|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ TỈNH THỪA THIÊN HUẾ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 162/2024/HS-ST
Ngày: 22-05-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Hương Lan.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Trần Thị Thanh Xuân.
- Bà Trần Thị Bích Thuỷ.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thanh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế tham gia phiên tòa: Ông Kiều Anh Mỹ - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 05 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 121/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 04 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 121/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 05 năm 2024 đối với bị cáo:
Trương Viết R, sinh ngày: 15/6/1986, tại tỉnh Thừa Thiên Huế; Nơi cư trú: số I H, phường V, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; nghề nghiệp: Thợ cơ khí; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Viết Đ (đã chết) và bà Phan Thị B, sinh năm 1951; Gia đình có 05 anh chị em, bị cáo là con thứ năm; vợ: Trương Thị Thanh H, sinh năm 1983; Con: Có 02 con, lớn sinh năm 2009, nhỏ sinh năm 2012.
Tiền án: Có 01 tiền án;
Ngày 16/8/2018, bị Tòa án nhân dân thành phố Huế xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số 136/2018/HSST - Chưa thi hành phần bồi thường dân sự trong bản án).
Tiền sự: Không;
* Về nhân thân:
- Ngày 02/4/2010, bị Công an thành phố H xử phạt vi phạm hành chính số tiền 150.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”.
- Ngày 25/3/2004, bị Tòa án nhân dân thành phố Huế xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”.
Bị cáo đang bị tạm giam từ ngày 02/02/2024 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố H; Có mặt.
*Bị hại: Anh Tôn Thất Q, sinh năm 1988; Nơi cư trú: 91/2/4 H, phường V, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; có đơn xin xét xử vắng mặt.
*Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Lê Thành N, sinh năm 1999; Nơi cư trú: Tổ dân phố H, phường H, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế; có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 15 giờ 54 phút ngày 08/9/2023, do thiếu tiền tiêu xài cá nhân nên Trương Viết R nảy sinh ý định lấy trộm tài sản của người khác. Thực hiện ý định trên, R đi bộ đến nhà của anh Tôn Thất Q, sinh năm 1988 tại địa chỉ 9 H, phường V, thành phố H để lấy trộm tài sản. Khi đến R thấy trong nhà anh Q không có ai nên R tự ý mở cổng rồi đi thẳng vào nhà kho thì phát hiện 01 cái máy hàn nên R lén lút lấy trộm. Sau khi lấy trộm được R đưa đến cửa hàng điện cơ tại số B P, phường P, thành phố H bán cho anh Lê Thành N, sinh năm 1999, cư trú tại: tổ dân phố H, phường H, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế với số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng). Sau khi phát hiện tài sản bị mất trộm anh Tôn Thất Q đã có đơn trình báo. Quá trình điều tra, Trương Viết R đã thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình.
* Vật chứng tạm giữ:
- - 01 Máy hàn sắt (đã qua sử dụng).
- - 01 thẻ nhớ camera chứa video nội dung vụ việc.
* Tại kết luận định giá tài sản số 252/KL-HĐĐGTS ngày 30/11/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố H, kết luận:
- - 01 Cái máy hàn sắt màu xanh, nhãn hiệu Heter, đã qua sử dụng, tại thời điểm ngày 08/9/2023 trị giá 650.000 đồng (sáu trăm năm mươi nghìn đồng).
* Về xử lý vật chứng:
Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố H đã trả lại 01 cái máy hàn sắt màu xanh, nhãn hiệu Heter, đã qua sử dụng cho anh Tôn Thất Q.
- Đối với 01 thẻ nhớ camera chứa video nội dung vụ việc tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án.
* Về trách nhiệm dân sự: Anh Q không có yêu cầu gì thêm về dân sự. Anh Lê Thành N yêu cầu R bồi thường số tiền 300.000 đồng mà anh N đã đưa cho R khi mua máy hàn. Hiện R chưa bồi thường.
Tại bản cáo trạng số 142/CT-VKSTPH ngày 11 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế đã truy tố bị cáo Trương Viết R về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trương Viết R phạm tội “ Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm h,s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Trương Viết R từ 06 đến 09 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam ngày 02/02/2024.
* Về xử lý vật chứng:
- Đối với 01 cái máy hàn sắt màu xanh, nhãn hiệu Heter, đã qua sử dụng Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố H đã trả lại cho anh Tôn Thất Q, anh Tôn Thất Q đã nhận lại được tài sản và không có yêu cầu gì thêm, nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Đối với 01 thẻ nhớ camera chứa video nội dung vụ việc tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án.
* Về trách nhiệm dân sự: Anh Tôn Thất Q không có yêu cầu gì thêm về dân sự, nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Đối với số tiền 300.000 đồng, trong quá trình tố tụng điều tra, truy tố anh Lê Thành N yêu cầu R bồi thường số tiền 300.000 đồng mà anh N đã đưa cho R khi mua máy hàn, R chưa bồi thường. Ngày 02/5/2024 Tòa án đưa vụ án ra xét xử, vào ngày 15/5/2024 anh Lê Thành N đã có đơn xin xét xử vắng mặt, không yêu cầu bị cáo bồi thường cho anh N số tiền 300.000 đồng và không có yêu cầu gì thêm, nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Đối với anh Lê Thành N mua máy hàn từ R nhưng anh N không biết đây là tài sản do R trộm cắp mà có nên không có căn cứ xử lý.
- Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Xét hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Tại phiên tòa bị cáo Trương Viết R khai nhận: Vào khoảng 15 giờ 54 phút ngày 08/9/2023 tại 91/2/4 H, phường V, thành phố H, Trương Viết R đã trộm cắp của anh Tôn Thất Q 01 cái máy hàn có trị giá 650.000 đồng (sáu trăm năm mươi nghìn đồng). Tuy giá trị tài sản mà R lấy trộm dưới 2.000.000 đồng, nhưng do Trương Viết R đang có 01 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” bản án số 136/2018/HSST ngày 16/8/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Huế xử phạt 01 năm tù về tội Trộm cắp tài sản, nhưng chưa được xóa án tích, nên đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Như vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế đã truy tố bị cáo Trương Viết R theo điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo thấy rằng: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là trái pháp luật, nhưng vì muốn có tài sản mà không bằng sức lao động của bản thân nên bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở của bị hại để lén lút chiếm đoạt tài sản. Hành vi thực hiện tội phạm của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây hoang mang lo lắng cho cộng đồng dân cư, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự tại địa phương. Bị cáo là người trưởng thành, lẻ ra phải làm ăn lương thiện, nhưng do bản tính tham lam, lười lao động nên chiếm đoạt tài sản của người khác. Bản thân bị cáo đã bị công an xử phạt hành chính về hành vi trộm cắp tài sản và đã bị Tòa án xử phạt tù về tội Trộm cắp tài sản, bị cáo có 01 tiền án tại bản án số 136/2018/HSST ngày 16/8/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Huế xử phạt 01 năm tù về tội Trộm cắp tài sản, nhưng chưa được xóa án tích. Bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân mà lại tiếp tục phạm tội. Do đó cần có mức án tương xứng với hành vi do bị cáo gây ra và cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo, đồng thời răn đe phòng ngừa chung. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo vì quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo phạm tội gây thiệt hại không lớn, thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h,s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự theo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế tại phiên tòa là có căn cứ.
[4] Về xử lý vật chứng: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố H đã giải quyết trả lại máy hàn sắt cho bị hại và bị hại không có ý kiến yêu cầu gì thêm, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Đối với 01 thẻ nhớ camera chứa video nội dung vụ việc tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Đối với số tiền 300.000 đồng, trong quá trình tố tụng điều tra, truy tố anh Lê Thành N yêu cầu R bồi thường số tiền 300.000 đồng mà anh N đã đưa cho R khi mua máy hàn, R chưa bồi thường. Ngày 02/5/2024 Tòa án đưa vụ án ra xét xử, vào ngày 15/5/2024 anh Lê Thành N đã có đơn xin xét xử vắng mặt, không yêu cầu bị cáo bồi thường cho anh N số tiền 300.000 đồng và không có yêu cầu gì thêm, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Đối với anh Lê Thành N mua máy hàn từ R nhưng anh N không biết đây là tài sản do R trộm cắp mà có nên không có căn cứ xử lý là đúng quy định pháp luật.
[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 173; điểm h,s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
- Tuyên bố bị cáo Trương Viết R phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Xử phạt bị cáo Trương Viết R 06(sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam ngày 02/02/2024.
- Về trách nhiệm dân sự: Anh Tôn Thất Q, anh Lê Thành N không yêu cầu bị cáo bồi thường và không có yêu cầu gì thêm, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, xử: Tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án 01 thẻ nhớ camera chứa video nội dung vụ việc.
- Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Trương Viết R phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hương Lan |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
Bản án số 162/2024/HS-ST ngày 22/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ về trộm cắp tài sản (vụ án hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 162/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Vụ án Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: trộm cắp tài sản
