểm, cãi vã nhau, nhưng ông T xác định vợ chồng vẫn còn tình cảm, nên ông không đồng ý ly hôn. Đề nghị Tòa án hòa giải cho 2 vợ chồng đoàn tụ.

- Về con chung: Trong quá trình chung sống ông T và bà S có 3 con chung là cháu Trần Tuấn V sinh ngày 27/8/2007, cháu Trần Thị Cẩm V1 sinh ngày 05/01/2009, cháu Trần Tuấn V2 sinh ngày 31/10/2014. Nếu Tòa án giải quyết ly hôn thì ông T có nguyện vọng được nuôi cả 3 cháu đến tuổi trưởng thành.

Về cấp dưỡng: Ông Trần Văn T không yêu cầu bà S cấp dưỡng.

- Về tài sản chung và nợ chung:Nguyễn Thị Thu S và ông Trần Văn T tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

*Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột trình bày:

Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của bà Nguyễn Thị Thu S. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thu S được ly hôn với ông Trần Văn T. Về con chung: Giao cháu Trần Tuấn V sinh ngày 27/8/2007, cháu Trần Thị Cẩm V1 sinh ngày 05/01/2009, cháu Trần Tuấn V2 sinh ngày 31/10/2014 cho cha là ông Trần Văn T chăm sóc nuôi dưỡng tới tuổi trưởng thành. Bà Nguyễn Thị Thu S được quyền thăm nom chăm sóc con chung mà không ai được cản trở. Về cấp dưỡng, về tài sản chung và nợ chung tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thu S tranh chấp ly hôn và con chung với ông Trần Văn T, địa chỉ cư trú tại thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, thì đây là vụ án “Tranh chấp ly hôn và con chung” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thu S và ông Trần Văn T tự nguyện tìm hiểu, đủ điều kiện kết hôn và đã đăng ký kết hôn vào ngày 04/9/2008 tại UBND huyện Đ, tỉnh Đắk Nông trên cơ sở tự nguyện nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp.

Nguyễn Thị Thu S và ông Trần Văn T đã chung sống hạnh phúc một thời gian thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung. Hiện nay bà S xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên đã nộp đơn đề nghị giải quyết xin ly hôn với ông T. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng các đương sự không thống nhất được với nhau.

Qua xác minh tại chính quyền địa phương. Đại diện chính quyền địa phương cho biết: “Về mâu thuẫn giữa hai vợ chồng thì chính quyền địa phương không nắm được vì vợ chồng không làm thủ tục hòa giải tại địa phương”.

Hội đồng xét xử xét thấy, quan hệ hôn nhân được xây dựng trên cơ sở tự nguyện của hai bên, tại phiên tòa ông T vẫn giữ nguyên quan điểm không đồng ý ly hôn với bà S. HĐXX xét thấy, bà S và ông T hiện đã sống ly thân, vợ chồng không có tiếng nói chung, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy Hội đồng xét xử xét thấy, cần chấp nhận đơn khởi kiện của bà Nguyễn Thị Thu S, cho bà S được ly hôn với ông T.

[2.2] Về con chung: Trong quá trình chung sống bà Nguyễn Thị Thu S và ông Trần Văn T có 03 con chung là cháu Trần Tuấn V sinh ngày 27/8/2007, cháu Trần Thị Cẩm V1 sinh ngày 05/01/2009, cháu Trần Tuấn V2 sinh ngày 31/10/2014. Hiện cháu đang sống với cha là ông T. Tại bản tự khai tại tòa, các cháu V, V1, V2 đều có nguyện vọng được ở với cha là ông T. Bà S có nguyện vọng được nuôi cả 3 cháu hoặc nuôi cháu V2 sinh năm 2014. Tuy nhiên tại phiên tòa bà S xác nhận nếu cả 3 cháu V, cháu V1, cháu V2 đều có nguyện vọng ở với cha là ông T và ông T đồng ý chăm sóc nuôi dưỡng cả 3 cháu thì bà S đồng ý giao cả 03 cháu cho cha là ông T.

Tại phiên tòa ông T đồng ý được chăm sóc nuôi dưỡng cả 3 cháu tới tuổi trưởng thành.

Hội đồng xét xử xét thấy, hiện các cháu đều đang ở với cha, đồng thời các cháu đều có nguyện vọng được ở với cha, ông T và bà S đồng ý thỏa thuận với nhau về con chung. Nên HĐXX xét thấy để phù hợp với thực tế và đảm bảo được quyền và lợi ích của con chung nên căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình, giao con chung là cháu Trần Tuấn V sinh ngày 27/8/2007, cháu Trần Thị Cẩm V1 sinh ngày 05/01/2009, cháu Trần Tuấn V2 sinh ngày 31/10/2014 cho cha là ông Trần Văn T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là có căn cứ.

[2.3] Về cấp dưỡng: Bà Nguyễn Thị Thu S và ông Trần Văn T tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[2.4] Về tài sản chung và nợ chung: Bà Nguyễn Thị Thu S và ông Trần Văn T tự thỏa thuận và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Về án phí: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thu S phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định, bị đơn ông Trần Văn T không phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ: Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình.

Căn cứ: Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

Tuyên xử : Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thu S

1. Về quan hệ hôn nhân:Nguyễn Thị Thu S được ly hôn với ông Trần Văn T.

2. Về con chung:

Giao cháu Trần Tuấn V sinh ngày 27/8/2007, cháu Trần Thị Cẩm V1 sinh ngày 05/01/2009, cháu Trần Tuấn V2 sinh ngày 31/10/2014 cho cha là ông Trần Văn T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành.

Nguyễn Thị Thu S được quyền thăm nom chăm sóc con chung mà không ai có quyền cản trở.

3. Về cấp dưỡng:Nguyễn Thị Thu S và ông Trần Văn T tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về tài sản chung và nợ chung:Nguyễn Thị Thu S và ông Trần Văn T tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

5. Về án phí:Nguyễn Thị Thu S phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm; được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí mà Nguyễn Thị Thu S đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số: AA/2023/0010265 ngày 06/6/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Buôn Ma Thuột.

Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đắk Lắk;
  • - VKSND Tp. BMT;
  • - Chi Cục THADS Tp. BMT;
  • - Đương sự;
  • - UBND huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông;
  • - Lưu hồ sơ tại tòa án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Kim Cúc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 162/2024/HNGĐ-ST ngày 27/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐĂK LĂK về tranh chấp ly hôn và con chung

  • Số bản án: 162/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn và con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐĂK LĂK
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Thu S xin ly hôn Trần Văn T
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger