Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 10- AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 162/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 31-12-2025

V/v tranh chấp ly hôn, con chung

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10- AN GIANG

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Mỹ Dung

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1/ Ông Phan Văn Dân
  • 2/ Bà Nguyễn Thị Ánh Nguyệt

-Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Anh Đào- là Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 10- An Giang.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 10- An Giang tham gia phiên tòa: không tham gia.

Ngày 31 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân Khu vực 10- An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 265/2025/TLST- HNGĐ ngày 30 tháng 10 năm 2025 về tranh chấp “ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 345/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 11 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 289/2025/QĐST-HNGĐ ngày 12 tháng 12 năm 2025 giữa các đương sự:

-Nguyên đơn: Anh Trần Công T, sinh năm: 1981 (có đơn xin xét xử vắng mặt). ĐT: 0336.948.xxx

Số căn cước công dân: [...], cấp ngày 26/9/2022

HKTT: ấp H, xã A, tỉnh An Giang

-Bị đơn: chị Trần Thị Đ, sinh năm: 1985 (vắng mặt). ĐT: 0378.717.xxx

Số căn cước công dân: [...] cấp ngày ......

HKTT: Ấp H, xã A, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện ly hôn, bản tự khai cùng ngày 22/10/2025 nguyên đơn anh Trần Công T trình bày:

-Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Trần Thị Đ tiến tới hôn nhân vào năm 2001 hôn nhân do tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã A, huyện C, tỉnh An Giang. Sau khi kết hôn anh về chung sống với gia đình bên vợ, chúng tôi sống êm ấm hơn 10 năm thì phát sinh mâu thuẩn, do bất đồng trong cuộc sống do đặc điểm việc làm, chị Đ lại sinh ra chia xẽ tình cảm với người đàn ông khác, bỏ bê gia đình chồng con..Từ đó dẫn đến bất đồng trong tình cảm vợ chồng, không còn tôn trọng nhau, không còn tin tưởng nhau, nên chúng tôi luôn bất hòa không hạnh phúc. Anh nhận thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn và kéo dài thêm nên anh yêu cầu được ly hôn với chị Trần Thị Đ.

-Về con chung: Có 03 con chung tên Trần Công T1, sinh năm: 2002, Trần Công L, sinh năm: 2007; Trần Thị Cẩm N, sinh năm: 2009. Hiện con đã trưởng thành.

-Về tài sản và nợ chung: không có không yêu cầu Tòa án giải quyết

Bị đơn chị Trần Thị Đ: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt và niêm yết hợp lệ thông báo thụ lý, các thông báo về phiên họp kiểm tra về việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng chị Trần Thị Đ vẫn vắng mặt các buổi phiên họp giao nộp chứng cứ và hòa giải không có lý do và cũng không có văn bản trình bày ý kiến về yêu cầu xin ly hôn của anh Trần Công T. Qua thông tin nơi cư trú thì chị Trần Thị Đ hiện nay hộ khẩu thường trú vẫn Ấp H, xã A, tỉnh An Giang.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về nội dung vụ án:

[1.1]Về quan hệ hôn nhân: anh Trần Công T và chị Trần Thị Đ tiến tới hôn nhân vào năm 2001, hôn nhân do tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã A, huyện C, tỉnh An Giang. Do đó, hôn nhân của anh chị là hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Theo như phần trình bày của anh T yêu cầu ly hôn, là do nguyên nhân tính tình không hòa hợp, nay anh nhận thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn và kéo dài thêm nên anh yêu cầu được ly hôn với chị Trần Thị Đ. Xét thấy với thời gian ngắn chung sống hai bên đã phát sinh mâu thuẩn nhưng cả hai không tìm ra biện pháp hàn gắn tình cảm vợ chồng dẫn đến vợ chồng sống ly thân và anh T yêu cầu ly hôn. Trong thời gian ly thân hai bên không tạo điều kiện để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Trong thời gian giải quyết vụ án, mặc dù Tòa án đã tống đạt giấy mời nhưng chị Trần Thị Đ cũng không đến và cũng không có văn bản gửi cho Tòa án để có ý kiến về việc xin ly hôn của anh T. Hiện tại anh T xác định không còn tình cảm với chị Đ. Tại đơn xin xét xử vắng mặt anh T cũng giữ nguyên phần trình bày trong đơn là anh vẫn cương quyết xin ly hôn. Do đó, hôn nhân của anh Trần Công T và chị Trần Thị Đ không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nghĩ nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Trần Công T là hoàn toàn phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân gia đình năm 2014.

[1.2]Về con chung: Có 03 con chung tên Trần Công T1, sinh năm: 2002, Trần Công L, sinh năm: 2007; Trần Thị Cẩm N, sinh năm: 2009. Sau ly hôn anh đồng ý để cháu N cho chị Đ nuôi dưỡng, anh không cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy cháu Trần Thị Cẩm N từ nhỏ và hiện tại đang sống với chị Đ, hiện tại cuộc sống của cháu ổn định. Tại bản tự khai ngày 22/10/2025 cháu N có nguyện vọng sống với mẹ khi cha mẹ ly hôn. Do đó để ổn định cuộc sống của cháu N nghĩ nên để chị Đ được nuôi cháu N là phù hợp, anh T không cấp dưỡng nuôi con, Còn chị Đ thì không có ý kiến. Vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét, dành cho chị Đ quyền khởi kiện cấp dưỡng nuôi con trong vụ kiện khác khi chị Đ có yêu cầu. Chị Trần Thị Đ phải tạo điều kiện thuận lợi cho anh T được quyền tới lui thăm nom, chăm sóc cháu, không ai được cản trở khi anh thực hiện quyền này.

[1.3]Về tài sản và nợ chung: anh Trần Công T trình bày không có, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[2]Về án phí: Do yêu cầu của anh Trần Công T được chấp nhận nên phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

-Căn cứ các điều 9, 53, 56,58 Luật Hôn nhân gia đình 2014, các điều 28, 35, 147, 227, 228, 266, 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của anh Trần Công T. Cho ly hôn giữa anh Trần Công T và chị Trần Thị Đ
  2. Về con chung: Có 03 con chung tên Trần Công T1, sinh năm: 2002, Trần Công L, sinh năm: 2007; Trần Thị Cẩm N, sinh năm: 2009. Hiện Trần Công T1 và Trần Công L đã trưởng thành. Sau ly hôn chị Trần Thị Đ được tiếp tục nuôi cháu Trần Thị Cẩm N, anh T không cấp dưỡng nuôi con. Chị Trần Thị Đ phải tạo điều kiện thuận lợi cho anh T được quyền tới lui thăm nom, chăm sóc cháu, không ai được cản trở khi anh thực hiện quyền này.
  3. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: anh Trần Công T phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số 0006239 ngày 27/10/2025 của Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 10- An Giang
  4. Về kháng cáo: Anh Trần Công T và chị Trần Thị Đ được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hoặc niêm yết bản án.
  5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

  • - Những người tham gia tố tụng (để thi hành);
  • - TAND tỉnh;
  • -VKSND Khu vực 10;
  • -Phòng THA.DS Khu vực 10- An Giang;
  • -Cơ quan đăng ký kết hôn;
  • -Lưu hồ sơ.

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Mỹ Dung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 162/2025/HNGĐ-ST ngày 31/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10- AN GIANG về tranh chấp ly hôn, con chung

  • Số bản án: 162/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn, con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10- AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 1.Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của anh Trần Công Trường. Cho ly hôn giữa anh Trần Công Trường và chị Trần Thị Đua 2.Về con chung: Có 03 con chung tên Trần Công Thành, sinh năm: 2002, Trần Công Lộc, sinh năm: 2007; Trần Thị Cẩm Như, sinh năm: 2009. Hiện Trần Công Thành và Trần Công Lộc đã trưởng thành. Sau ly hôn chị Trần Thị Đua được tiếp tục nuôi cháu Trần Thị Cẩm Như, anh Trường không cấp dưỡng nuôi con. Chị Trần Thị Đua phải tạo điều kiện thuận lợi cho anh Trường được quyền tới lui thăm nom, chăm sóc cháu, không ai được cản trở khi anh thực hiện quyền này. 3.Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: anh Trần Công Trường phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số 0006239 ngày 27/10/2025 của Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 10- An Giang
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger