Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CON CUÔNG

TỈNH NGHỆ AN

Bản án số: 162/2024/ST-HNGĐ

Ngày 26/9/2024

“V/v Tranh chấp Hôn nhân và gia đình”.

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

————————————

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CON CUÔNG - TỈNH NGHỆ AN

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lữ Thị Dung

Các hội thẩm nhân dân: Bà La Thị Huyền; Bà Lương Thị Thùy Dung

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Lê - Thư ký Toà án nhân dân huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Hoan - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 118/2024/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 7 năm 2024 về việc “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 61/2024/QĐXX-ST, ngày 05 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Ngân Thị M - sinh năm 1995 – có đơn xin vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Lê Văn H - sinh năm 1988 - vắng mặt.

Đều trú tại: Bản K, xã C, huyện C, tỉnh Nghệ An.

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Phạm Thế K - Trợ giúp viên thuộc trung tâm T1. có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, chị Ngân Thị M trình bày: Chị Ngân Thị M và anh Lê Văn H kết hôn vào ngày 03/12/2014, đăng ký kết hôn tại UBND xã C, huyện C, tỉnh Nghệ An, việc kết hôn là hoàn toàn tự nguyện. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc được một thời gian, đến năm 2023 thì bắt đầu xẩy ra nhiều mâu thuẫn, vợ chồng thường xuyên cãi vã, xúc phạm lẫn nhau, nguyên nhân do vợ chồng không chia sẻ với nhau những khó khăn trong cuộc sống, không quan tâm và yêu thương nhau, anh H hay uống rượu, tụ tập bạn bè, không quan tâm đến vợ con, vợ chồng sống ly thân từ năm 2023 cho đến nay không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, tình cảm vợ chồng không còn nên chị M làm đơn đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Lê Văn H.

Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng chị M có 01 người con chung là Lê Chu B - sinh ngày 09/6/2014, nếu ly hôn chị M có nguyện vọng trực tiếp nuôi con chung và không yều cầu anh H phải cấp dưỡng tiền nuôi con.

Về tài sản chung: Chị Ngân Thị M không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Vợ chồng chị M không nợ tổ chức, cá nhân nào và cũng không ai nợ vợ chồng chị .

Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm anh Lê Văn H đều vắng mặt, mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ giấy triệu tập nhiều lần nên Tòa án không thể tiến hành các thủ tục tố tụng theo quy định tại Điều 204; 207; 208 và Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày: Về tình cảm: Chị Ngân Thị M và anh Lê Văn H đăng ký kết hôn tại UBND xã C, huyện C, tỉnh Nghệ An trên cơ sở tự nguyện, đảm bảo các điều kiện về thủ tục kết hôn. Tuy nhiên trong quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên xẩy ra mâu thuẫn, vợ chồng sống ly thân đã lâu không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện cho chị Ngân Thị M được ly hôn anh Lê Văn H; Về con chung: Vợ chồng chị M có 01 người con chung là là Lê Chu B – sinh ngày 09/6/2014. Hiện tại đang sống cùng chị M, nếu ly hôn chị M có nguyện vọng trực tiếp nuôi con chung và không yều cầu anh H phải cấp dưỡng tiền nuôi con, nguyện vọng của cháu Lê Chu B mong muốn được sinh sống cùng với mẹ, để đảm bảo quyền lợi của con đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giao con chung cho chị M trực tiếp nuôi dưỡng; Về cấp dưỡng nuôi con và tài sản chung của vợ chồng chị M không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Con Cuông phát biểu ý kiến theo quy định tại Điều 262 Bộ luật tố tụng dân sự như sau:

- Về tố tụng:

+ Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

+ Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng; nguyên đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật, bị đơn chưa chấp hành đúng các quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51; Điều 53; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Ngân Thị M được ly hôn với anh Lê Văn H và chấm dứt quan hệ hôn nhân kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật; Về con chung: Giao con chung Lê Chu B – sinh ngày 09/6/2014 cho chị M trực tiếp nuôi dưỡng; Về cấp dưỡng nuôi con và tài sản chung của vợ chồng chị M không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét; Về án phí chị M phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng:

Đây là vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình, bị đơn hiện cư trú tại bản K, xã C, huyện C, tỉnh Nghệ An nên Tòa án nhân dân huyện Con Cuông thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Qua xác minh tình trạng hôn nhân của chị Ngân Thị M và anh Lê Văn H tại UBND xã C, huyện C cho biết, sau khi đăng ký kết hôn chị M và anh H sinh sống tại bản K, xã C, huyện C, vợ chồng chung sống một thời gian thì cùng nhau đi làm ăn xa, hiện tại anh H không có mặt ở địa phương đi đâu chính quyền, địa phương không biết vì anh H không khai báo cắt khẩu tạm trú, tạm vắng. Tại biên bản lấy lời khai bà Trần Thị T - Trú tại Bản K, xã C, huyện C là mẹ đẻ của anh Lê Văn H cho biết, sau khi anh H và chị M kết hôn thì sống tại gia đình bà một thời gian, sau đó làm nhà ra ở riêng, từ năm 2020 thì hai vợ chồng thường xuyên xẩy ra mâu thuẫn, nguyên nhân không có việc làm, kinh tế khó khăn nên thường xuyên cãi vã nhau, năm 2023 chị M đi làm công ty thì tình cảm vợ chồng ngày càng xa cách dần, mỗi người đi một hướng nay chị M làm đơn ly hôn thì tùy các con quyết định, gia đình không có ý kiến gì, còn anh H hiện tại đang đi làm ăn xa, địa chỉ cụ thể thì bà T không biết, bà T cũng đã gọi điện thông báo cho anh H biết về việc bà đã nhận các văn bản của Tòa án đến tống đạt cho anh H và khuyên nhủ anh H về giải quyết ly hôn nhưng anh H không về, đề nghị xử vắng mặt.

Như vậy, bị đơn anh Lê Văn H vắng mặt nơi cư trú mà không rõ thời điểm trở về và cũng không xác định được nơi cư trú mới. Theo quy định tại Điều 40; điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự thì được coi là cố tình che giấu địa chỉ nên Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án theo thủ tụng chung là phù hợp với hướng dẫn tại điểm a khoản 2 Điều 6 nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Lê Văn H đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, giấy triệu tập để trình bày ý kiến; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử quyết định đưa vụ án ra xét xử vắng mặt anh Lê Văn H theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn anh Lê Văn H không nộp văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện nên Tòa án căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ mà nguyên đơn đã giao nộp và Tòa án thu thập được để giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 96 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung:

Xét thấy chị Ngân Thị M và anh Lê Văn H đăng ký kết hôn vào ngày 03/12/2014, đăng ký kết hôn tại UBND xã C, huyện C, tỉnh Nghệ An, việc đăng ký kết hôn là tự nguyện, không vi phạm quy định về điều kiện và thủ tục kết hôn theo quy định tại Điều 8; Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình. Như vậy, quan hệ hôn nhân giữa chị Ngân Thị M và anh Lê Văn H là hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng chị M phát sinh mâu thuẫn và sống ly thân với nhau từ năm 2023 cho đến nay, không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, như vậy chị M và anh H đã vi phạm tình nghĩa vợ chồng.

Tại phiên tòa anh Lê Văn H vắng mặt không có ý kiến trình bày nhưng qua xác minh tại địa phương và gia đình cho biết: Quá trình kết hôn và chung sống vợ chồng chị M xẩy ra nhiều mâu thuẫn và đã ly thân từ 2023 cho đến nay không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau, hiện tại anh H không có mặt ở địa phương đi đâu chính quyền, địa phương không biết vì anh H không khai báo cắt khẩu tạm trú, tạm vắng. Xét thấy tình cảm vợ chồng giữa chị Ngân Thị M và anh Lê Văn H không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần áp dụng Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn cho chị Ngân Thị M được ly hôn với anh Lê Văn H.

Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng chị M có 01 người con chung là Lê Chu B – sinh ngày 09/6/2014. Hiện tại đang sống cùng chị M, nếu ly hôn chị M có nguyện vọng trực tiếp nuôi con chung và không yều cầu anh H phải cấp dưỡng tiền nuôi con, nguyện vọng của cháu Lê Chu B mong muốn được sinh sống cùng với mẹ. Do hiện nay anh H không có mặt ở địa phương, việc giao con cho anh H nuôi dưỡng là không đảm bảo điều kiện về mọi mặt của con. Xét thấy nguyện vọng của chị M là chính đáng, cháu Chu B có nguyện vọng được trực tiếp sinh sống cùng với mẹ, để đảm bảo quyền lợi của con nên xét giao con chung cho chị M trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi, trưởng thành. Về cấp dưỡng nuôi con do chị M không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung: Chị Ngân Thị M và anh Lê văn H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên căn cứ vào khoản 1 Điều 5 của Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Chị Ngân Thị M phải nộp án phí ly hôn theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng: Điều 51; Điều 53; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; Điều 39; Điều 207; Điều 227; Điều 228; Điều 238 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự. Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của chị Ngân Thị M.

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Ngân Thị M được ly hôn với anh Lê Văn H và chấm dứt quan hệ hôn nhân kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

- Về con chung: Giao con chung Lê Chu B – sinh ngày 09/6/2014 cho chị Ngân Thị M trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi tròn 18 tuổi, trưởng thành. Anh Lê Văn H có quyền thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở, vì lợi ích mọi mặt của con khi cần thiết một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu thay đổi cấp dưỡng nuôi con hoặc người trực tiếp nuôi con. Chị M cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

- Về án phí: Áp dụng khoản 4 điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a, khoản 5 điều 27 Nghị quyết số 326/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, chị Ngân Thị M phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí chị M đã nộp 300.000 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An theo biên lai thu tiền số 0000683 ngày 22/7/2024.

Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh NA;
  • - VKSND huyện Con Cuông;
  • - Chi cục THADS huyện Con Cuông;
  • - Nguyên đơn, bị đơn;
  • - UBND xã Mậu Đức;
  • - Lưu hồ sơ -VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Đã ký

Lữ Thị Dung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 162/2024/ST-HNGĐ ngày 26/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CON CUÔNG - TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 162/2024/ST-HNGĐ
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CON CUÔNG - TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án ly hôn giữa chị M và anh H
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger