TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 162/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 20-06-2024
V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Như Hiển
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hoàng Tâm
Bà Nguyễn Thị Bích
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Khôi - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Ông Lương Thất Tùng - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 117/2024/TLST- HNGĐ ngày 16 tháng 5 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 125/2024/QĐ-ST ngày 04/6/2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh ngày 26/8/1984 (vắng mặt)
Nơi thường trú: Thôn P, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Hiện đang sinh sống và làm việc tại Đài Loan.
Chị T ủy quyền cho chị Luân Thị N, sinh năm 1994; Địa chỉ: số A đường V, xã V, huyện H, thành phố Hà Nội giao nhận tài liệu với Tòa án. Văn bản ủy quyền ngày 10/4/2024.
2. Bị đơn: Anh Vũ Văn Q, sinh ngày 20/8/1980 (vắng mặt)
Nơi thường trú: Thôn P, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện xin ly hôn và bản tự khai, nguyên đơn chị Nguyễn Thị T trình bày (Có xác nhận của Văn phòng Kinh Tế - Văn Hóa Việt Nam tại Đài Bắc):
Về hôn nhân: Trước khi kết hôn chị, anh Q được tự do tìm hiểu đi đến hôn nhân, được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục của địa phương, có đăng ký kết hôn ngày 08/9/2004 tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Sau khi kết hôn chị về nhà anh Q làm dâu và chung sống hòa thuận với gia đình nhà chồng. Chung sống hạnh phúc được khoảng 05 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng trong quan điểm sống và chăm sóc con. Tháng 11/2010 chị đi lao động tại Đài Loan. Năm 2017 chị có về nước thăm gia đình và hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không được. Cuối năm 2017 chị tiếp tục quay trở lại Đài Loan làm việc, vợ chồng ly thân từ đó. Trong thời gian mâu thuẫn vợ chồng nhiều lần nói chuyện với mong muốn tiếp tục chung sống để chăm sóc con nhưng do bất đồng quan điểm quá lớn nên không có kết quả. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án xử cho chị được ly hôn anh Vũ Văn Q.
Về con chung: Chị và anh Q có 02 con chung là cháu Vũ Quang T, sinh ngày 29/9/2005 và cháu Vũ Thị Diễm L, sinh ngày 26/01/2009. Hiện tại hai cháu đang sinh sống cùng anh Q. Tuy nhiên, cháu T đã trên 18 tuổi, không bị hạn chế năng lực hành vi dân sự nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Sau khi ly hôn chị đề nghị giao cháu L cho anh Q trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị T tự nguyện cấp dưỡng nuôi cháu L cho anh Q với mức cấp dưỡng 2.000.000 đồng (hai triệu đồng)/01 tháng.
Về tài sản, công nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Vũ Văn Q trình bày:
Về hôn nhân: Trước khi kết hôn anh và chị T được tự do tìm hiểu đi đến hôn nhân, được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục của địa phương, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Sau khi kết hôn chị T về nhà anh làm dâu và chung sống hòa thuận với gia đình nhà chồng. Năm 2010 chị T đi lao động tại Đài Loan. Trong thời gian đi lao động chị T có về thăm gia đình 01 lần. Năm 2017 chị T tiếp tục về thăm gia đình, sau đó tôi không đồng ý cho đi nước ngoài lao động nữa nhưng chị T vẫn cố tình đi, không bàn bạc và thông báo cho tôi biết. Kể từ đó chị T không liên lạc về với anh, anh có tìm cách liên lạc với chị T nhưng không được. Từ năm 2023 đến nay gia đình chị T có công việc tôi cũng không sang hỏi thăm hoặc giúp đỡ. Anh xác định tình cảm vợ chồng không còn nhưng không đồng ý ly hôn vì muốn các con có cả bố lẫn mẹ.
Về con chung: Anh và chị T có 02 con chung là cháu Vũ Quang T, sinh ngày 29/9/2005 và cháu Vũ Thị Diễm L, sinh ngày 26/01/2009. Hiện tại hai cháu đang sinh sống cùng anh. Tuy nhiên, cháu T đã trên 18 tuổi, không bị hạn chế năng lực hành vi dân sự nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nếu ly hôn anh đề nghị giao cháu L cho anh trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh không yêu cầu chị T phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản, công nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Cháu Vũ Thị Diễm L trình bày: Cháu hiện nay đang sinh sống cùng bố tại thôn P, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Cháu được bố chăm sóc đầy đủ cả về vật chất và tinh thần, được cho đi học đầy đủ. Hiện nay mẹ cháu đang đi lao động tại nước ngoài nên nếu bố mẹ ly hôn cháu muốn được ở cùng bố.
Tại phiên tòa, chị Nguyễn Thị T và anh Vũ Văn Q vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Hội đồng xét xử tóm tắt nội dung vụ án, công bố đơn khởi kiện, bản tự khai của chị Nguyễn Thị T; bản tự khai của anh Vũ Văn Q, biên bản lấy lời khai của cháu Vũ Thị Diễm L và thông qua các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang phát biểu về việc tuân theo pháp luật về tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký Tòa án đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án.
Về việc chấp hành pháp luật của đương sự: Các đương sự đều có đơn xin xét xử vắng mặt nên thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình được quy định trong Bộ luật tố tụng dân sự. Căn cứ các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử, xét xử vắng mặt các đương sự là đúng theo quy định của pháp luật.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, 53, 56, 81, 82, 83, khoản 2 Điều 123 và Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, Điều 228, Điều 238, Điều 271; Điều 273, khoản 2 Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTBVQH14 ngày 30/12/2016 Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị T.
Xử cho chị Nguyễn Thị T được ly hôn anh Vũ Văn Q.
Về con chung: Do chị T hiện đang đi lao động ở nước ngoài, cháu L có nguyện vọng được ở với bố nên đề nghị Hội đồng xét xử giao cháu Vũ Thị Diễm L cho anh Q trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con: Do anh Q không yêu cầu cấp dưỡng, cháu L hiện vẫn sinh sống ổn định cùng anh Q, cháu phát triển bình thường cả về thể chất lẫn tinh thần nên chị T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản, công nợ chung: Chị T, anh Q không đề nghị nên không đặt ra xem xét giải quyết.
Chị Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được công bố tại phiên toà, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Chị T khởi kiện xin ly hôn anh Q và đề nghị giải quyết nuôi con chung. Vì vậy, đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2]. Về thẩm quyền giải quyết: Chị T là nguyên đơn hiện đang lao động tại Đài Loan, anh Q là bị đơn có hộ khẩu thường trú tại tỉnh Bắc Giang. Do đó, đây là vụ án có một bên đương sự ở nước ngoài nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang theo quy định tại khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[3]. Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn, bị đơn đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị Nguyễn Thị T và anh Vũ Văn Q.
[4]. Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T và anh Vũ Văn Q kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 08/9/2004 tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Do đó, đây là hôn nhân hợp pháp cần được pháp luật bảo vệ. Quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn, chị T xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án xử cho chị được ly hôn anh Vũ Văn Q. Anh Q xác định tình cảm vợ chồng không còn nhưng không đồng ý ly hôn vì muốn con có cả bố lẫn mẹ.
Xét yêu cầu xin ly hôn của chị T với anh Q, Hội đồng xét xử thấy: Sau khi kết hôn chị T, anh Q chung sống hòa thuận. Chị T xác định vợ chồng có mâu thuẫn từ năm 2009 nhưng đến năm 2017 mới sống ly thân nhau. Anh Q xác định vợ chồng không còn liên lạc từ năm 2017 đến nay và từ năm 2023 đến nay gia đình chị T có công việc anh không vào thăm hỏi hay giúp đỡ. Anh Q xác định vợ chồng không còn tình cảm nhưng không đồng ý ly hôn vì muốn các con có cả bố lẫn mẹ. Từ những phân tích trên, Hội đồng xác định vợ chồng chị T, anh Q không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau một thời gian dài làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử thấy có căn cứ chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T và xử cho chị T được ly hôn anh Q phù hợp với tình trạng hôn nhân thực tế, phù hợp với Điều 51, Điều 53 và Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình cũng như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa.
[5]. Về nuôi con chung: Chị T, anh Q có 02 con chung là cháu Vũ Quang T, sinh ngày 29/9/2005 và cháu Vũ Thị Diễm L, sinh ngày 26/01/2009. Cháu T trên 18 tuổi, không bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, không mắc bệnh hiểm nghèo. Cháu L hiện đang sinh sống cùng anh Q. Sau khi ly hôn chị T đề nghị giao cháu L cho anh Q là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
Xét yêu cầu giao anh Q chăm sóc nuôi dưỡng con chung sau ly hôn của chị T, Hội đồng xét xử thấy: Cháu L hiện đang sinh sống ổn định cùng anh Q tại địa phương, cháu phát triển ổn định cả về thể chất lẫn tinh thần và có nguyện vọng được ở với bố. Chị T hiện đang lao động nước ngoài chưa có kế hoạch về nước sinh sống. Do đó, Hội đồng xét xử thấy cần giao cháu L cho anh Q chăm sóc nuôi dưỡng sẽ đảm bảo sự phát triển của trẻ nhỏ, phù hợp với thực tế, phù hợp với các quy định của pháp luật cũng như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu giao cháu L cho anh Q chăm sóc nuôi dưỡng sau ly hôn của chị T.
Sau khi ly hôn, chị Nguyễn Thị T không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Trường hợp chị Nguyễn Thị T về nước sinh sống, có nguyện vọng nuôi con chung hoặc vì quyền lợi chính đáng của con chung, các đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn bằng vụ án khác theo quy định tại Điều 84 Luật hôn nhân gia đình.
[6] Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị T đề nghị cấp dưỡng nuôi cháu L cho anh Q với mức cấp dưỡng 2.000.000 đồng/ 01 tháng. Anh Q không yêu cầu chị T phải cấp dưỡng nuôi con chung. Tuy nhiên, anh Q trình bày thu nhập của anh Q hàng tháng là 3.000.000 đồng/ 01 tháng. Xét thấy với mức thu nhập hàng tháng của anh Q như vậy thì không đảm bảo chi phí sinh hoạt của anh Q và cháu L tại địa phương. Do đó, Hội đồng xét xử thấy cần chấp nhận yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung của chị T như chị T đề nghị là có căn cứ và phù hợp với chi phí sinh hoạt tại địa phương, phù hợp Điều 107, 110, 116, 117 Luật hôn nhân gia đình.
[7]. Về tài sản, công nợ chung: Do chị T, anh Q không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[8]. Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang.
[9]. Về án phí cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định tại điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.
[10]. Về quyền kháng cáo:
Anh Vũ Văn Q vắng mặt tại phiên tòa nhưng đang ở trong nước nên có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ nhận được Bản án hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết theo quy định tại Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Chị Nguyễn Thị T vắng mặt tại phiên tòa nhưng đang ở nước ngoài nên có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn là 01 tháng kể từ ngày Bản án được tống đạt hợp lệ hoặc Bản án được niêm yết theo quy định tại Điều 271 và khoản 2 Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 107, Điều 110, Điều 116, Điều 117, khoản 2 Điều 123, Điều 127 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 2 Điều 21; khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án; xử:
1. Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T được ly hôn anh Vũ Văn Q.
2. Về nuôi con chung: Giao cháu Vũ Thị Diễm L, sinh ngày 26/01/2009 cho anh Vũ Văn Q là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
Sau khi ly hôn, chị Nguyễn Thị T không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Buộc chị Nguyễn Thị T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Vũ Thị Diễm L cho anh Vũ Văn Q với mức cấp dưỡng 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng)/ 01 tháng. Phương thức cấp dưỡng theo tháng, thời gian cấp dưỡng kể từ tháng 6/2024 cho đến khi cháu L đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
4. Về lãi suất chậm thi hành án: Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
5. Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0001200 ngày 16/5/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang. Xác nhận chị Nguyễn Thị T đã nộp đủ án phí sơ thẩm.
Chị Nguyễn Thị T phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí cấp dưỡng nuôi con chung.
6. Về quyền kháng cáo bản án:
Chị Nguyễn Thị T có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Anh Vũ Văn Q có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30- Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận: -VKSND tỉnh Bắc Giang; -Cục THADS tỉnh Bắc Giang; -UBND xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang; -Cổng thông tin điện tử; -Các đương sự; -Lưu hồ sơ vụ án; -Lưu Tổ HCTР. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Như Hiển |
Bản án số 162/2024/HNGĐ-ST ngày 20/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 162/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ban an HNGD giua chi Nguyen Thi Thuy va anh Vu Van Q
