Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

TỈNH ĐỒNG NAI

Bản án số: 162/2024/DSST

Ngày: 16/9/2024

V/v: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phú

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Chính

Bà Huỳnh Thị Kim Kiên

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Quỳnh Anh Thư - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP. Biên Hòa tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thúy Duyên – Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 9 năm 2024 tại Hội trường 6 - Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 248/2024/TLST-DS ngày 15/3/2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 204/2024/QĐXXST-DS ngày 05/8/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 1317/2024/QĐST-DS ngày 26/8/2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Q (V1).

Địa chỉ trụ sở: Tầng A (tầng trệt) và Tầng B, Tòa nhà S - A P, phường B, Quận A, thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện theo pháp luật: Ông Hàn Ngọc V; chức vụ: Tổng giám đốc.

Đại diện theo ủy quyền: Bà Trần Thị Thu H; chức vụ: Giám đốc Trung tâm Q1 – Khối Ngân hàng Bán lẻ VIB (theo Giấy ủy quyền số 006325.23 ngày 27/01/2023).

Bà Trần Thị Thu H ủy quyền lại cho:

  1. Bà Ngô Thị L;
  2. Ông Lưu Hoàng Phúc T;
  3. Bà Kha Cẩm P;
  4. Ông Nguyễn Ngọc T1.

Cùng địa chỉ liên hệ: Tầng F, Tòa nhà P, số B, U, phường B, Quận B, thành phố Hồ Chí Minh (theo Giấy ủy quyền số 093865.24 ngày 14/5/2024).

- Bị đơn: Bà Lưu Lệ C, sinh năm 1988.

Địa chỉ: G, đường C, khu phố B, phường Q, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

(Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Kha Cẩm P có mặt; bị đơn bà Lưu Lệ C vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Theo đơn khởi kiện và các bản tự khai đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Kha Cẩm P trình bày:

Giữa Ngân hàng và bà Lưu Lệ C có thực hiện ký kết các Hợp đồng cụ thể như sau:

+ Hợp đồng tín dụng số 494376.HDTD802.18 ngày 20/9/2018 với số tiền vay 400.000.000 đồng (Bốn trăm triệu đồng). Mục đích vay: tiêu dùng. Thời hạn vay: 48 tháng kể từ ngày 20/9/2018 đến ngày 20/9/2022. Lãi suất tại thời điểm giải ngân là 15.5%/năm, lãi suất này được cố định trong suốt thời gian vay. Số tiền phải hoàn trả hàng tháng (bao gồm gốc và lãi): 11.233.944 đồng, ngày đến hạn trả tiền hàng tháng: 26, ngày trả nợ đầu tiên là ngày 26/10/2018. Khoản vay đã được Ngân hàng giải ngân cho bà C vào ngày 20/9/2018.

+ Hợp đồng phát hành thẻ tín dụng quốc tế số 802_18092018_494376 ngày 13/9/2018 về việc cấp thẻ tín dụng quốc tế V1, hạn mức thẻ: 60.000.000 đồng; lãi suất, phí: theo bản chấp thuận về điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng VIB.

Tài sản bảo đảm cho khoản vay: Khoản vay không có tài sản bảo đảm.

Quá trình thực hiện hợp đồng, bà Lưu Lệ C đã vi phạm nội dung thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng và Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng đã ký, khoản vay đã quá hạn thanh toán từ ngày 03/3/2019 và đang xếp loại nợ nhóm 05 là nợ xấu theo quy định tại Điều 10 Thông tư số 11/2021/TT-NHNN của Ngân hàng N.

Tạm tính đến ngày làm đơn khởi kiện 11/12/2023, bà Lưu Lệ C đã thanh toán cho Ngân hàng V1 số tiền: 56.197.990 đồng, trong đó nợ gốc 29.911.614 đồng và nợ lãi 26.286.376 đồng. Bà C không thanh toán thêm số tiền nào cho Ngân hàng từ ngày 03/3/2019 đến nay.

Do bà C đã vi phạm nội dung thỏa thuận theo Hợp đồng tín dụng và Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng đã ký, khoản vay đã quá hạn thanh toán từ ngày 03/3/2019. Vì vậy, Ngân hàng TMCP Q khởi kiện yêu cầu bà Lưu Lệ C thực hiện nghĩa vụ thanh toán tại Tòa án.

Cụ thể đến ngày xét xử sơ thẩm, bà C chưa thánh toán các khoản như sau:

- Hợp đồng tín dụng số 494376.HDTD802.18 ngày 20/9/2018:

+ Nợ gốc: 370.088.386 đồng.

+ Nợ lãi trong hạn: 136.801.646 đồng;

+ Nợ lãi quá hạn: 326.575.465 đồng;

+ Phí/Lãi phạt: 0 đồng

Tổng cộng: 833.465.497 đồng

- Hợp đồng phát hành thẻ tín dụng quốc tế số 802_18092018_494376 ngày 13/9/2018:

+ Nợ gốc: 59.969.258 đồng.

+ Nợ lãi trong hạn: 0 đồng;

+ Nợ lãi quá hạn: 21.385.304 đồng;

+ Phí/Lãi phạt: 50.553.171 đồng

Tổng cộng: 131.907.733 đồng.

Như vậy, đối với 02 hợp đồng nêu trên, đến ngày 16/9/2024 bà C còn nợ Ngân hàng cụ thể như sau:

+ Nợ gốc: 430.057.644 đồng (Bốn trăm ba mươi triệu không trăm năm mươi bảy nghìn sáu trăm bốn mươi bốn đồng);

+ Nợ lãi trong hạn: 136.801.646 đồng (Một trăm ba mươi sáu triệu tám trăm lẻ một nghìn sáu trăm bốn mươi sáu đồng);

+ Nợ lãi quá hạn: 347.960.769 đồng (Ba trăm bốn mươi bảy triệu chín trăm sáu mươi nghìn bảy trăm sáu mươi chín đồng).

+ Phí/Lãi phạt: 50.553.171 đồng (Năm mươi triệu năm trăm năm mươi ba nghìn một trăm bảy mươi mốt đồng).

Tổng cộng: 965.373.230 đồng (Chín trăm sáu mươi lăm triệu ba trăm bảy mươi ba nghìn hai trăm ba mươi đồng).

Ngân hàng kính đề nghị quý Toà án xem xét, giải quyết các yêu cầu của Ngân hàng đối với người bị kiện như sau:

  1. Buộc bà Lưu Lệ C thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng toàn bộ số tiền nợ của Hợp đồng tín dụng số 494376.HDTD802.18 ngày 20/9/2018 và Hợp đồng phát hành thẻ tín dụng quốc tế số 802_18092018_494376 ngày 13/9/2018 tạm tính đến ngày 16/9/2024, bao gồm:

    - Toàn bộ nợ gốc: 430.057.644 đồng (Bốn trăm ba mươi triệu không trăm năm mươi bảy nghìn sáu trăm bốn mươi bốn đồng);

    - Nợ lãi trong hạn: 136.801.646 đồng (Một trăm ba mươi sáu triệu tám trăm lẻ một nghìn sáu trăm bốn mươi sáu đồng);

    - Nợ lãi quá hạn: 347.960.769 đồng (Ba trăm bốn mươi bảy triệu chín trăm sáu mươi nghìn bảy trăm sáu mươi chín đồng).

- Phí/Lãi phạt: 50.553.171 đồng (Năm mươi triệu năm trăm năm mươi ba nghìn một trăm bảy mươi mốt đồng).

Tổng cộng: 965.373.230 đồng (Chín trăm sáu mươi lăm triệu ba trăm bảy mươi ba nghìn hai trăm ba mươi đồng).

  1. Ngân hàng yêu cầu bà C có nghĩa vụ thanh toán lãi, lãi quá hạn, phí kể từ ngày 17/9/2024 cho đến khi bà Lưu Lệ C thanh toán xong toàn bộ khoản nợ theo quy định tại Hợp đồng tín dụng số 494376.HDTD802.18 ngày 20/9/2018 và Hợp đồng đăng ký phát hành thẻ tín dụng quốc tế ngày 13/9/2018 đã ký với Ngân hàng.

Ngoài yêu cầu trên, nguyên đơn không còn yêu cầu nào khác.

- Đối với bị đơn bà Lưu Lệ C:

Quá trình tố tụng, bị đơn bà Lưu Lệ C đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án; triệu tập hợp lệ để làm việc, lấy lời khai; tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; tham gia phiên tòa nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do. Đồng thời, bị đơn cũng không có ý kiến, yêu cầu gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa:

1. Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán

- Về thẩm quyền giải quyết: Tranh chấp giữa Ngân hàng TMCP Q với bà Lưu Lệ C là tranh chấp dân sự; đồng thời bị đơn có địa chỉ tại thành phố B, Đồng Nai. Do đó căn cứ vào khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS thì đây là vụ kiện thuộc thẩm quyền thụ lý giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, Thẩm phán đã xác định thẩm quyền thụ lý vụ án đúng với quy định của pháp luật.

- Về quan hệ pháp luật: Thẩm phán xác định đây là vụ kiện “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” giữa Ngân hàng TMCP Q với bà Lưu Lệ C là hoàn toàn phù hợp đúng với khoản 3 Điều 26 BLTTDS.

- Về xác định tư cách pháp lý của những người tham gia tố tụng: Thẩm phán đã xác định nguyên đơn, bị đơn theo đúng theo quy định tại khoản 2, 3 Điều 68 BLTTDS.

- Về thụ lý vụ án và thời hạn chuẩn bị xét xử:

+ Về thụ lý vụ án: Thẩm phán đã thực hiện đúng quy định tại Điều 195, 196 BLTTDS.

+ Về thời hạn chuẩn bị xét xử: xét thấy Thẩm phán đảm bảo về thời hạn chuẩn bị xét xử được quy định tại Điều 203 BLTTDS.

- Về thủ tục hòa giải, tiếp cận công khai chứng cứ: Thẩm phán thực hiện đúng theo quy định tại Điều 205, 208, 209, 210, 211 BLTTDS .

- Về việc chuyển giao hồ sơ cho VKS: Thẩm phán thực hiện đúng quy định tại khoản 2 Điều 220 BLTTDS.

- Việc cấp, tống đạt các văn bản tố tụng: Thẩm phán đều thực hiện đúng quy định tại các Điều 171, 173, 17, 179 BLTTDS.

2. Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa.

Hội đồng xét xử đảm bảo đúng thành phần, đảm bảo sự vô tư, khách quan khi giải quyết vụ án và tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.

Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

3. Về việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng:

- Đối với nguyên đơn, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định về người có yêu cầu khởi kiện, cung cấp chứng cứ cho toà án để chứng minh những yêu cầu hợp pháp của mình, tham gia phiên họp công khai chứng cứ theo đúng thông báo của toà án là thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, 71, 85, 86, 91, 96 BLTTDS.

- Đối với bị đơn trong quá trình giải quyết vụ án được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do tại phiên họp kiểm tra công khai chứng cứ và hòa giải là chưa thực hiện đúng quy định tại Điều 70, 72 BLTTDS.

4. Về đường lối giải quyết vụ án:

Qua nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, thấy rằng:

Ngân hàng TMCP Q (V1) và bà Lưu Lệ C thoả thuận ký kết Hợp đồng tín dụng số 494376.HDTD802.18 ngày 20/9/2018 để vay số tiền: 400.000.000 đồng (Bốn trăm triệu đồng). Mục đích vay: Tiêu dùng. Thời hạn vay: 48 tháng kể từ ngày 20/9/2018 đến ngày 20/9/2022. Lãi suất tại thời điểm giải ngân là 15.5%/năm, lãi suất này được cố định trong suốt thời gian vay. Số tiền phải hoàn trả hàng tháng (bao gồm gốc và lãi): 11.233.944 đồng, ngày đến hạn trả tiền hàng tháng: 26, ngày trả nợ đầu tiên là ngày 26/10/2018. Khoản vay đã được Ngân hàng giải ngân cho bà C vào ngày 20/9/2018 theo đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 494376.KUNN802.18 ngày 19/9/2018.

Căn cứ theo Hợp đồng phát hành thẻ tín dụng quốc tế số 802_18092018_494376 ngày 13/9/2018, Ngân hàng đã cấp cho bà Lưu Lệ C thẻ tín dụng quốc tế VIB MC World Elite vào ngày 14/9/2018, số thẻ: 5130940919000223, hạn mức thẻ: 60.000.000 đồng; lãi suất, phí: theo bản chấp thuận về điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng VIB.

Xét thấy: Trong quá trình thực hiện nghĩa vụ trả nợ, bà Lưu Lệ C đã thanh toán cho V1 số tiền là 56.197.990 đồng (trong đó nợ gốc: 29.911.614 đồng và nợ lãi 26.286.376 đồng). Từ ngày 03/3/2019, bà Lưu Lệ C đã vi phạm nội dung thỏa thuận theo Hợp đồng tín dụng và Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng đã ký, khoản vay đã quá hạn thanh toán dẫn đến phát sinh nợ quá hạn. Do bà Lưu Lệ C đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, nên việc VIB yêu cầu bà Lưu Lệ C phải thanh toán khoản nợ cho VIB số tiền tạm

tính đến ngày 16/9/2024 là 965.373.230 đồng (Chín trăm sáu mươi lăm triệu ba trăm bảy mươi ba nghìn hai trăm ba mươi đồng), trong đó nợ gốc: 430.057.644 đồng; nợ lãi trong hạn 136.801.646 đồng (Một trăm ba mươi sáu triệu tám trăm lẻ một nghìn sáu trăm bốn mươi sáu đồng); nợ lãi quá hạn: 347.960.769 đồng (Ba trăm bốn mươi bảy triệu chín trăm sáu mươi nghìn bảy trăm sáu mươi chín đồng); phí/lãi phạt: 50.553.171 đồng (Năm mươi triệu năm trăm năm mươi ba nghìn một trăm bảy mươi mốt đồng) và tiền lãi phát sinh từ ngày 17/9/2024 đến khi trả hết nợ vay theo Hợp đồng tín dụng số 494376.HDTD802.18 ngày 20/9/2018 và Hợp đồng phát hành thẻ tín dụng quốc tế số 802_18092018_494376 ngày 13/9/2018 là có cơ sở chấp nhận.

Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa đề nghị Hội đồng xét xử sơ thẩm:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Q:

    - Buộc bà Lưu Lệ C thanh toán cho Ngân hàng TMCP Q số tiền vay tạm tính đến ngày 16/9/2024 là 965.373.230 đồng (Chín trăm sáu mươi lăm triệu ba trăm bảy mươi ba nghìn hai trăm ba mươi đồng) trong đó nợ gốc: 430.057.644 đồng, nợ lãi trong hạn: 136.801.646 đồng (Một trăm ba mươi sáu triệu tám trăm lẻ một nghìn sáu trăm bốn mươi sáu đồng); nợ lãi quá hạn: 347.960.769 đồng (Ba trăm bốn mươi bảy triệu chín trăm sáu mươi nghìn bảy trăm sáu mươi chín đồng); phí/lãi phạt 50.553.171 đồng.

    Kể từ ngày 17/9/2024 cho đến khi thi hành xong số tiền trên, bị đơn bà Lưu Lệ C còn phải tiếp tục trả lãi phát sinh theo lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số 494376.HDTD802.18 ngày 20/9/2018 và Hợp đồng phát hành thẻ tín dụng quốc tế số 802_18092018_494376 ngày 13/9/2018 đã được ký kết giữa các bên.

  2. Về án phí dân sơ thẩm: bà Lưu Lệ C phải chịu theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật, tư cách đương sự:

Ngân hàng TMCP Q (V1) yêu cầu bà Lưu Lệ C trả số tiền nợ chưa thanh toán theo Hợp đồng tín dụng số 494376.HDTD802.18 ngày 20/9/2018 và Hợp đồng phát hành thẻ tín dụng quốc tế số 802_18092018_494376 ngày 13/9/2018 các bên đã ký kết. Căn cứ vào Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự xác định quan hệ pháp luật tranh chấp của vụ án là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”; Ngân hàng TMCP Q (V1) là nguyên đơn, bà Lưu Lệ C là bị đơn.

[2] Về thẩm quyền giải quyết vụ án:

Ngân hàng TMCP Q (V1) nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng với bà Lưu Lệ C có nơi cư trú tại thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Căn cứ khoản 1

Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

[3] Về thủ tục tố tụng:

Đại diện nguyên đơn bà Kha Cẩm P có mặt.

Đối với bị đơn bà Lưu Lệ C trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ bằng hình thức niêm yết các văn bản tố tụng của Tòa án cho bị đơn biết nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do cũng không có ý kiến phản đối gì về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Qua xác minh địa phương cho biết: bà Lưu Lệ C, sinh năm 1988 có HKTT tại địa chỉ G, đường C, khu phố B, phường Q, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Tuy nhiên, công dân thực tế không sinh sống tại địa phương, đi đâu làm gì địa phương chưa nắm được.

Xét thấy, Hợp đồng tín dụng số 494376.HDTD802.18 ngày 20/9/2018 và Hợp đồng phát hành thẻ tín dụng quốc tế số 802_18092018_494376 ngày 13/9/2018 có ghi cụ thể địa chỉ và CMND của bị đơn vào hợp đồng này, khi thay đổi địa chỉ bị đơn không thông báo cho nguyên đơn biết, theo Nghị Quyết số 04 ngày 05/05/2017 của HĐTP-TANDTC xem như bị đơn cố tình giấu địa chỉ. Vì vậy khi giải quyết vụ án Toà án căn cứ vào địa chỉ trong hợp đồng mà bà C đã ký kết với Ngân hàng làm căn cứ địa chỉ của bị đơn để giải quyết vụ án là phù hợp với quy định của pháp luật. Bị đơn bà Lưu Lệ C đã được tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa không rõ lý do.

Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà C theo quy định tại Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[4] Về việc giải quyết vụ án:

Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu bà Lưu Lệ C trả cho Ngân hàng V1 số tiền nợ tín dụng tạm tính đến ngày 16/9/2024 là: 965.373.230 đồng (Chín trăm sáu mươi lăm triệu ba trăm bảy mươi ba nghìn hai trăm ba mươi đồng), trong đó nợ gốc: 430.057.644 đồng, nợ lãi trong hạn: 136.801.646 đồng (Một trăm ba mươi sáu triệu tám trăm lẻ một nghìn sáu trăm bốn mươi sáu đồng); nợ lãi quá hạn: 347.960.769 đồng (Ba trăm bốn mươi bảy triệu chín trăm sáu mươi nghìn bảy trăm sáu mươi chín đồng); phí/lãi phạt 50.553.171 đồng (Năm mươi triệu năm trăm năm mươi ba nghìn một trăm bảy mươi mốt đồng). Ngoài ra, nguyên đơn yêu cầu bà Lưu Lệ C phải thanh toán cho Ngân hàng VIB tiền lãi, lãi quá hạn, phí phát sinh theo quy định tại hợp đồng cho vay, hợp đồng phát hành thẻ tín dụng quốc tế kể từ ngày 17/9/2024 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ nợ vay. Hội đồng xét xử xét thấy:

- Theo tài liệu chứng cứ nguyên đơn cung cấp thể hiện: Ngày 20/9/2018, Ngân hàng TMCP Q (V1) và bà Lưu Lệ C ký kết Hợp đồng tín dụng số 494376.HDTD802.18 (Bút lục 67,68). Hợp đồng phát hành thẻ tín dụng quốc tế số 802_18092018_494376 ngày 13/9/2018 (Bút lục 59-64)

Về số tiền vay, mục đích vay và lãi suất của hợp đồng tín dụng và hạn mức thẻ lãi suất, phí của hợp đồng cấp thẻ tín dụng quốc tế VIB MC World Elite đúng như đại diện nguyên đơn trình bày.

Theo đơn khởi kiện và tại phiên tòa đại diện nguyên đơn trình bày: quá trình thực hiện hợp đồng, bà C thanh toán được cho Ngân hàng V1 số tiền 56.197.990 đồng (trong đó nợ gốc 29.911.614 đồng và nợ lãi 26.286.376 đồng).

Tại biên bản xác minh ngày 23/4/2024 của Công an phường Q, thành phố B xác nhận: Bà Lưu Lệ C có đăng ký hộ khẩu thường trú tại địa chỉ G, khu phố B, phường Q, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Tuy nhiên, hiện nay bà C thực tế không sinh sống tại địa phương, hiện bà C đi đâu, làm gì địa phương chưa nắm rõ (bút lục 94, 95).

Bà C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vẫn không đến Tòa án làm việc và không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Q (V1). Vì vậy xem như bà C đã từ chối cung cấp tài liệu, chứng cứ để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình và mặc nhiên thừa nhận nợ. Từ đó có đủ cơ sở xác định việc bà C vay của Ngân hàng TMCP Q (V1) số tiền 400.000.000 đồng (Bốn trăm triệu đồng), đã trả được 56.197.990 đồng (trong đó nợ gốc 29.911.614 đồng và nợ lãi 26.286.376 đồng). Bà C còn nợ 965.373.230 đồng (Chín trăm sáu mươi lăm triệu ba trăm bảy mươi ba nghìn hai trăm ba mươi đồng), tính đến ngày 16/9/2024, trong đó trong đó nợ gốc: 430.057.644 đồng, nợ lãi trong hạn: 136.801.646 đồng (Một trăm ba mươi sáu triệu tám trăm lẻ một nghìn sáu trăm bốn mươi sáu đồng); nợ lãi quá hạn: 347.960.769 đồng (Ba trăm bốn mươi bảy triệu chín trăm sáu mươi nghìn bảy trăm sáu mươi chín đồng); phí/lãi phạt 50.553.171 đồng (Năm mươi triệu năm trăm năm mươi ba nghìn một trăm bảy mươi mốt đồng) là có thật.

Từ đó, có căn cứ chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc bà Lưu Lệ C phải trả cho Ngân hàng TMCP Q số tiền tính đến ngày 16/9/2024 là 965.373.230 đồng (Chín trăm sáu mươi lăm triệu ba trăm bảy mươi ba nghìn hai trăm ba mươi đồng) trong đó trong đó nợ gốc: 430.057.644 đồng, nợ lãi trong hạn: 136.801.646 đồng (Một trăm ba mươi sáu triệu tám trăm lẻ một nghìn sáu trăm bốn mươi sáu đồng); nợ lãi quá hạn: 347.960.769 đồng (Ba trăm bốn mươi bảy triệu chín trăm sáu mươi nghìn bảy trăm sáu mươi chín đồng); phí/lãi phạt 50.553.171 đồng (Năm mươi triệu năm trăm năm mươi ba nghìn một trăm bảy mươi mốt đồng).

Kể từ ngày 17/9/2024 cho đến khi thi hành xong số tiền trên, bà Lưu Lệ C còn phải tiếp tục trả lãi phát sinh theo lãi suất trong Hợp đồng tín dụng số 494376.HDTD802.18 ngày 20/9/2018 và Hợp đồng phát hành thẻ tín dụng quốc tế số 802_18092018_494376 ngày 13/9/2018 các bên đã ký kết.

[5] Nhận định của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

[6] Về án phí: bà Lưu Lệ C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định. Hoàn trả cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ Điều 26, Điều 35, Điều 39, khoản 1 Điều 157, Điều 158, khoản 2 Điều 180, Điều 220, các Điều 227, 228, 266 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;

- Căn cứ Điều 463, Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015;

- Căn cứ Luật các tổ chức tín dụng;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Q (V1).

    - Buộc bà Lưu Lệ C trả cho Ngân hàng TMCP Q (V1) số tiền tính đến ngày 16/9/2024 là 965.373.230 đồng (Chín trăm sáu mươi lăm triệu ba trăm bảy mươi ba nghìn hai trăm ba mươi đồng). Trong đó:

    + Nợ gốc: 430.057.644 đồng (Bốn trăm ba mươi triệu không trăm năm mươi bảy nghìn sáu trăm bốn mươi bốn đồng);

    + Nợ lãi trong hạn: 136.801.646 đồng (Một trăm ba mươi sáu triệu tám trăm lẻ một nghìn sáu trăm bốn mươi sáu đồng);

    + Nợ lãi quá hạn: 347.960.769 đồng (Ba trăm bốn mươi bảy triệu chín trăm sáu mươi nghìn bảy trăm sáu mươi chín đồng);

    + Phí/lãi phạt 50.553.171 đồng (Năm mươi triệu năm trăm năm mươi ba nghìn một trăm bảy mươi mốt đồng).

    - Kể từ ngày 17/9/2024, bà Lưu Lệ C phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP Q (V1) tiền lãi phát sinh trên số nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất các bên đã thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số 494376.HDTD802.18 ngày 20/9/2018 và Hợp đồng phát hành thẻ tín dụng quốc tế số 802_18092018_494376 ngày 13/9/2018 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.

    - Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án), hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn lại phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

  2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Bị đơn bà Lưu Lệ C phải chịu 40.961.197 đồng (Bốn mươi triệu chín trăm sáu mươi mốt nghìn một trăm chín mươi bảy đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP Q (V1) số tiền 19.332.508 đồng (Mười chín triệu ba trăm ba mươi hai nghìn năm trăm lẻ tám đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0002796 ngày 13/3/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

  1. Quyền kháng cáo:

    Nguyên đơn Ngân hàng TMCP Q được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn bà Lưu Lệ C được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Hội thẩm nhân dân

Nguyễn Thị Phú

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai;
  • - VKS nhân dân TP Biên Hòa;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự TP Biên Hòa;
  • - Lưu hồ sơ; văn phòng.
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 162/2024/DSST ngày 16/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 162/2024/DSST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng Quốc tế VIB tranh chấp hợp đồng tín dụng với Lưu Lệ Châu
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger