Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 162/2024/DS-PT

Ngày 25 - 7 - 2024

V/v: Tranh chấp quyền sử dụng đất

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

- Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: ông Nguyễn Hà Giang;

Các Thẩm phán: bà Nguyễn Thị Hương Giang và bà Triệu Thị Luyện.

Thư ký phiên toà: bà Lê Thị Hải Yến - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa:

ông Lương Thất T - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 28/6/2024 và ngày 25/7/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 32/2024/TLPT-DS ngày 06/03/2024, về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” do Bản án dân sự sơ thẩm số 76/2023/DS-ST ngày 05/12/2023 của Toà án nhân dân huyện (nay là thị xã ) V bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 118/2024/QĐ-PT ngày 06/5/2024, Thông báo thay đỏi thời gian mở phiên tòa số 217/TB - TA ngày 20/5/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 173/2024/QĐ-PT ngày 11/6/2024 và Quyết định tạm ngừng phiên tóa số 105/QĐ-PT ngày 28/6/2024 giữa:

Nguyên đơn: ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1954 (có mặt);

Địa chỉ: số D đường V, phường T, thành phố B tỉnh Bắc Giang

Bị đơn: ông Nguyễn Tiến S, sinh năm 1959 (có mặt); bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1958 (xin vắng mặt) do ông Nguyễn Tiến S đại diện theo ủy quyền (có mặt);

Đều có địa chỉ: tổ dân phố D, thị trấn B, huyện (nay là thị xã ) V, tỉnh Bắc Giang

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Luật sư Vũ Trọng B và Luật sư Ngô Văn C – Văn phòng Luật sư C và cộng sự, Đoàn Luật sư tỉnh B (đều có mặt);

Địa chỉ: số A, đường N, phường N, thành phố B.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  1. Nguyễn Thị H, sinh năm 1958 (có mặt);
  2. Địa chỉ: số 47/64 đường Vương Văn Trà, phường Trần Phú, thành phố Bắc Giang tỉnh Bắc Giang

  3. Chị Nguyễn Thị H1, sinh năm 1978 (có mặt);
  4. Chị Nguyễn Thị D, sinh năm 1980 (có mặt tại phiên tòa ngày 28/6/2024, vắng mặt tại phiên tòa ngày 25/7/2024);
  5. Anh Nguyễn Văn T1, sinh năm 1985 (xin vắng mặt);
  6. Anh Nguyễn Tiến D1, sinh năm 1982 (xin vắng mặt);
  7. Đều địa chỉ: tổ dân phố D, thị trấn (nay là phường) Bích Động, huyện (nay là thị xã ) V, tỉnh Bắc Giang.

  8. Chị Nguyễn Thị T2, sinh năm 1981 (xin vắng mặt);
  9. Địa chỉ: nhà số G, khu dân cư S, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

  10. Anh Nguyễn Văn H2, sinh năm 1984 (xin vắng mặt);
  11. Địa chỉ: số 47/64 đường Vương Văn Trà, phường Trần Phú, thành phố Bắc Giang tỉnh Bắc Giang

  12. Chị Nguyễn Thị H3, sinh năm 1979 (xin vắng mặt);
  13. Địa chỉ: số E, M, quận H, thành phố Hà Nội

  14. UBND thị trấn (nay là phường) Bích Động, huyện (nay là thị xã ) V, tỉnh Bắc Giang do ông Nguyễn Thế H4 – Phó Chủ tịch đại diện theo ủy quyền theo Quyết định ủy quyền số 332/QĐ-UBND ngày 16/10/2023 (vắng mặt);
  15. UBND huyện (nay là thị xã ) V, tỉnh Bắc Giang do ông Lê Hoàng B1 – Phó Chủ tịch đại diện theo ủy quyền theo Quyết định ủy quyền số 699/QĐ-UBND ngày 28/6/2023 (vắng mặt).

Người kháng cáo: nguyên đơn – ông Nguyễn Văn L.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Bản án dân sự sơ thẩm số 76/2023/DS-ST ngày 05/12/2023 của Toà án nhân dân huyện (nay là thị xã) V, nội dung vụ án như sau:

Nguyên đơn - ông Nguyễn Văn L trình bày: Ông và ông S có mối quan hệ họ hàng, nguồn gốc thửa đất số 48, tờ bản đồ số 22, diện tích 460m² tại thôn D nay là tổ dân phố D, thị trấn B, huyện V, tỉnh Bắc Giang là đất của bố mẹ ông là cụ Nguyễn Văn P và cụ Nguyễn Thị N để lại. Năm 1954, cụ P mất không để lại di chúc, năm 1976 ông kết hôn với bà Nguyễn Thị H và cùng sinh sống với cụ Nguyễn Thị N trên thửa đất. Vợ chồng ông sinh được 03 người con là Nguyễn Thị H3, sinh năm 1979, Nguyễn Thị T2, sinh năm 1981 và Nguyễn Văn H2, sinh năm 1984. Quá trình sinh sống gia đình ông đã xây dựng ngôi nhà 01 tầng có diện tích 54m² cùng với 04 gian nhà cấp 4 có công trình phụ ở phần đất phía trước của thửa đất và 03 gian nhà cấp 4 cùng công trình phụ ở phần đất phía sau của gia đình. Giữa hai phần đất trước và sau có 01 lối đi do nhà ông T3 đi qua, sau này ông T3 không đi lối đi này nữa thì gia đình ông vẫn dùng phục vụ cho việc đi lại của thửa đất phía sau. Trong quá trình sử dụng đất, thửa đất của ông chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ), việc thực hiện nghĩa vụ đóng thuế sử dụng đất cho Nhà nước do vợ con ông thực hiện, giấy tờ đóng thuế đến nay gia đình ông không còn lưu trữ.

Cuối năm 1993, ông mua đất và chuyển đến sinh sống tại thị trấn B, huyện V. Lúc này bà Nguyễn Thị C1 (mẹ đẻ ông S là bác ruột ông) có đặt vấn đề để cho ông S mua lại phần đất phía trước thì ông đồng ý bán. Khi mua bán hai bên không lập thành văn bản, chỉ thoả thuận miệng với nhau, nội dung thoả thuận cụ thể: Ông bán cho ông S phần đất phía trước, trên đất có 54m² nhà trần xây dựng năm 1986; 04 gian nhà cấp 4 và công trình phụ trợ trên đất, giá bán 17.000.000 đồng bao gồm cả nhà và đất. Sau khi thoả thuận mua bán gia đình ông S đã chuyển đến sinh sống trên thửa đất từ năm 1993 đến nay, tuy nhiên ông S mới chỉ thanh toán cho ông số tiền 7.000.000 đồng, số tiền 10.000.000 đồng còn lại ông đã đòi nhiều lần nhưng ông S không trả được (việc thanh toán giữa gia đình ông S và gia đình ông không có giấy tờ gì chứng minh). Đối với phần đất phía sau ông xác định không bán cho ông S do còn 03 gian nhà cấp 4, giếng nước và công trình do bố mẹ ông xây dựng để lại.

Quá trình sử dụng đất gia đình ông S đã xây dựng các công trình như: xây thêm 01 tầng và 01 tum trên diện tích nhà trần 54m², phần đất đằng sau ông S đã xây thêm công trình phụ. Tuy nhiên, từ năm 1999-2000 do không đòi được tiền đất nên hai gia đình đã từ mặt không qua lại với nhau nữa nên gia đình ông không biết việc gia đình ông S xây các công trình hơn nữa khi đó bố mẹ ông S vẫn còn sống nên ông không muốn đòi đất của ông S.

Năm 2017, ông đề nghị UBND thị trấn B kê khai làm sổ đỏ đối với thửa đất trên thì được UBND thị trấn thông báo bà Nguyễn Thị X đã đi kê khai cấp GCNQSDĐ đối với toàn bộ thửa đất trên của gia đình ông và đã được UBND huyện cấp GCNQSDĐ. Ông đã làm đơn khiếu nại yêu cầu huỷ GCNQSDĐ. Ngày 16/9/2020, UBND huyện V đã có Quyết định thu hồi GCNQSDĐ cấp cho hộ bà X. Nay ông khởi kiện yêu cầu: gia đình ông S, bà X trả lại ông thửa đất số 48, tờ bản đồ số 22, diện tích 460m² tại tổ dân phố D, thị trấn B. Buộc gia đình ông S và bà X phải tháo dỡ toàn bộ tài sản đã xây dựng trên thửa đất. Ông L đồng ý trả lại ông S số tiền 7.000.000 đồng đã nhận của gia đình ông S.

Ngày 10/01/2023, ông L thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện, cụ thể đề nghị:

  1. Công nhận quyền sử dụng đất (QSDĐ) đối với thửa đất số 48, tờ bản đồ số 22, diện tích 460m² tại tổ dân phố D, thị trấn B, huyện V là của hộ gia đình ông.
  2. Buộc ông S phải trả cho gia đình ông phần đất phía sau.
  3. Buộc ông S phải trả 10/17 phần của tổng diện tích thửa đất phía trước cho ông, chia tương ứng với phần bám mặt đường.
  4. Đối với giá trị công trình do hộ ông S xây dựng trên đất giao cho ông thì ông đề nghị sẽ trả cho ông S bằng tiền.

Tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải ngày 17/10/2023, ông L yêu cầu Tòa án buộc ông Nguyễn Tiến S trả lại ông thửa đất số 48, tờ bản đồ số 22, diện tích 460m² tại tổ dân phố D, thị trấn B, huyện V. Ngoài ra ông không có yêu cầu nào khác.

Tại phiên tòa ông L bổ sung thêm yêu cầu khởi kiện “ Yêu cầu Tòa án công nhận biên bản hòa giải thành ngày 01/8/2022 của UBND thị trấn B, huyện V, tỉnh Bắc Giang”.

Bị đơn - ông Nguyễn Tiến S trình bày: Ông và ông L có quan hệ họ hàng. Năm 1993, ông L có đề nghị ông mua lại thửa đất số 48, tờ bản đồ số 22, diện tích 460m² tại thôn D nay là tổ dân phố D, thị trấn B, của ông L, ông đồng ý mua. Hai bên thỏa thuận giá mua bán đất là 17.000.000 đồng, khi mua có viết giấy mua bán (là tờ giấy nhỏ bằng bàn tay, giấy màu nâu) đến nay ông không còn giữ được giấy này, số tiền mua đất gia đình ông đã trả đủ cho ông L. Từ khi mua, ông và gia đình sinh sống ổn định, đóng thuế đầy đủ cho nhà nước, quá trình sử dụng gia đình ông đã nhiều lần sửa chữa, nâng cấp nhà ở, gia đình ông L đều biết và không có ý kiến gì. Nay ông L khởi kiện ra Toà án yêu cầu gia đình ông trả lại đất, nhà và trả lại cho gia đình ông số tiền 7.000.000 đồng thì ông không đồng ý, đề nghị Tòa án không chấp nhận yêu cầu của ông L. Ông S cung cấp cho Tòa án các biên lai thu thuế sử dụng đất năm 1999, 2000, 2001, 2002, 2003, 2005, 2006, 2013, 2014, 2015, 2018 và 2019.

Bị đơn - bà Nguyễn Thị X trình bày: bà và vợ ông L là bà H có mối quan hệ họ hàng. Năm 1992, ông L nhiều lần đề nghị gia đình bà mua đất, gia đình bà đồng ý mua, đến rằm tháng giêng năm 1993 bà và ông S đến nhà ông lập, bà H trả đủ tiền đất, giá mua đất là 17.000.000 đồng, thỏa thuận mua toàn bộ nhà và đất. Khi mua bán đất và trả tiền vợ chồng bà và vợ chồng ông L có viết giấy mua bán đất và nhận tiền, nhưng đến nay gia đình bà không còn giữ được các giấy tờ này. Từ khi mua đất, gia đình bà sinh sống ổn định, đóng thuế đầy đủ cho Nhà nước, quá trình sử dụng gia đình bà đã nhiều sửa chữa, nâng cấp nhà ở, gia đình ông L đều biết và không có ý kiến gì. Bà không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông L

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan- bà Nguyễn Thị H trình bày: Bà và ông L kết hôn và sinh sống trên phần đất phía sau của thửa đất số 48, tờ bản đồ số 22, diện tích 460m² nêu trên từ năm 1976. Việc mua bán giữa ông L và ông S thì bà không trực tiếp thoả thuận nhưng có được ông L nói lại là bán với giá 17.000.000 đồng, ông L nói là bán phần đất phía trên có nhà do vợ chồng ông bà xây, việc mua bán không lập thành văn bản. Đến nay vợ chồng ông S mới trả cho bà 7.000.000 đồng, còn nợ 10.000.000 đồng chưa trả. Nay bà đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông L, đề nghị Tòa án buộc ông S trả lại đất cho gia đình bà.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan- chị Nguyễn Thị H3, chị Nguyễn Thị T2 và anh Nguyễn Văn H2 (là các con ông LH) trình bày: nhất trí với yêu cầu khởi kiện của ông L đòi quyền sử dụng đất để xây dựng nhà thờ tổ tiên.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan - chị Nguyễn Thị H1, anh Nguyễn Văn T1, chị Nguyễn Thị D (các con của ông SX) trình bày: năm 1993, bố mẹ anh chị có mua của ông L căn nhà mái bằng và diện tích đất khoảng 500m², sau đó gia đình chuyển về sinh sống trên thửa đất từ năm 1993 đến nay. Quá trình sử dụng đất gia đình đã cải tạo căn nhà (xây thêm tầng 2) và xây dựng công trình phụ gồm bếp, chuồng trại chăn nuôi và tường rào bao quanh đất. Quá trình xây dựng ông L thường xuyên qua nhà chơi và làm giúp gia đình, không có ý kiến gì. Bố mẹ anh chị đã đóng thuế sử dụng đất hàng năm và đã được UBND huyện V cấp GCNQSDĐ năm 2002. Nay ông L khởi kiện yêu cầu bố mẹ anh chị trả lại đất, đề nghị Toà án giải quyết theo quy định pháp luật.

Anh Nguyễn Tiến D1 (con ông SX) trình bày: Anh D2 được bố mẹ cho biết là mua nhà đất của nhà chú L và chuyển nhà mới qua đó, việc mua bán như thế nào và đã trả tiền như thế nào thì anh không biết. Năm 2008, anh lấy vợ và chuyển ra ở riêng, việc bố mẹ anh có xây dựng, cải tạo lại nhà hay không anh không biết, anh không có yêu cầu hay đề nghị gì, đề nghị Toà án xét xử theo quy định pháp luật.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan - UBND thị trấn B trình bày: đối với thửa đất số 48 tờ bản đồ số 22 diện tích 460m² tại tổ dân phố D, thị trấn B, năm 2020 UBND huyện có Quyết định thu hồi đối với GCNQSDĐ đối với thửa đất trên. Sau khi có Quyết định thì UBND huyện không giao cho UBND thị trấn B quản lý diện tích đất này, hiện nay gia đình bà X, ông S vẫn sử dụng diện tích này. Việc ông L khởi kiện ông S, bà X, UBND thị trấn B không có ý kiến gì, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Đối với bản đồ 299 hiện UBND thị trấn B không còn lưu trữ được. Tại trang 71 sổ mục kê năm 2002, số thứ tự 48 thì tên chủ sử dụng đất đối với thửa đất đang tranh chấp là bà Nguyễn Thị X. Tại trang số 289 sổ địa chính năm 2002 thì tên chủ sử dụng đất đang tranh chấp là hộ bà Nguyễn Thị X, ngoài các sổ trên UBND thị trấn không quản lý sổ sách nào khác.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan - UBND huyện V trình bày: việc thu hồi GCNQSDĐ số vào số B, số phát hành U905690 do UBND huyện cấp ngày 27/6/2022 mang tên hộ bà Nguyễn Thị X là UBND huyện thực hiện theo Kết luận số 2297/KL-UBND ngày 29/5/2020 của Chủ tịch UBND tỉnh về việc Kết luận nội dung tố cáo (theo nội dung tại mục II kết luận về nguồn gốc thửa đất và hồ sơ kê khai đăng ký cấp GCNQSDĐ).

Ông Nguyễn Văn Đ tổ trưởng tổ dân phố D cung cấp: thửa đất số 48, tờ bản đồ số 22, diện tích 460m² trên hiện gia đình ông S, bà X đang sử dụng có nguồn gốc là của gia đình ông L, sau đó gia đình ông L bán cho gia đình ông S. Việc mua bán cụ thể như thế nào, giá tiền, thời gian bán thì Lãnh đạo tổ dân phố không nắm được, chỉ khi ông L khởi kiện thì Ban lãnh đạo Tổ dân phố nắm được là mua bán năm 1992- 1993. Sau khi mua đất của ông L, gia đình ông S sử dụng ổn định không có tranh chấp với ai. Hiện tổ dân phố không có hồ sơ sổ sách, tài liệu gì liên quan đến việc theo dõi, quản lý, sử dụng đối với thửa đất. Từ khi sử dụng đất gia đình ông S là người thực hiện các nghĩa vụ thuế với Nhà nước.

Thanh tra tỉnh Bắc Giang cung cấp: Kết luận số 2297/KL-UBND ngày 29/5/2020 kết luận nội dung tố cáo đối với UBND huyện V, nội dung kết luận xác định UBND huyện V có sai phạm trong việc cấp GCNQSDĐ cho hộ gia đình bà Nguyễn Thị X (chồng là ông Nguyễn Tiến S), trú tại thôn D, thị trấn B, huyện V tại Quyết định số 586/QĐ-CT ngày 27/6/2022 (cụ thể: Đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất của hộ bà X không ghi ngày, tháng, năm; không có xác nhận của UBND xã, phường, thị trấn; không có xác nhận của cơ quan địa chính cấp huyện; nguồn gốc đất ghi là của cha, ông là không đúng). Từ đó yêu cầu UBND huyện V xem xét lại việc cấp GCNQSDĐ đã cấp cho hộ bà X.

Với nội dung trên, Bản án dân sự sơ thẩm số 76/2023/TCDS-ST ngày 05/12/2023 của Toà án nhân dân huyện (nay là thị xã) V đã: căn cứ Điều 166 Bộ luật dân sự. Xử:

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn L, cụ thể:
    1. Buộc ông Nguyễn Tiến SNguyễn Thị X phải trả lại diện tích 460m² (diện tích theo đo đạc thực tế là 485,4m²) tại thửa đất số 48, tờ bản đồ số 22, địa chỉ: Tổ Đ, thị trấn B, huyện V, tỉnh Bắc Giang (theo sơ đồ kèm theo bản án).
    2. Buộc gia đình ông Nguyễn Tiến S và bà Nguyễn Thị X phải tháo dỡ toàn bộ tài sản đã xây dựng trên thửa đất, ông Nguyễn Văn L đồng ý trả lại ông S số tiền 7.000.000 đồng đã nhận của gia đình ông S.
    3. Đề nghị Toà án Công nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 48, tờ bản đồ số 22, diện tích 460m² tại thôn D nay là Tổ dân phố D, thị trấn B, huyện V là của hộ gia đình ông.
    4. Gia đình ông không bán cho hộ ông SX phần đằng sau, do vậy đề nghị Toà án buộc ông S phải trả cho gia đình ông phần đất phía sau.
    5. Phần đất phía trước gia đình ông đã bán cho hộ ông S với giá 17.000.000 đồng nhưng hộ ông S mới trả được 7.000.000 đồng, còn nợ 10.000.000 đồng nên đề nghị Toà án buộc ông S phải trả 10/17 phần của tổng diện tích thửa đất phía trước cho ông. Do phần đất đằng trước có chiều rộng khoảng 12m bám mặt đường, ông đề nghị chia tương ứng với phần bám mặt đường.
    6. Đối với giá trị công trình do hộ ông S xây dựng trên đất giao cho ông thì ông đề nghị sẽ trả cho ông S bằng tiền.
  2. Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí, quyền kháng cáo cho các đương sự.

Ngày 13/12/2023, ông L - nguyên đơn kháng cáo bản án, với nội dung: đề nghị xem xét lại toàn bộ bản án sơ thẩm, đảm bảo quyền lợi hợp pháp của ông.

Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và kháng cáo; các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Phần tranh luận, ông L đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) xem xét lại toàn bộ nội dung bản án sơ thẩm, ông không tranh luận gì.

Luật sư B bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông S trình bày quan điểm: ông L khởi kiện không nêu rõ nội dung, căn cứ khởi kiện, không thừa nhận việc chuyển nhượng toàn bộ thửa đất cho ông S và trình bày ông S còn nợ ông L 10.000.000 đồng nhưng không đưa được căn cứ chứng minh. Hiện không có tài liệu nào thể hiện ông L đã kê khai cấp GCNQSDĐ đối với diện tích đất phía sau. Thực tế ông L đã bàn giao chìa khóa nhà, đất và tài sản cho ông S, ông S đã cải tạo, xây dựng một số công trình trên đất và quản lý đất này trên 25 năm. Gia đình ông S đã làm đơn và được cấp GCNQSDĐ, tuy GCNQSDĐ đã bị thu hồi nhưng lý do chủ yếu là đơn xin cấp giấy không ghi ngày tháng năm. Vì vậy có đủ căn cứ chứng minh ông L đã chuyển nhượng toàn bộ thửa đất và tài sản trên đất cho ông S. Đề nghị HĐXX căn cứ khoản 1 Điều 308 BLTTDS không chấp nhận kháng cáo của ông L, giữ nguyên bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện (nay là thị xã) V.

Luật sư C đồng tình với phần tranh luận của Luật sư B, không bổ sung gì thêm.

Ông S nhất trí ý kiến của Luật sư B, không bổ sung gì thêm.

Tham gia phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến: quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến khi mở phiên tòa và tại phiên tòa, Thẩm phán, HĐXX, Thư ký đã thực hiện đúng, đủ quy định của BLTTDS, các đương sự đã thực hiện đúng các quyền nghĩa vụ theo quy định của BLTTDS, một số người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa không có lý do, chưa chấp hành đúng quy định của BLTTDS. Sau khi xem xét yêu cầu kháng cáo của ông L, phân tích nội dung, các tình tiết của vụ án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị HĐXX căn cứ khoản 3 Điều 308 BLTTDS chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, hủy bản án sơ thẩm, chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thị xã Việt Yên giải quyết sơ thẩm lại vụ án. Các đương sự không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định:

[1] Về tố tụng: tại phiên tòa phúc thẩm việc vắng mặt lần thứ hai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo gồm: đại diện UBND UBND thị xã V, đại diện UBND phường B mặc dù đã dược triệu tập hợp lệ nhưng không có lý do; anh Nguyễn Văn T1, anh Nguyễn Văn D3, chị Nguyễn Thị T2, anh Nguyễn Văn H2, chị Nguyễn Thị H3 có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa. HĐXX căn cứ khoản 2, khoản 3 Điều 296 BLTTDS tiếp tục tiến hành xét xử vụ án.

[2] Xét kháng cáo của ông L, HĐXX thấy: về nguồn gốc thửa đất và quá trình sử dụng thửa đất: nguyên đơn và bị đơn đều xác định thửa đất số 48, tờ bản đồ số 22, diện tích 460m² (diện tích theo đo đạc thực tế là 485,4m²) là của bố mẹ ông L để lại. Ông L sử dụng một phần làm đất ở, năm 1986 ông L xây dựng nhà trần 01 tầng diện tích 54m² và 04 gian nhà cấp 4 có công trình phụ (ở phần phía trước của thửa đất). Phần đất còn lại ông L trình bày do mẹ ông quản lý, sử dụng và có làm nhà cấp 4, giếng nước, công trình phụ.

Cuối năm 1993, ông L đã bán thửa đất trên cho gia đình ông S, bà X (ông L trình bày bán phần đất phía trước, ông S trình bày ông L bán cả thửa). Cùng năm 1993 gia đình ông S, bà X chuyển đến sinh sống trên thửa đất này. Năm 1998 ông S, bà X đã xây dựng thêm tầng 2 trên phần nhà trần 54m² ông L xây dựng năm 1986, xây lại tường bao quanh đất, nhà chăn nuôi phía cuối thửa đất diện tích 34,7m². Năm 2010, gia đình ông S xây dựng nhà bếp, nhà vệ sinh bê tông 1 tầng diện tích 49,5m²....

[3] Xét việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản trên đất của các đương sự: hai bên đều thừa nhận năm 1993 các bên có thỏa thuận: ông L bán đất cho ông S, bà X với giá 17.000.000 đồng. Ông L, bà H xác định việc mua bán đất hai bên không lập thành văn bản và ông L chỉ bán phần đất phía trước của thửa đất, là phần đất có 54m² nhà trần xây dựng năm 1986, 04 gian nhà cấp 4 và công trình phụ trên đất. Đối với phần đất phía sau có 03 gian nhà cấp 4, giếng nước và công trình do bố mẹ ông xây dựng để lại thì không bán; ông S, bà X đã trả cho ông bà 7.000.000 đồng, còn 10.000.000 đồng đến nay chưa trả. Đến năm 2014 ông về kê khai cấp GCNQSDĐ đối với diện tích đất phía sau của mẹ ông thì phát hiện ông S, bà X đã tự ý kê khai để được cấp GCNQSDĐ đối với toàn bộ thửa đất trên nên ông đã làm đơn khiếu nại đến UBND huyện V, UBND tỉnh BUBND huyện V đã thu hồi GCNQSDĐ cấp cho ông S, bà X.

Ông S, bà X khẳng định ông bà mua toàn bộ thửa đất với giá 17.000.000 đồng và đã thanh toán toàn bộ số tiền cho ông L, bà H; việc mua bán đất hai bên lập thành văn bản là giấy viết tay nhưng hiện ông, bà không giữ được. Năm 1993, gia đình ông S, bà X đã chuyển đến sinh sống trên thửa đất này, quá trình sử dụng thửa đất ông S, bà X đã tôn tạo, xây dựng các công trình trên toàn bộ thửa đất để sử dụng, đồng thời nộp thuế quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật đối với toàn bộ thửa đất từ năm 1993 đến năm 2022.

Như vậy sự việc chuyển nhượng nhà đất trên giữa hai bên là có thật, ông S, bà X đã được ông L, bà H bàn giao đất và sử dụng ổn định, đều được các bên đương sự thừa nhận. Hiện hai bên không thống nhất về việc chuyển nhượng một phần hay cả thửa, có lập thành văn bản hay không và số tiền đã thanh toán của ông S, bà X cho ông L, bà H.

[4] Nội dung cụ thể việc mua bán đất và số tiền đã thanh toán, hai bên đương sự đều không đưa ra được tài liệu, chứng cứ chứng minh. Xét thấy, bên chuyển nhượng khi thực hiện chuyển nhượng chưa được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp GCNQSDĐ theo quy định, không có một trong các loại giấy tờ chứng minh QSDĐ hợp pháp theo quy định tại Điều 50 Luật đất đai năm 1993, nguồn gốc đất các bên đều thừa nhận là của cha ông để lại. Ông L, bà H không chứng minh được việc đã được bố mẹ tặng cho đối với thửa đất này. Sổ nộp thuế nhà đất năm 1993 của thôn D cung cấp cụ Nguyễn Thị N có quyền sử dụng 360m2 đất ở và có nghĩa vụ chịu thuế theo quy định. Như vậy có đủ căn cứ khẳng định diện tích đất này trước đây là của vợ chồng cụ P, cụ N sau đó ông L lấy vợ và có làm nhà (nhà trần 01 tầng diện tích 54m²) trên một phần diện tích đất này và sinh sống trên nhà đất cho đến năm 1993 thì chuyển nhượng nhà đất cho ông S, bà X. Việc bị đơn thừa nhận có sự việc chuyển nhượng, trả tiền thì bị đơn phải có nghĩa vụ chứng minh các tình tiết liên quan để bảo vệ cho quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Việc ông L thực hiện chuyển nhượng cho ông S, bà X khi không có một trong các loại giấy tờ chứng minh QSDĐ theo quy định và việc chuyển nhượng không được lập thành hợp đồng, không được công chứng, chứng thực theo quy định. Việc chuyển nhượng QSDĐ này không được sự đồng ý của cụ N và các thành viên trong gia đình cụ N là chưa đảm bảo. Toà án sơ thẩm chưa thu thập đủ các tài liệu, chứng cứ để xem xét, đánh giá tính hợp pháp, đánh giá hiệu lực của hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ được xác lập giữa ông L và ông S năm 1993 là thu thập tài liệu, chứng cứ chưa đầy đủ.

Việc thu thập chứng cứ chưa đầy đủ trên làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, vi phạm Điều 93, Điều 97 của BLTTDS, tại phiên toà phúc thẩm không bổ sung được.

[4] Tòa án cấp sơ thẩm không làm rõ yêu cầu khởi kiện của ông L đối với yêu cầu trả 10/17 diện tích của thửa đất phía trước và phần đất phía sau có diện tích bao nhiêu, vị trí, tứ cận, hình thể diện tích đất nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả như thế nào? trị giá QSDĐ là bao nhiêu là chưa đảm bảo; chưa thu thập đủ tài liệu, chứng cứ để giải quyết các yêu cầu khởi kiện này của đương sự là không đảm bảo quy định tại Điều 93, Điều 97 BLTTDS tại phiên toà phúc thẩm không bổ sung được.

[5] Tại cấp phúc thẩm, ông L cung cấp giấy chứng tử của cụ N chết ngày 26/10/2013. Quá trình giải quyết vụ án, Toà án sơ thẩm không đưa những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cụ N vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là đưa thiếu người tham gia tố tụng, làm ảnh hưởng đến quyền và nghĩa vụ của những người này, vi phạm quy định tại khoản 4 Điều 68 của BLTTDS.

Từ những phân tích trên, HĐXX thấy Tòa án cấp sơ thẩm thu thập chứng cứ chưa đầy đủ, tại phiên tòa phúc thẩm không thể thực hiện bổ sung được, xác định thiếu người tham gia tố tụng làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Như vậy có căn cứ chấp nhận kháng cáo của ông L và chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tại phiên tòa, hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 76/2023/DS-ST ngày 05/12/2023 của Toà án nhân dân huyện (nay là thị xã) V, chuyển hồ sơ vụ án cho Toà án nhân dân thị xã Việt Yên giải quyết sơ thẩm lại vụ án.

[6] Về án phí và chi phí tố tụng: căn cứ khoản 3 Điều 148 của BLTTDS các đương sự không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Nghĩa vụ chịu án phí và chi phí tố tụng sẽ được xác định lại khi giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 3 Điều 308 và Điều 310 của Bộ Luật tố tụng dân sự. Xử: chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn L. Huỷ bản án dân sự sơ thẩm số 76/2023/DS-ST ngày 05/12/2023 của Toà án nhân dân huyện (nay là thị xã ) V, tỉnh Bắc Giang. Chuyển hồ sơ vụ án cho Toà án nhân dân thị xã Việt Yên giải quyết sơ thẩm lại vụ án.
  2. Về án phí dân sự sơ thẩm và chi phí tố tụng: sẽ được quyết định khi giải quyết sơ thẩm lại vụ án.
  3. Về án phí dân sự phúc thẩm: các đương sự không phải chịu.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - TAND, Chi cục THADS sơ thẩm;
  • - Cổng thông tin điện tử Tòa án;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: HS, VPHCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Hà Giang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 162/2024/DS-PT ngày 25/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 162/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 25/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: TRANH CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger