Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

[PHAN RANG - THÁP CHÀM]

TỈNH NINH THUẬN

Số: 162/2024/HS-ST

[8-2024]

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

TỈNH NINH THUẬN

Bản án số: /2020/HS-ST

Ngày: 25/11/2020


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. PHAN RANG – THÁP CHÀM,

TỈNH NINH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nguyên Vy

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Phương Nhân

Ông Lê Huỳnh Sinh

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Mạnh Long – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang – Tháp Chàm tham gia phiên tòa: Ông Võ Phúc Huy – Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang – T, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 116/2024/HSST ngày 21 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 121/2024/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:

Lê Văn T (Tũn), sinh ngày 05/6/2005 tại Ninh Thuận; Nơi cư trú: Khu phố E, phường M, TP P - T, tỉnh Ninh Thuận; Nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: Không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn T1, sinh năm 1969 và bà Lê Thị T2, sinh năm 1969;

Tiền án: Không;

Tiền sự:

  • - Ngày 24/01/2022, Lê Văn T bị UBND phường M, TP . - T xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.250.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản; chưa nộp phạt.
  • - Ngày 08/3/2022, Lê Văn T bị UBND phường M, TP . - T xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.250.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản; chưa nộp phạt.

Nhân thân: Ngày 19/4/2023, Lê Văn T bị Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang – T xử phạt 06 (S) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; chấp hành xong hình phạt tù ngày 21/8/2023.

Trong thời gian bị cáo thực hiện Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú, bị cáo bỏ trốn, bị cáo bị bắt theo Quyết định truy nã từ ngày 30/7/2024, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an T5 – T; Bị cáo có mặt tại phiên tòa

Bị hại:

  • - Công ty TNHH T6 NT
  • Người đại diện hợp pháp: Ông Trần Quang K, sinh năm 1989. Địa chỉ: Khu phố B, phường V, TP . - T, tỉnh Ninh Thuận (Vắng mặt, có đề nghị xét xử vắng mặt).
  • - Bà Đỗ Thị Kim N, sinh năm 1986. Địa chỉ: Khu phố E, phường M, TP P - T, tỉnh Ninh Thuận(Vắng mặt, có đề nghị xét xử vắng mặt).

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  • - Em Nguyễn Thị Thanh T3, sinh năm 2009. Địa chỉ: Khu phố C, phường Đ, TP P - T, tỉnh Ninh Thuận (Vắng mặt).
  • Người đại diện hợp pháp của T3: Bà Lê Thị N1, sinh năm 1977. Địa chỉ: Khu phố C, phường Đ, TP P - T, tỉnh Ninh Thuận (Vắng mặt)
  • - Bà Trần Thị X, sinh năm: 1970. Địa chỉ: Khu phố A, phường M, thành phố P - T, Ninh Thuận (Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do cần tiền tiêu xài cá nhân nên trong khoảng thời gian từ ngày 17/10/2023 đến ngày 06/01/2024, Lê Văn T đã thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn TP . - T, cụ thể:

Vụ thứ nhất: Khoảng 02 giờ ngày 17/10/2023, Lê Văn T nảy sinh ý định trộm cắp tài sản, để lấy tiền tiêu xài cá nhân nên đi bộ một mình đến kho điện lạnh của Công ty TNHH T6 của ông Trần Quang K tại số I đường Y, thuộc khu phố D, phường M, thành phố P - T. Tại đây, T dùng 01 cây rìu sắt, cán bằng gỗ dài 38cm và 01 cây kéo bằng kim loại dài 23 cm (do T chuẩn bị sẵn), phá ổ khoá cửa kho điện lạnh, vào trong kho lấy trộm tài sản gồm:

  • - 01 bạt trùm vệ sinh máy lạnh, đã qua sử dụng.
  • - 03 ống gas, mỗi đoạn dài 02 mét. Mỗi ống gồm: 01 ống đồng phi 6 và 01 ống đồng phi 12, 03 dây điện loại CV2.5, 02 ống cách nhiệt loại dày 13mm, 01 lớp simili cách nhiệt; độ dài ống đồng, dây điện, ống cách nhiệt và lớp simili quấn theo độ dài là 02 mét.
  • - 03 ống gas, mỗi đoạn dài 01 mét. Mỗi ống gồm: 01 ống đồng phi 6 và 01 ống đồng phi 10, 03 dây điện loại CV2.5, 02 ống cách nhiệt loại dày 13mm, 01 lớp simili cách nhiệt; độ dài ống đồng, dây điện, ống cách nhiệt và lớp simili quấn theo độ dài là 01 mét.
  • - 02 ống gas, mỗi đoạn dài 03 mét. Mỗi ống gồm: 01 ống đồng phi 6 và 01 ống đồng phi 12, 03 dây điện loại CV2.5, 02 ống cách nhiệt loại dày 13mm, 01 lớp simili cách nhiệt; ống đồng, dây điện, ống cách nhiệt và lớp simili quấn theo độ dài là 03 mét. Ống đồng máy lạnh là loại ống đồng dày 08mm và nhiều dây điện các loại. Sau khi lấy được tài sản, T đem ra bãi biển để cất giấu, sau đó gỡ lấy ống đồng và lõi đồng dây điện. Đến khoảng 07 giờ cùng ngày, T đem số ống đồng, dây đồng (lõi dây điện) trộm cắp được đi bán; theo lời khai của T, T bán tại vựa phế liệu của bà Trần Thị X tại khu phố A, phường M, TP . - T bán được 2.200.000 đồng. Số tiền này T đã tiêu xài cá nhân hết.

Ngày 19/10/2023, T tiếp tục quay lại kho để trộm cắp tài sản nhưng nhìn thấy C an ninh nên bỏ đi về nhà.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 19/KL-HĐĐGTS ngày 20 tháng 02 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố P - T kết luận: “... Tổng giá trị tài sản cần định giá là: 3.745.525 đồng”

Vụ thứ hai: Khoảng 01 giờ ngày 06/01/2024, Lê Văn T nảy sinh ý định trộm cắp tài sản, để lấy tiền tiêu xài cá nhân nên đi bộ một mình đến gần trụ sở khu phố E, phường M, TP . - T thì phát hiện nhà bà Đỗ Thị Kim N thuộc khu phố E, phường M, TP . - T chỉ khoá cổng nhưng không đóng cửa chính. Thấy sơ hở, T đã leo tường rào, đi vào trong nhà. Tại đây, T thấy bà N và chồng đang nằm ngủ, bên cạnh có 01 điện thoại di động cảm ứng, hiệu Samsung A12, màu xanh dương. T đi tới, lấy điện thoại trên, theo đường cũ rồi đi về lại nhà ngủ. Đến ngày 07/01/2024, T đem điện thoại vừa trộm được bán cho em Nguyễn Thị Thanh T3 được 300.000 đồng. Số tiền này T đã tiêu xài hết. Hành vi trộm cắp tài sản của T đã được Camera an ninh ghi lại. Tại Cơ quan điều tra Lê Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 12/KL-HĐĐGTS ngày 31 tháng 01 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố P - T kết luận: 01 điện thoại Samsung Galaxy A12, màu xanh dương, vào ngày 06/01/2024 có giá trị là 1.000.000 đồng.

Tổng trị giá tài sản mà Lê Văn T chiếm đoạt là 4.745.525 đồng.

Cáo trạng số 122/CT-VKSPR ngày 18/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang – T, tỉnh Ninh Thuận truy tố bị cáo Lê Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Lê Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như trên.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Lê Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Khoản 1 Điều 173; Điểm h, s Khoản 1 Điều 51; Điểm g Khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lê Văn T từ 09 tháng đến 12 tháng tù.

Bị cáo đồng ý với quan điểm luận tội của Viện kiểm sát tại phiên tòa, bị cáo không tranh luận. Lời nói sau cùng trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án: Bị cáo nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo rất ăn năn hối cải, xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an thành phố T5 – T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang – T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi của bị cáo: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra và các chứng cứ tài liệu khác đã thu thập được trong quá trình điều tra có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với nội dung bản cáo trạng đã truy tố, nên đủ cơ sở kết luận: Do cần tiền tiêu xài cá nhân nên trong khoảng thời gian từ ngày 17/10/2023 đến ngày 06/01/2024, Lê Văn T đã 02 lần thực hiện hành vi lén lút trộm cắp tài sản của Công ty TNHH T6 tại Khu phố B, phường V, TP T, trị giá 3.745.525 đồng và của bà Đỗ Thị Kim N tại khu phố E, phường M, TP . - T, trị giá 1.000.000 đồng; tổng trị giá tài sản mà bị cáo T chiếm đoạt là 4.745.525 đồng.

Vì vậy, Cáo trạng số: 122/CT-VKSPR ngày 18/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang – T, tỉnh Ninh Thuận truy tố bị cáo Lê Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Do đó, phải xử lý thật nghiêm trước pháp luật, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.

[4] Xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo, thấy rằng: Bị cáo có nhân thân xấu, đã bị Tòa án xử phạt về tội trộm cắp tài sản và nhiều lần bị UBND xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản. Bị cáo phạm tội 02 lần trở lên là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điểm g Khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự. Bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ “Phạm tội gây thiệt hại không lớn”; “Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” về hành vi của mình; các tình tiết này được quy định tại Điểm h, s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

[5] Về trách nhiệm dân sự:

Bị hại bà Đỗ Thị Kim N đã nhận lại tài sản, không yêu cầu gì thêm; Bị hại ông Trần Quang K, không yêu cầu bồi thường đối với số tài sản bị mất trộm. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan em Nguyễn Thị Thanh T3 và đại diện hợp pháp bà Lê Thị N1 đã nhận lại số tiền 300.000 đồng từ bị cáo T, không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về biện pháp tư pháp:

Đối với 01 đĩa CD có chứa hình ảnh bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp tài sản và 01 đĩa CD có ghi âm, ghi hình khi hỏi cung bị cáo. Đây là vật chứng nên lưu kèm hồ sơ vụ án.

Đối với số tài sản mà T trộm cắp vào ngày 17/10/2023 của Công ty TNHH T6, Cơ quan điều tra không thu hồi được.

Cơ quan Điều tra tạm giữ và đã trả lại 01 điện thoại Samsung Galaxy A12, màu xanh dương cho chủ sở hữu – bị hại bà Đỗ Thị Kim N là có cơ sở:

Đối với 01 cây rìu sắt, cán bằng gỗ dài 38cm và 01 cây kéo bằng kim loại dài 23 cm, là công cụ mà bị cáo dùng để phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên Hội đồng xét xử tuyên tịch thu, tiêu hủy là phù hợp.

Đối với bà Trần Thị X: Theo bị cáo trình bày, bà Trần Thị X là người mua tài sản do bị cáo trộm cắp mà có. Tuy nhiên, bà X không thừa nhận có mua tài sản của T; quá trình điều tra, Cơ quan Điều tra không chứng minh được bà X mua tài sản do T trộm cắp mà có. Do đó, Cơ quan điều tra không xử lý đối với bà X là có căn cứ.

Đối với em Nguyễn Thị Thanh T3, khi mua điện thoại của T bán, emThúy không biết là tài sản do trộm cắp mà có nên Cơ quan Điều tra không đề nghị xử lý là có cơ sở.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 173; Điểm h, s Khoản 1 Điều 51; Điểm g Khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.

  1. Tuyên bố bị cáo Lê Văn T (T4) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Lê Văn T (Tũn) 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 30/7/2024.

  1. Biện pháp tư pháp:

Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tuyên tịch thu, tiêu huỷ: 01 cây rìu sắt, cán bằng gỗ dài 38cm và 01 cây kéo bằng kim loại dài 23 cm

Vật chứng, đồ vật nêu trên, hiện Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Rang – T đang quản lý theo Biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 22/5/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T5 – T và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Rang – T.

Lưu kèm hồ sơ vụ án: 01 đĩa CD có chứa hình ảnh bị cáo Lê Văn T thực hiện hành vi trộm cắp tài sản và 01 đĩa CD có ghi âm, ghi hình khi hỏi cung bị cáo Lê Văn T.

  1. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Lê Văn T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  1. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai, sơ thẩm có mặt Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị X, quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt, quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Ninh Thuận;
  • - VKSND tỉnh Ninh Thuận;
  • - Sở tư pháp tỉnh Ninh Thuận;
  • - VKSND Tp. PRTC;
  • - Công an TP.PRTC;
  • - Chi cục THADS TP.PRTC;
  • - Bị cáo;
  • - NCQLNVLQ;
  • - Bị hại;
  • - Lưu (hồ sơ, án văn)./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Nguyễn Thị Nguyên Vy

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 162/2024/HS-ST ngày 19/08/2024 của Tòa án nhân dân TP. Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 162/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân TP. Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tiến
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger