TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU TỈNH SƠN LA Bản án số: 162/2024/HS-ST Ngày 15 - 7 - 2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tăng Thị Hải Oanh.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đỗ Thị Chúc và bà Hoàng Thị Hội.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Lệ Giang, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Hải, Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 158/2023/TLST-HS ngày 07 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 165/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 7 năm 2024 đối với:
Lò Văn Q, sinh ngày: 29/10/2004 tại huyện M, tỉnh Sơn La; nơi cư trú: Bản P, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La.; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 10/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lò Văn T và bà Bùi Thị H; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị can được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
Bị hại: Anh Bùi Văn D - sinh năm: 2003. Nơi cư trú: Bản P, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La (đã chết).
Người đại diện theo pháp luật của bị hại: Ông Bùi Văn N, sinh năm: 1972 và bà Lường Thị L, sinh năm: 1967. Cùng cư trú tại: Bản P, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La, đều có mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Bùi Văn N và bà Lường Thị L: Chị Hà Thị C - sinh năm: 1994. Nơi cư trú: Bản P, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La, có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Bùi Văn N, sinh năm: 1972 và bà Lường Thị L, sinh năm: 1967. Cùng cư trú tại: Bản P, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La, đều có mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Bùi Văn N và bà Lường Thị L: Chị Hà Thị C - sinh năm: 1994. Nơi cư trú: Bản P, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La, có mặt.
- Ông Lò Văn T - sinh năm: 1983 và bà Bùi Thị H - sinh năm: 1983. Cùng cư trú tại: Bản P, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La, đều có mặt.
Người làm chứng: Anh Cà Xuân H1 - sinh năm: 1989. Nơi cư trú: Tiểu khu C, thị trấn Nông Trường M, huyện M, tỉnh Sơn La, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lò Văn Q và Bùi Văn Đ có mối quan hệ bạn bè. Tối ngày 05/02/2024 gia đình Q tổ chức ăn cơm tại nhà, Q mời Đ cùng một số bạn bè đến uống rượu. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày khi ăn xong, Đ bảo với Q có bạn ở thị trấn Nông Trường M rủ ra thị trấn uống rượu, Đ rủ Q đi cùng, Q đồng ý và lấy chiếc xe mô tô BKS: 26B1-902.70 của gia đình đưa cho Đ điều khiển chở Q ngồi sau đi đến quán G tại thị trấn Nông Trường M, huyện M uống rượu với bạn của Đ. Đến khoảng 02 giờ ngày 06/02/2024, Q và Đ đi ra cửa quán để đi về, do Q và Đ đã uống nhiều rượu, một người trong nhóm bạn của Đ là Cà Xuân H1, sinh năm: 1989, nơi cư trú: Tiểu khu C, thị trấn Nông Trường M, huyện M đi ra can ngăn Q và Đ đi về nhưng Q và Đ vẫn quyết định đi về. Mặc dù biết Đ chưa có giấy phép lái xe và trong tình trạng đã rất say rượu, Q vẫn giao xe để Đ điều khiển chở Q về. Trên đường Q và Đ về đến tiểu khu A, thị trấn M, do Đ say rượu không làm chủ tốc độ đã đâm vào lề đường bên phải theo chiều Hà Nội - Sơn La khiến Q và Đ bị hất văng khỏi phương tiện. Q bị choáng một lúc rồi tỉnh dậy thấy Đ đã nằm bất tỉnh, chảy nhiều máu và có tổ chức não bị văng ra ngoài. Q lấy điện thoại của Đ để gọi điện tìm người hỗ trợ nhưng không gọi được nên đi ra dắt xe mô tô đến gần chỗ Đ nằm, kéo Đ nằm ngang lên yên xe để chở đi Bệnh viện cấp cứu. Tuy nhiên do xe mô tô bị lệch đầu sau va chạm nên Q không làm chủ tay lái, điều khiển xe đâm thẳng sang lề đường phía đối diện làm Đ ngã xuống đường. Q lấy xe mô tô đi về nhà ở xã C để tìm người cứu giúp nhưng vì say rượu nên khi về nhà Q đã đi ngủ luôn, không quay lại nơi xảy ra tai nạn. Q tử vong tại hiện trường. Đến 05 giờ sáng người dân khu vực gần hiện trường đi bộ qua phát hiện, trình báo cơ quan điều tra.
Ngày 06/02/2024 cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M tiến hành khám nghiệm hiện trường, xác định vụ tai nạn giao thông xảy ra trên đoạn đường thẳng trong khu vực đông dân cư, dốc đi lên tầm nhìn không bị hạn chế. Mặt đường trải nhựa áp phan bằng phẳng, rộng 13,1m. Giữa đường có vạch sơn 1.1, dọc hai bên đường có vạch sơn 3.1. Rãnh thoát nước bên phải và bên trái rộng 0,75m, tiếp đến là vỉa hè nhà người dân. Trên vỉa hè bên phải có cọc tiêu H3/192 xác định là mốc chuẩn, từ vị trí mốc chuẩn theo hướng Sơn La đến vị trí 1 là 2,1m. Chọn mép trong vạch sơn 3.1 bên phải làm mép chuẩn, ghi nhận các vị trí cụ thể như sau:
- Vị trí 1 là vết cày chiều hướng Hà Nội - Sơn La nằm trên vỉa hè bên phải kích thước 7,11 x 1,63m. Vị trí đầu vết cày cách mép chuẩn 0,76m, vị trí điểm điểm cuối vết cày cách mép chuẩn 1,41m, cách vị trí 2 là 0,73m.
- Vị trí 2 là đám hỗn hợp chất, cây xanh nằm trên vỉa hè bên phải trước cửa nhà số B có kích thước 1,2 x 1,27m, cây xanh có đường kính 10cm bị bong tróc vỏ hướng ra Quốc lộ F, vị trí giữa cách mép chuẩn là 1,54m, cách vị trí gần nhất của vị trí 3 là 0,95m.
- Vị trí 3 là cạnh trái nền bê tông phía trước nhà số B bị hư hỏng có diện tích 0,20 x 0,10m, cao 0,06m, trên bề mặt bám dính lông tóc, vị trí gần nhất cách mép chuẩn 2,34m, cách vị trí 4 là 1,34m.
- Vị trí 4 là tổ chức mô não nằm trên nền bê tông trước nhà số B, có bám dính sợi lông tóc kích thước 0,13 x 0,15m. Vị trí giữa cách mép chuẩn là 3,26m, cách vị trí 5 là 2,23m.
- Vị trí 5 là vết máu chảy dài có diện tích 1,14 x 0,90m. Vị trí giữa cách mép chuẩn là 0,80m, cách vị trí 6 là 1,4m.
- Vị trí 6 là vết cày chiều hướng Hà Nội – Sơn La, chếch chéo từ vỉa hè ra mặt đường có kích thước 15,72 x 1,22m. Vị trí điểm đầu cách mép chuẩn 0,42m, điểm cuối cách mép chuẩn 2,8m, đo về phía Hà Nội tới vị trí 7 là 12,4m.
- Vị trí 7 là gốc cây xanh trên vỉa hè trước cửa nhà 276 có đường kính 30cm, mặt ngoài hướng ra Quốc lộ F có vết trượt rách vỏ cây kích thước 30 x 15cm. Vị trí thấp nhất cách mặt đất 17cm chiều hướng Hà Nội – Sơn La. Vị trí chân gốc cây cách mép chuẩn 1,95m, đo tới điểm đầu vị trí 8 là 2,4m.
- Vị trí 8 là vết bàn chân người nằm trên mặt đường bên phải chiều hướng Hà Nội - Sơn La có kích thước 10 x 0,3m, gồm 04 vết bàn chân phải, 03 vết bàn chân trái. Vị trí đầu gót chân phải cách mép chuẩn 0,13m, vị trí đầu ngón cái bàn chân phải cuối cùng cách mép chuẩn 0,33m, cách vị trí 9 là 10,10m.
- Vị trí 9 là vết máu nằm trên mặt đường bên trái có diện tích 1,3 x 1,45m. Vị trí giữa cách mép chuẩn 9,93m, cách đỉnh đầu tử thi tại vị trí 10 là 4,10m.
- Vị trí 10 là tử thi Bùi Văn Đ nằm trên vỉa hè và rãnh thoát nước bên trái. Tử thi nằm ngửa, đỉnh đầu hướng ra mặt đường, cách mép chuẩn 13,49m, tay phải duỗi thẳng vắt ngược lên đỉnh đầu, tay trái co bẻ người về phía đỉnh đầu. Chân phải co, chân trái duỗi thẳng, gót bàn chân trái cách mép chuẩn là 14,99m.
Quá trình khám nghiệm hiện trường thu mẫu hỗn hợp chất tại vị trí 2, mảnh vỡ nhựa màu xanh, đèn chiếu sáng, ốp bảo vệ ống xả, 01 đôi dép lê quai màu đen, 01 đôi dép lê nhựa màu nâu, các sợi lông tóc bám dính tổ chức da tại vị trí 4.
Ngày 06/02/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện tiến hành khám nghiệm phương tiện đối với xe mô tô BKS: 26B1-902.70, ghi nhận các dấu vết: Gương chiếu hậu bên phải, bên trái; toàn bộ cụm đèn chiếu sáng, đèn tín hiệu phía trước; đầu tay nắm bên phải; ốp nhựa mặt nạ phía trước; cụm tay phanh bên phải; cánh yếm bên phải; vành bánh xe phía trước bị xô đẩy bật rời khỏi vị trí ban đầu. Cụm giá để chân, bàn đạp phanh bị xô đẩy từ trước về sau, cong vênh kim loại, trên bề mặt bám dính bột đá màu trắng, lệch khỏi vị trí ban đầu 10cm. Ốp nhựa ống xả, biểm kiểm soát 26B1-902.70 bị xô đẩy bật rời khỏi vị trí ban đầu. Ốp nhựa sườn xe bên trái bám dính chất màu nâu đỏ kích thước 20 x 8cm, chiều hướng từ trước về sau, từ trên xuống dưới. Ốp nhựa sườn xe bên phải bám dính chất màu nâu đỏ. Cung chắn bùn phía sau xô đẩy, dưới bề mặt bám dính chất bột màu trắng, dịch màu nâu đỏ đã khô, vị trí gần nhất cách mặt đất 30cm. Vành bánh xe phía sau bám dính chất dịch màu nâu đỏ kích thước 5 x 10cm. Ghi đông bên trái xô đẩy cong vênh kim loại, lệch khỏi vị trí ban đầu 20cm, trên bề mặt có nhiều vết trượt xước kim loại, bám dính đất.
Ngày 06/02/2024 cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M phối hợp Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh S tiến hành khám nghiệm tử thi Bùi Văn Đ1. Kết quả như sau: Bùi Văn Đ mặc áo khoác màu vàng bên ngoài, bên trong mặc áo cộc tay màu đỏ xanh, quần bò màu đen xám. Phần cổ áo, vai áo, tay áo có nhiều vết rách. Mặt ngoài áo bám nhiều dịch máu, bụi bẩn. Áo phông dính dịch máu đã khô ở trước ngực, bụng áo. Quần bò mặt trước, mặt sau bám dính bụi bẩn.
- Vùng đầu, mặt dính nhiều máu vùng thái dương, trán trái có vết thương bờ mép nham nhở đến xương hộp sọ chiều hướng từ trên xuống dưới, kích thước 14 x 3cm. Giữa trán dưới đường chân tóc 1em có vết thương bờ mép nham nhở sâu đến xương kích thước 3,5 x 1,2cm, chiều hướng từ trước ra sau, chếch từ phải sang trái. Trên cung lông mày phải có đám mài trượt chiều hướng từ trái sang phải, giữa đám có vết rách da kích thước 1 x 0,2cm, sâu 0,5cm. Đuôi mắt trái có đám mài trượt chiều hướng trước ra sau, phải sang trái trên diện 3 x 2,5cm. Gò má phải có đám mài trượt chiều hướng từ trái sang phải trên diện 3,6 x 3,5cm. Hai hốc mắt bầm tím. Má trái, trên môi trái có đám bầm dập rách da nham nhở chiều hướng từ trên xuống dưới, từ trái sang phải trên diện 7,5 x 6,5cm, sâu 1cm. Môi dưới bên trái dập rách nham nhở trên diện 3,5 x 2cm, giữa cằm có đám mài trượt chiều hướng từ phải sang trái, từ dưới lên trên trên diện 2,8 x 1cm. Hai mắt nhắm, lỗ mũi có máu. Gãy 1/2 răng 2.1, 2.3. Ngang xương sườn 5, cách đường giữa sang trái 2cm có đám xây xước bầm tím trên diện 1,5 x 1,4cm. Hạ sườn trái có vết xây xước da kích thước 0,5 x 0,5cm. Tay phải, tay trái, hai bên chân có nhiều vết xây xước da.
Tiến hành mổ tử thi, mở rộng vết thương vùng trán, thái dương trái thấy xương trán thái dương vỡ chiều hướng từ trên xuống dưới, mảnh vỡ kích thước 7 x 5cm để lộ tổ chức não bị dập nát. Rạch da vùng cổ thấy tổ chức dưới da, cơ vùng cổ không có bầm dập, không có tụ máu.
Quá trình khám nghiệm tử thi thu mẫu nước tiểu trong bàng quang, thử ma túy cho kết quả âm tính; thu mẫu máu thử HIV, viêm gan B cho kết quả âm tính; thu giữ 05ml máu tử thi để xét nghiệm nồng độ cồn và 01 chiếc áo khoác màu vàng.
Tại biên bản kiểm tra nồng độ cồn hồi 9 giờ 18 phút ngày 06/02/2024 của Công an huyện M đối với Lò Văn Q, kết quả xác định nồng độ cồn trong hơi thở của Lò Văn Q là 0,114 mg/l.
Ngày 06/02/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M quyết định trưng cầu phòng K Công an tỉnh S xác định nguyên nhân chết của Bùi Văn Đ. Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 515 ngày 20/02/2024 của phòng K Công an tỉnh S kết luận: “Kết quả định lượng cồn máu 359 mg/dl. Nguyên nhân chết do chấn thương sọ não, vỡ lớn xương trán, xương thái dương trái để lộ tổ chức não bị dập nát”. Ngày 19/3/2024 phòng K Công an tỉnh S có công văn số 167, xác định Bùi Văn Đ đã tử vong ngay sau khi tai nạn xảy ra.
Ngày 19/02/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M quyết định trưng cầu giám định tỷ lệ thương tích đối với Lò Văn Q. Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 77 ngày 27/02/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh S kết luận: “Tỷ lệ tổn thương của Lò Văn Q tại thời điểm giám định là 17%. Cơ chế hình thành thương tích: Thương tích sẹo vết thương phần mềm vùng mặt, hai tay, chân phải do tác động trực tiếp của vật tầy cứng có cạnh, diện tiếp xúc giới hạn gây ra”.
Ngày 06/3/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M yêu cầu Hội đồng định giá tài sản huyện M định giá đối với phần hư hỏng của xe mô tô BKS: 26B1-902.70. Tại kết luận định giá tài sản số 04 ngày 08/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản huyện M kết luận: Tài sản bị hư hỏng, thiệt hại của xe mô tô BKS: 26B1-902.70 là 6.280.000 đồng.
Đối với việc Lò Văn Q sau khi xảy ra tai nạn đã đi về và không quay lại hiện trường để cứu giúp Bùi Văn Đ, do Bùi Văn Đ đã tử vong ngay sau khi vụ tai nạn xảy ra, do đó không đề cập biện pháp xử lý về hành vi không cứu giúp người bị nạn.
Đối với hành vi điều khiển xe mô tô khi đã sử dụng rượu của Lò Văn Q, ngày 02/6/2024 Trưởng Công an huyện M đã có Quyết định xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 2.500.000 đồng, Lò Văn Q đã nộp phạt.
Cáo trạng số 103/CT-VKS ngày 07/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu truy tố bị can Lò Văn Q về tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 264 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Lò Văn Q trình bày ý kiến giữ nguyên lời khai, không thay đổi, bổ sung thêm nội dung nào làm thay đổi nội dung vụ án. Bị cáo nhận tội như cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu giữ nguyên cáo trạng truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lò Văn Q phạm tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ” và áp dụng các căn cứ pháp luật như sau:
- Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 264; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lò Văn Q từ 15 tháng đến 18 tháng cải tạo không giam giữ.
Không áp dụng hình phạt bổ sung, không khấu trừ thu nhập và không áp dụng biện pháp lao động phục vụ cộng đồng đối với bị cáo.
Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 13, 584, 585, 586, 591 Bộ luật dân sự, về bồi thường dân sự:
Chấp nhận việc bị cáo Lò Văn Q và đại diện gia đình bị hại đã tự nguyện thỏa thuận về việc bị cáo Lò Văn Q phải bồi thường cho gia đình bị hại tiền chi phí mai táng là 20.000.000₫ và tiền bồi thường tổn thất về tinh thần là 50.000.000đ, tổng cộng là 70.000.000đ, bị cáo đã bồi thường được 20.000.000đ, bị cáo phải bồi thường cho gia đình bị hại số tiền còn lại là 50.000.000₫.
Áp dụng khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Về vật chứng của vụ án:
- Trả lại 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu SYM, số loại: Galaxy, màu sơn xanh đen, BKS: 26B1 - 902.70, đã qua sử dụng, bộ mặt nạ phía trước bị vỡ hoàn toàn, vành bánh xe trước bị méo, xe bị hư hỏng nhiều cho ông Lò Văn T quản lý sử dụng.
- Trả lại 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy mang tên ông Lò Văn T; 01 Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự mang tên ông Lò Văn T (Hiện đang được lưu giữ trong hồ sơ vụ án) cho ông Lò Văn T quản lý, sử dụng.
- Trả lại 01 chiếc điện thoại di động IPHONE 12 Pro Max, bên trong lắp sim điện thoại số: 0868.847.xxx, có vỏ màu xám điện thoại đã qua sử dụng cũ ; 01 chiếc áo khoác màu vàng của Bùi Văn Đ cho đại diện gia đình bị hại là ông Bùi Văn N và bà Lường Thị L.
- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) hộp niêm phong bên ngoài ghi: “Các dấu vết, vật chứng, mẫu vật thu giữ tại hiện trường vụ tai nạn giao thông xảy ra ngày 06/02/2024 tại TK 13, Thị trấn M, huyện M, tỉnh Sơn La”; 01 phong bì bên trong đựng test thử ma túy của Lò Văn Q; 01 chiếc áo phông dài tay, cổ tròn, màu đen, trên ngực áo có in chữ TO-BANYI màu trắng của Lò Văn Q; 01 chiếc quần bò màu xanh da trời nhạt, phần dưới ống quần bên trái có gắn nhãn mác có chữ SONOMA của Lò Văn Q; 01 phong bì đã dùng để niêm phong điện thoại của Bùi Văn Đ.
- Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Sau khi đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu phát biểu luận tội bị cáo Lò Văn Q, đại diện gia đình bị hại, Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đều nhất trí với đề nghị của Kiểm sát viên.
Lời nói sau cùng: Bị cáo không có ý kiến gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, người đại diện của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến, khiếu nại về hành vi của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh và trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Tại phiên tòa, bị cáo Lò Văn Q khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã khai tại cơ quan điều tra. Bị cáo không thay đổi hay bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án. Bị cáo hoàn toàn nhất trí với quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu và khẳng định việc khai báo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay là hoàn toàn tự nguyện và đúng với sự việc bị cáo đã thực hiện.
Xét lời khai của bị cáo là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm phương tiện, bản ảnh, biên bản kiểm tra nồng độ cồn, biên bản khám nghiệm tử thi, biên bản kiểm tra điện thoại, biên bản diễn lại hành vi; lời khai của bị cáo, người đại diện của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Từ những chứng cứ nêu trên Hội đồng xét xử xét thấy: Ngày 06/02/2024 Lò Văn Q mặc dù biết Bùi Văn Đ chưa có giấy phép lái xe và đang trong tình trạng đã sử dụng rượu nhưng vẫn giao xe mô tô BKS: 26B1-902.70 cho Bùi Văn Đ điều khiển, hậu quả Bùi Văn Đ trong quá trình điều khiển phương tiện không làm chủ tốc độ đã đâm vào lề đường bên phải theo chiều đi và tử vong.
Hành vi của bị cáo Lò Văn Q đã đủ yếu tố cấu thành tội Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ theo điểm a khoản 1 Điều 264 Bộ luật hình sự. Vì vậy, Cáo trạng truy tố bị cáo của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu là có căn cứ, đúng pháp luật.
Về tình tiết định khung hình phạt: Bị cáo Lò Văn Q biết rõ bị hại Bùi Văn Đ không có giấy phép lái xe và trong tình trạng đã sử dụng rượu, bia vẫn giao phương tiện cho Bùi Văn Đ điều khiển gây ra tai nạn hậu quả Bùi Văn Đ tử vong đã vi phạm tình tiết định khung theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 264 Bộ luật Hình sự quy định bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.
Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến tính mạng của bị hại Bùi Văn Đ và tài sản của người liên quan, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương.
Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã tự nguyện bồi thường một phần thiệt hại cho gia đình bị hại; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Vì vậy, cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Lò Văn Q.
Xét thấy, bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, ngoài lần phạm tội này bị cáo luôn chấp hành đúng chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú; bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, gia đình bị cáo có đơn xin bảo lãnh cho bị cáo được cải tạo giáo dục tại địa phương. Vì vậy, xét thấy cần áp dụng Điều 36 Bộ luật hình sự cho bị cáo được Cải tạo giáo dục tại địa phương, giao bị cáo về cho gia đình và chính quyền địa phương quản lý, giáo dục bị cáo cũng có thể trở thành người có ích cho gia đình và xã hội về sau. Đồng thời cũng thể hiện chính sách nhân đạo, khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội.
[3] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 264 của Bộ luật hình sự quy định người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng. Xét thấy, bị cáo là không có việc làm ổn định, không có tài sản riêng, vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung và không khấu trừ thu nhập đối với bị cáo là phù hợp.
[4] Về bồi thường dân sự:
Đại diện gia đình bị hại Bùi Văn Đ yêu cầu bị cáo Lò Văn Q phải bồi thường chi phí mai táng là 50.000.000đ và bồi thường tổn thất về tinh thần là 100.000.000đ, tổng cộng là 150.000.000₫.
Trước khi mở phiên tòa, bị cáo Lò Văn Q và đại diện gia đình bị hại đã tự nguyện thỏa thuận được với nhau về việc bồi thường thiệt hại và đề nghị Tòa án ghi nhận việc bị cáo Lò Văn Q phải bồi thường cho gia đình bị hại tiền chi phí mai táng là 20.000.000đ và tiền bồi thường tổn thất về tinh thần là 50.000.000đ, tổng cộng là 70.000.000đ, bị cáo đã bồi thường được 20.000.000đ, bị cáo phải bồi thường cho gia đình bị hại số tiền còn lại là 50.000.000₫.
Theo quy định tại Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 13, 584, 585, 586, 591 Bộ luật dân sự; Nghị quyết số 02/2022/ND-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về Hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Dân sự về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Xét việc tự nguyện thỏa thuận về việc bồi thường giữa bị cáo và đại diện gia đình bị hại là phù hợp cần chấp nhận.
Đối với phần hư hỏng của xe mô tô BKS: 26B1-902.70 ông Lò Văn T không yêu cầu bồi thường, do đó không xem xét giải quyết.
[5] Về vật chứng của vụ án:
Đối với 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu SYM, số loại: Galaxy, màu sơn xanh đen, BKS: 26B1 - 902.70, đã qua sử dụng, bộ mặt nạ phía trước bị vỡ hoàn toàn, vành bánh xe trước bị méo, xe bị hư hỏng nhiều xét thấy là tài sản hợp pháp của gia đình ông Lò Văn T; 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy màn tên ông Lò Văn T; 01 Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự mang tên ông Lò Văn T. Xét là tài sản, giấy tờ hợp pháp của ông Lò Văn T, do đó áp dụng khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự cần giao trả lại cho ông Lò Văn T quản lý sử dụng.
Đối với 01 chiếc điện thoại di động IPHONE 12 Pro Max, bên trong lắp sim điện thoại số: 0868.847.xxx, có vỏ màu xám điện thoại đã qua sử dụng cũ, 01 chiếc áo khoác màu vàng của Bùi Văn Đ là tài sản hợp pháp của Bùi Văn Đ cần giao trả lại cho đại diện gia đình bị hại là Bùi Văn N và bà Lường Thị L.
Đối với 01 (một) hộp niêm phong bên ngoài ghi: “Các dấu vết, vật chứng, mẫu vật thu giữ tại hiện trường vụ tai nạn giao thông xảy ra ngày 06/02/2024 tại TK 13, Thị trấn M, huyện M, tỉnh Sơn La”; 01 phong bì bên trong đựng test thử ma túy của Lò Văn Q; 01 chiếc áo phông dài tay, cổ tròn, màu đen, trên ngực áo có in chữ TO-BANYI màu trắng của Lò Văn Q; 01 chiếc quần bò màu xanh da trời nhạt, phần dưới ống quần bên trái có gắn nhãn mác có chữ SONOMA của Lò Văn Q; 01 phong bì đã dùng để niêm phong điện thoại của Bùi Văn Đ. Xét thấy là vật không có giá trị sử dụng áp dụng khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, cần tuyên tịch thu tiêu hủy.
[6] Về các vấn đề khác:
Đối với hành vi điều khiển xe mô tô khi đã sử dụng rượu của Lò Văn Q, ngày 02/6/2024, Trưởng Công an huyện M đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính với số tiền phạt là 2.500.000đ. Bị cáo Lò Văn Q đã nộp phạt, xét là phù hợp, do đó không đề cập đến việc xử lý.
[7] Về án phí:
Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm d khoản 1 Điều 12, khoản 1 Điều 21, điểm a, f khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án buộc bị cáo Lò Văn Q phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo quy định của pháp luật.
Do trước khi mở phiên tòa bị cáo và bị hại đã thỏa thuận được với nhau về phần bồi thường thiệt hại, do đó bị cáo không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
[8] Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Bị cáo, người đại diện của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 264; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Lò Văn Q phạm tội Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ.
Xử phạt bị cáo Lò Văn Q 18 (mười tám) tháng cải tạo không giam giữ.
Thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nhận được quyết định thi hành án.
Không áp dụng hình phạt bổ sung, không khấu trừ thu nhập và không áp dụng biện pháp lao động phục vụ cộng đồng đối với bị cáo.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã C, huyện M, tỉnh Sơn La giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình Lò Văn Q có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã C, huyện M, tỉnh Sơn La trong việc giám sát, giáo dục Lò Văn Q.
- Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 13, 584, 585, 586, 591 Bộ luật dân sự. Về bồi thường dân sự:
Chấp nhận việc bị cáo Lò Văn Q và đại diện gia đình bị hại đã tự nguyện thỏa thuận về việc bị cáo Lò Văn Q phải bồi thường cho gia đình bị hại tiền chi phí mai táng là 20.000.000đ(Hai mươi triệu đồng) và tiền bồi thường tổn thất về tinh thần là 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng), tổng cộng là 70.000.000₫ (Bẩy mươi triệu đồng), bị cáo đã bồi thường được 20.000.000₫ (Hai mươi triệu đồng), bị cáo phải bồi thường cho gia đình bị hại số tiền còn lại là 50.000.000đ (Năm Mươi triệu đồng)
- Căn cứ khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Về vật chứng của vụ án:
Trả lại 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu SYM, số loại: Galaxy, màu sơn xanh đen, BKS: 26B1 - 902.70, đã qua sử dụng, bộ mặt nạ phía trước bị vỡ hoàn toàn, vành bánh xe trước bị méo, xe bị hư hỏng nhiều cho ông Lò Văn T quản lý sử dụng.
Trả lại 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy mang tên ông Lò Văn T; 01 Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự mang tên ông Lò Văn T (Hiện đang được lưu giữ trong hồ sơ vụ án) cho ông Lò Văn T quản lý, sử dụng.
Trả lại 01 chiếc điện thoại di động IPHONE 12 Pro Max, bên trong lắp sim điện thoại số: 0868.847.xxx, có vỏ màu xám điện thoại đã qua sử dụng cũ ; 01 chiếc áo khoác màu vàng của Bùi Văn Đ cho đại diện gia đình bị hại là ông Bùi Văn N và bà Lường Thị L quản lý, sử dụng.
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) hộp niêm phong bên ngoài ghi: “Các dấu vết, vật chứng, mẫu vật thu giữ tại hiện trường vụ tai nạn giao thông xảy ra ngày 06/02/2024 tại TK 13, Thị trấn M, huyện M, tỉnh Sơn La”; 01 phong bì bên trong đựng test thử ma túy của Lò Văn Q; 01 chiếc áo phông dài tay, cổ tròn, màu đen, trên ngực áo có in chữ TO-BANYI màu trắng của Lò Văn Q; 01 chiếc quần bò màu xanh da trời nhạt, phần dưới ống quần bên trái có gắn nhãn mác có chữ SONOMA của Lò Văn Q; 01 phong bì đã dùng để niêm phong điện thoại của Bùi Văn Đ.
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm d khoản 1 Điều 12, khoản 1Điều 21, điểm a, f khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Bị cáo Lò Văn Q phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Bị cáo, người đại diện của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 15/7/2024).
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA (đã ký) Tăng Thị Hải Oanh |
Bản án số 162/2024/HS-ST ngày 15/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA về giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 162/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lò Văn Q đã giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện giao thông đường bộ
