TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 162/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 24/9/2024
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Hoàng.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Tô Văn Nhung;
- Bà Nguyễn Thị Bửu Huệ.
- Thư ký phiên toà: Ông Phạm Anh Ly - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Hoa - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 264/2024/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 7 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 177/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 7 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 125/2024/QĐST-HNGĐ ngày 06 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Chị Lâm Thị D, sinh năm: 1991; địa chỉ thường trú: Thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình; địa chỉ tạm trú: Hẻm H đường T, khu phố N, phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương; vắng mặt có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- - Bị đơn: Anh Nguyễn Thế T, sinh năm: 1983; địa chỉ thường trú: Thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình; địa chỉ tạm trú: Hẻm H T, khu phố N, phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 10/6/2024 và lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Lâm Thị D trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Lâm Thị D và anh Nguyễn Thế T tự nguyện tìm hiểu nhau, được hai bên gia đình tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình theo giấy chứng nhận kết hôn số 42/2011 quyển số 03/2011 ngày 27/8/2011. Sau khi kết hôn vợ chồng sống với nhau rất hạnh phúc, sau đó phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân là do quan điểm về cuộc sống không đồng nhất dẫn đến không thể nói chuyện và chia sẻ với nhau, thường xuyên tranh cãi với nhau. Mặc dù hai bên đã rất cố gắng, hai gia đình cũng đã can thiệp nhưng không thể giải quyết được. Nay chị D xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu được ly hôn với anh T.
- Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 03 con chung là: Nguyễn Thế Đăng K, sinh ngày 02/3/2012; Nguyễn Thế Thành Đ, sinh ngày 12/3/2018 và Nguyễn Ngọc Như Q, sinh ngày 26/11/2013. Khi ly hôn chị D yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục 03 con chung, chị D không yêu cầu anh Nguyễn Thế T thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Chị D không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nghĩa vụ chung và nợ chung: Chị D không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình tố tụng, bị đơn anh Nguyễn Thế T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý và các tài liệu chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện do nguyên đơn cung cấp. Tòa án đã triệu tập hợp lệ bị đơn anh T để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải vào ngày 29/7/2024; tham gia phiên tòa vào các ngày 06/9/2024 và ngày 24/9/2024 nhưng anh T vắng mặt không có lý do. Đồng thời, anh T cũng không có ý kiến, yêu cầu gì đối với yêu cầu khởi kiện của chị D.
- Ngày 03/7/2024 Tòa án xác minh tình trạng hôn nhân, quá trình chung sống và vấn đề chăm sóc nuôi dạy con chung giữa chị D và anh T tại Hội Liên hiệp phụ nữ phường B và được cung cấp như sau: Trước khi khởi kiện ly hôn tại Tòa án, chị D, anh T không có yêu cầu địa phương tổ chức hòa giải cơ sở. Quá trình chung sống thì vấn đề mâu thuẫn, nguyên nhân xảy ra mâu thuẫn và vấn đề chăm sóc nuôi dạy con chung thì Hội Liên hiệp phụ nữ phường không rõ vì không có thông tin cung cấp từ đại diện khu phố cũng như người dân phản ánh. Đề nghị Tòa án căn cứ vào các quy định của pháp luật để giải quyết vụ án theo quy định.
- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến tại phiên tòa đã tuân thủ đúng pháp luật về tố tụng dân sự, nguyên đơn có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không lý do. Căn cứ vào Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn là đúng quy định của pháp luật. Về nội dung: Xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Nguyên đơn chị Lâm Thị D có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt và đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải; bị đơn anh Nguyễn Thế T đã được triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt hai lần liên tiếp không có lý do chính đáng. Căn cứ các Điều 207, 227 và 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án không tiến hành hòa giải được và Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Lâm Thị D và anh Nguyễn Thế T là vợ chồng, có đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn số 42/2011 quyển số 03/2011 do Ủy ban nhân xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình cấp vào ngày 27/8/2011 nên là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Chị D xác định quá trình chung sống vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân là do quan điểm về cuộc sống không đồng nhất dẫn đến không thể nói chuyện và chia sẻ với nhau, thường xuyên tranh cãi. Mặc dù hai bên đã rất cố gắng, hai gia đình cũng đã can thiệp nhưng không thể giải quyết được. Chị D xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu được ly hôn với anh T.
Xét thấy, mục đích của hôn nhân là nhằm xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, hạnh phúc; để đạt được mục đích đó vợ chồng cần phải thương yêu, tin tưởng, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ, tạo điều kiện cho nhau phát triển về mọi mặt. Chị D xác định quan hệ hôn nhân của vợ chồng có nhiều mâu thuẫn và hiện cả hai đều không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Anh T đã được Tòa án triệu tập làm việc cũng như tham gia phiên tòa trong vụ án nhưng anh T đều vắng mặt không có lý do, không có văn bản trình bày ý kiến gửi cho Tòa án cũng như không thể hiện ý muốn hòa giải đoàn tụ. Như vậy, có cơ sở xác định mâu thuẫn giữa chị D và anh T đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, chị D yêu cầu được ly hôn với anh T là có căn cứ chấp nhận, phù hợp với quy định tại Điều 51 và Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
[3] Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng chị D, anh T có 03 con chung là Nguyễn Thế Đăng K, sinh ngày 02/3/2012; Nguyễn Thế Thành Đ, sinh ngày 12/3/2018 và Nguyễn Ngọc Như Q, sinh ngày 26/11/2013. Việc giao con chung cho ai nuôi dưỡng cần phải xem xét về mọi mặt và quyền lợi của con chưa thành niên.
Xét thấy, quá trình tố tụng tại Tòa án, tại các phiên tòa anh T đều vắng mặt không có lý do, không có văn bản nào thể hiện ý chí mong muốn được nuôi con chung, không cung cấp chứng cứ về khả năng thu nhập của mình. Chị D có thu nhập ổn định là 15.000.000 đồng/tháng từ việc buôn bán, quá trình tố tụng hai con chung tên Nguyễn Thế Đăng K, Nguyễn Ngọc N Q trình bày có nguyện vọng được sống cùng chị D nên cần xem xét nguyện vọng của hai cháu K, Q. Đối với con chung tên Nguyễn Thế Thành Đ còn nhỏ và đang sinh sống ổn định cùng chị D và hai cháu K, Q. Do đó để tạo mọi điều kiện tốt nhất cho ba con chung của chị D và anh T được phát triển toàn diện về thể chất lẫn tinh thần, đảm bảo quyền và lợi ích mọi mặt của con chung chưa thành niên khi chị D và anh T ly hôn, cần giao ba con chung của chị D và anh T cho chị D được trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng theo quy định tại các Điều 58; 81; 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình. Vì vậy, có cơ sở để chấp nhận yêu cầu của chị D về việc được trực tiếp nuôi dưỡng 03 con chung.
[4] Về vấn đề cấp dưỡng nuôi con: Chị Lâm Thị D không yêu cầu anh Nguyễn Thế T thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con nên ghi nhận.
[5] Về tài sản chung và nghĩa vụ chung: Đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.
[6] Từ những phân tích trên có căn cứ chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An về việc giải quyết vụ án.
[7] Án phí dân sự sơ thẩm: Chị Lâm Thị D phải chịu án phí theo quy định của của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147 và các Điều 227, 228, 266, 271 và 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự;
Các Điều 51, 56, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình;
Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lâm Thị D về việc tranh chấp ly hôn, nuôi con đối với bị đơn anh Nguyễn Thế T.
- - Về quan hệ hôn nhân: Chị Lâm Thị D được ly hôn với anh Nguyễn Thế T (Giấy chứng nhận kết hôn số 42/2011 quyển số 03/2011 do Ủy ban nhân xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình cấp vào ngày 27/8/2011).
- - Về con chung: Giao 03 con chung là các cháu Nguyễn Thế Đăng K, sinh ngày 02/3/2012; Nguyễn Thế Thành Đ, sinh ngày 12/3/2018 và Nguyễn Ngọc Như Q, sinh ngày 26/11/2013 cho chị Lâm Thị D trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục đến khi con chung đủ tuổi thành niên. Ghi nhận sự tự nguyện của chị D không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.
- Sau ly hôn, chị Lâm Thị D và anh Nguyễn Thế T phải tạo điều kiện cho nhau trong việc chăm sóc, thăm nom, giáo dục con, không ai có quyền cản trở anh, chị thực hiện quyền này. Vì lợi ích về mọi mặt của con khi một hoặc hai bên đương sự có yêu cầu, Tòa án sẽ quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng.
- - Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản (nợ chung): Đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Lâm Thị D phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001041 ngày 28/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
- Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Minh Hoàng |
Bản án số 162/2024/HNGĐ-ST ngày 24/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 162/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lâm Thị D-Nguyễn Thế T
