Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MỸ ĐỨC

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 162/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 24 - 5 - 2024

V/v Tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC – THÀNH PHỐ HÀ NỘI

  • - Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

    Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Bùi Thị Hồng.

    Các Hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Đại Đồng và ông Nguyễn Tiến Bộ.

  • - Thư ký phiên tòa: bà Đinh Thị Thùy Linh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội.

  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức tham gia phiên toà: bà Lê Thị Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức xét xử sơ thẩm công khaivụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 61/2024/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 02 năm 2024 về tranh chấp ly hôn và nuôi con chung theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 64/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 5 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 71/2024/QÐST-HNGĐ ngày 20 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:

  • Nguyên đơn: anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1991. Có mặt.

    Nơi cư trú: thôn K, xã V, huyện M, TP.

  • Bị đơn: chị Lê Ánh T1, sinh năm 1998. Có mặt.

    Nơi cư trú: thôn K, xã V, huyện M, TP.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung đơn khởi kiện, các lời khai anh Nguyễn Văn T trình bày:

Anh Nguyễn Văn T và chị Lê Ánh T1 tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 28/11/2021 tại UBND xã V, huyện M, TP. . Quá trình chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do bất đồng về quan điểm sống sau đó chị T1 bế con về ngoại ở, vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay, không ai quan tâm hỏi han gì đến nhau, anh T cũng được tìm mọi biện pháp để hàn gắn tình cảm nhưng không có kết quả, quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành hòa giải nhiều lần để vợ chồng có cơ hội đoàn tụ, khi làm việc tại Tòa án chị T1 luôn trình bày vẫn còn tình cảm và mong muốn đoàn tụ với anh T, nhưng khi về đến nhà thì chị T1 lại có thái độ trái ngược hoàn toàn không giống như tại Tòa án. Khi hai bên nói chuyện với nhau thì chị T1 nói toàn những lời khó nghe và thách thức, thậm chí chị T1 còn có những lời nói xúc phạm anh T và gia đình anh. Hiện tình trạng vợ chồng đã mâu thuẫn trầm trọng, anh không thể tiếp tục chung sống được với chị T1 vì tình cảm vợ chồng đã hết và đề nghị Tòa án giải quyết cho anh T được ly hôn để ổn định cuộc sống.

Về con chung: anh T và chị T1 có 01 con chung là Nguyễn Việt A, sinh ngày 13/8/2022. Hiện tại cháu Việt A đang ở với chị T1, khi ly hôn anh xin được nuôi con chung và không yêu cầu chị T1 phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản và nợ chung: anh trình bày vợ chồng không có tài sản chung và nợ chung.

Bị đơn chị Lê Ánh T1 trình bày: chị nhất trí với trình bày của anh T về việc tự nguyện và thời điểm kết hôn như anh T trình bày, quá trình chung sống có mâu thuẫn vợ chồng xuất phát là do chuyện mẹ chồng nàng dâu. Do mẹ chồng chị là người hay để ý con dâu từ chuyện quét dọn nhà cửa đến các vấn đề khác, trong khi đó chị là người có con nhỏ cần phải chăm sóc vì anh T đi làm từ sáng đến tối mới về nhà nên chị nhiều khi không làm vừa lòng được mẹ chồng vì còn phải chăm con nhỏ và đi làm ngoài xã hội. Nhiều lần như vậy, chị bị chồng nhắc nhở rồi to tiếng với nhau khiến cho chị nhiều áp lực cuộc sống. Nay dẫn đến việc ly hôn là do chồng không dung hòa giữa mẹ và vợ, anh T chỉ nghe mẹ, không phân biệt đúng sai, thường trách móc vợ, nhiều lần như vậy, chị T1 xin về nhà bố mẹ đẻ để ở và có xin phép gia đình bố mẹ chồng. Cũng từ thời điểm đó vợ chồng ly thân đến nay. Chị đề nghị Tòa án hòa giải để vợ chồng đoàn tụ về nuôi con chung, chị muốn con có đủ cả cha lẫn mẹ.

Về con chung: anh chị có 01 con chung như anh T trình bày ở trên, con chung hiện đang ở với chị T1. Trường hợp phải ly hôn, chị xin được nuôi con chung và yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con chung 3.000.000đồng (Ba triệu)/ tháng cho đến khi con chung trưởng thành.

Về tài sản và nợ chung: Chị trình bày không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Qua xác minh tại UBND xã V:

Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1991 và chị Lê Ánh T1, sinh năm 1998 trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã V ngày 28 tháng 11 năm 2021 vào sổ đăng ký kết hôn số 38. Vợ chồng đều có hộ khẩu đăng ký thường trú tại thôn K - xã V - huyện M - thành phố Hà Nội.

Sau khi kết hôn vợ chồng sinh sống và làm việc tại thôn K, xã V, huyện M. Hiện tại vợ chồng sống ly thân nhau, chị T1 đang ở nhà bố mẹ đẻ ở cùng xã. Về nguyên nhân mâu thuẫn chính quyền không nắm bắt được mâu thuẫn là gì do vợ chồng không có tiến hành hòa giải ly hôn tại UBND xã. Nay anh T nộp đơn xin ly hôn tại Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức yêu cầu xin ly hôn với chị T1. Quan điểm của Ủy ban nhân dân xã V đề nghị Tòa án xem xét giải quyết ly hôn cho anh T theo quy định của pháp luật.

Về con chung: Vợ chồng chị T1, anh T có 01 con chung: Nguyễn Việt A, sinh ngày 13/8/2022 theo sổ đăng ký khai sinh số 130 tại UBND xã V ngày 19/8/2022, vợ chồng không có con nuôi, con riêng nào. Hiện con chung đang ở với chị T1.

Về tài sản chung, nợ chung: Chính quyền địa phương không cung cấp được do anh chị không khai báo tại với chính quyền địa phương.

Tại phiên tòa, anh T vẫn giữ nguyên quan điểm khởi kiện đề nghị ly hôn với chị Lê Ánh T1 không phải do mâu thuẫn mẹ chồng nàng dâu như chị T1 trình bày mà vì mâu thuẫn vợ chồng dẫn đến tình cảm vợ chồng đã hết.

Về con chung: Do con chung dưới 36 tháng tuổi theo quy định giao cho người mẹ nuôi nên anh đồng ý giao con chung cho chị T1 nuôi, còn về cấp dưỡng nuôi anh đồng ý với mức trợ cấp là 2.000.000 đồng/tháng, vì bản thân anh là lao động tự do, thu nhập bấp bênh nên không đủ điều kiện cấp dưỡng nuôi con chung theo mức yêu cầu trợ cấp của chị T1.

Tại phiên tòa: Chị T1 khẳng định không còn tình cảm gì với anh T nhưng do tài sản riêng của chị T1 khi mang về nhà chồng giữa hai bên chưa tự giải quyết xong nên chị không đồng ý ký ly hôn với anh T.

Về con chung chị vẫn giữ quan điểm xin được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và đồng ý mức trợ cấp của anh T là 2.000.000 đồng/tháng.

Về tài sản chung và công nợ chung vợ chồng: Chị T1 không yêu cầu Tòa án xem xét trong vụ án này

Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát:

Việc chấp hành theo quy định pháp luật của Thẩm phán: Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ án đã làm đúng qui trình tố tụng, không có vi phạm gì, đã xác định đúng tư cách của đương sự, giải quyết đúng thời hạn của vụ án. Về thời hạn chấp hành theo quy định pháp luật của HĐXX: Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng quy định của pháp luật về phiên tòa sơ thẩm. Việc chấp hành theo quy định pháp luật của các đương sự, trong quá trình giải quyết vụ án: Nguyên đơn, bị đơn: chấp hành đúng quy định tố tụng dân sự.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử xử cho anh Nguyễn Văn T được ly hôn chị Lê Ánh T1; về con chung: Đề nghị giao con chung cho chị T1 trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; Buộc anh T phải cấp dưỡng nuôi con chung mức 2.000.000 đồng/tháng cho chị T1 nuôi con chung đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc cho đến khi các đương sự có yêu cầu mới về người trực tiếp nuôi con và trợ cấp nuôi con chung theo quy định của pháp luật; Về tài sản và nợ chung: Đương sự không có yêu cầu nên không xem xét;

Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con chung theo qui định pháp luật;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: anh Nguyễn Văn T khởi kiện xin ly hôn chị Lê Ánh T1 cư trú tại: thôn K, xã V, huyện M, thành phố Hà Nội theo quy định tại khoản 1 điều 28, điểm a khoản 1 điều 35, điểm a khoản 1 điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 đây là tranh chấp hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội.

[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Văn T và chị Lê Ánh T1 kết hôn trên cơ sở có tìm hiểu, tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã V, huyện M, thành phố Hà Nội ngày 28/11/2021nên quan hệ hôn nhân giữa anh chị là hợp pháp.

Xét yêu cầu ly hôn của anh T: Căn cứ tài liệu có trong hồ sơ và tại phiên tòa anh T và chị T1 đều trình bày tình cảm vợ chồng đến thời điểm hiện tại đã hết từ lâu, điều đó thể hiện mục đích hôn nhân không đạt được, các bên tình cảm vợ chồng đã hết thì không thể đem lại hạnh phúc cho nhau khi tiếp tục chung sống. Chị T1 trình bày không đồng ý việc ly hôn của anh T là do vấn đề về tài sản riêng của chị T1 đem về nhà chồng chưa được thỏa thuận xong giữa hai bên nên chị chưa đồng ý ly hôn. Xét thấy quan điểm về việc không ký đơn ly hôn của chị T1 là không thể chấp nhận do vấn đề về tài sản riêng của chị T1 không phải là căn cứ theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình để xem xét yêu cầu ly hôn của anh T. Nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của anh T là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình. Cần giải quyết ly hôn để giải phóng cho hai bên.

[3] Về con chung: Anh, chị xác nhận có 01con chung: Nguyễn Việt A, sinh ngày 13/8/2022 hiện con chung đang ở với chị T1. Tại phiên tòa, anh T nhất trí giao con chung cháu Việt A cho chị T1 trực tiếp nuôi dưỡng và xin trợ cấp nuôi con chung cho chị T1 mức 2.000.000 đồng/tháng được chị T1 nhất trí nên HĐXX chấp nhận các yêu cầu này của đương sự là không trái pháp luật. Về thời điểm trợ cấp sẽ được Tòa án xác định kể từ ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc cho đến khi các đương sự có thay đổi yêu cầu mới về trợ cấp nuôi con chung hoặc thay đổi người trực tiếp nuôi con chung là có cơ sở phù hợp với quy định Điều 81, 82, 84 Luật hôn nhân và gia đình;

[4] Về tài sản và nợ chung vợ chồng: các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố 4 tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ điểm a khoản 5 và điểm đ khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/20216 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn T.

  1. Về quan hệ hôn nhân: anh Nguyễn Văn T được ly hôn chị Lê Ánh T1.

  2. Về con chung: Anh Tú và chị T1 có 01con chung: Nguyễn Việt A, sinh ngày 13/8/2022 hiện đang do chị T1 nuôi dưỡng. Chấp nhận sự tự nguyện thỏa thuận của các đương sự. Tiếp tục giao cháu Nguyễn Việt A cho chị T1 trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung, anh T cấp dưỡng nuôi con chung nuôi cháu Việt A cho chị T1 số tiền là 2.000.000đồng/tháng (Hai triệu đồng một tháng) kể từ thời điểm xét xử sơ thẩm 24/5/2024 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc cho đến khi đương sự có yêu cầu mới về người trực tiếp nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con chung.

    Anh Nguyễn Văn T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

  3. Về tài sản, nợ chung vợ chồng: Anh Tú, chị T1 không yêu cầu nên không xem xét.

  4. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: anh Nguyễn Văn T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0007730 ngày 29/02/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỹ Đức, Thành phố Hà Nội; anh Nguyễn Văn T còn phải nộp tiếp số tiền 300.000 đồng án phí trợ cấp nuôi con chung.

Án xử công khai sơ thẩm, nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật người được thi hành cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sựthì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TANDTP. Hà Nội;
  • - VKSND huyện Mỹ Đức;
  • - Chi cục THADS huyện Mỹ Đức;
  • - UBND xã Vạn Kim;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Bùi Thị Hồng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 162/2024/HNGĐ-ST ngày 24/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC – THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 162/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn T - T1
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger