Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẮC GIANG

TỈNH BẮC GIANG

Bản án số: 162/2024/HS-ST

Ngày 15 - 8 - 2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG

Thành phần xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hằng

Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Môn

Bà Nguyễn Thị Vượng

Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Thế Thiện - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang tham gia phiên toà: Ông Vi Xuân Vượng - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 136/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 07 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 145/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 08 năm 2024, đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Cà Văn C, (tên gọi khác: không) sinh năm 1998

Nơi ĐKHKTT: Bản Sái Lương, xã Hẹ Muông, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.

Nơi ở: Thôn Mỹ Cầu, xã Tân Mỹ, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.

Giới tính: nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 10/12; Con ông: Cà Văn T, sinh năm 1964 (đã chết); Con bà: Cà Thị H, sinh năm 1963; Bị cáo là con duy nhất. Vợ, con: Chưa có; Tiền án: không; Tiền sự: không

Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/01/2024. Hiện tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B, có mặt tại phiên toà.

2. Họ và tên: Trình Viết B (Tên gọi khác: không), sinh năm 1978

Nơi ĐKHKTT: Thôn Đồng Lân, xã Đồng Kỳ, huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang.

Nơi ở: Tổ dân phố Yên Ninh, phường Nếnh, thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang.

Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Nùng; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 02/12; Con ông: Trình Viết L, sinh năm 1941 (đã chết); Con bà: Dương Thị M, sinh năm 1935; Bị cáo có 6 anh chị em, bị cáo là thứ 6; Vợ: Nguyễn Thị L1, sinh năm 1987 (đã ly hôn). Con: Chưa có. Tiền án: không; tiền sự: hông

Nhân thân: Ngày 19/01/2007 bị Công an huyện Y, tỉnh Bắc Giang xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc.

Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/01/2024. Hiện tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B, có mặt tại phiên toà.

3. Họ và tên: Lò Văn B1 (tên gọi khác: Không), sinh năm 2004,

Nơi ĐKHKTT: Bản Huổi Xa 1, xã Keo Lôm, huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên

Nơi ở: Tổ dân phố Yên Ninh, phường Nếnh, thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang.

Giới tính: nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Con ông: Lò Văn C1, sinh năm 1985; Con bà: Cà Thị O, sinh năm 1984; Bị cáo có 2 anh em, bị cáo là thứ nhất. Vợ, con: Chưa có; Tiền án: không; Tiền sự: không

Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/01/2024. Hiện tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B, có mặt tại phiên toà.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • - Lương Đức T1, sinh năm 1981 (vắng mặt)
  • Địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang;
  • - Phương Văn H1, sinh năm 1994 (vắng mặt)
  • Địa chỉ: Thôn Q, xã Q, thị xã V, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng đầu tháng 12/2024, Trình Viết B, sinh năm 1978, trú tại thôn Đ, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang đến phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang để tìm việc làm trong các khu công nghiệp. Tại đây, B gặp Lương Đức T1, sinh năm 1981, trú tại thôn T, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. B khai được T1 thuê bán ma túy tại khu vực lán xây dựng dùng cho công nhân thi công xây dựng chung cư EverGreen thuộc Tổ dân phố Y, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang (Lán xây dựng này bỏ trống, không có công nhân ở) và trả công cho Bẩy 500.000 đồng/01 ngày. B đồng ý giúp T1 bán ma tuý và ở một mình tại lán nêu trên. Buổi tối hàng ngày, T1 chuẩn bị sẵn các gói nhỏ ma túy Heroine có kích thước khác nhau, cất giấu trong 03 nắp nhựa màu xanh để tại nền đất phía sau lán xây dựng và hướng dẫn B bán với các mức giá tương ứng là 100.000 đồng, 200.000 đồng và 600.000 đồng. Đối với ma tuý ngựa thì để riêng ra hộp nhựa nhỏ và bán với giá 100.000 đồng/01 gói. Hàng ngày, B bán lẻ ma tuý cho khách đến mua tại khu vực trước cửa lán, số tiền có được do bán ma túy thì B để tại 03 nắp nhựa này để T1 đến lấy.

Ngày 14/01/2024, Lò Văn B1, sinh năm 2004, trú tại bản Huổi Xa 1, xã K, huyện Đ, tỉnh Điện Biên đến phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang để tìm việc làm. B1 khai khoảng 12 giờ cùng ngày, B1 gặp một người đàn ông không quen biết tại khu vực đường gom cao tốc Hà Nội- Bắc Giang, đoạn đường rẽ vào khu lán xây dựng cho công nhân cạnh chung cư EverGreen. B1 hỏi tìm việc làm thì được người đàn ông này thuê làm công việc cảnh giới để bán ma túy, thời gian làm từ 18 giờ đến 21 giờ hàng ngày, trả công 10.000.000 đồng/01 tháng, khi nào làm đủ tháng sẽ trả tiền thì B1 đồng ý. Người đàn ông đã hướng dẫn B1 đứng tại đầu đường rẽ để quan sát những người đi vào khu vực lán xây dựng, nếu có nghi vấn thì thông báo cho người bán. Theo chỉ dẫn của người đàn ông, B1 đi đến lán xây dựng gặp Trình Viết B nói về việc được thuê cảnh giới để bán ma túy. B đã cho B1 số điện thoại của B để liên lạc và hướng dẫn B1 đứng cảnh giới tại khu vực rìa đường lối vào lán, nếu thấy người và phương tiện khả nghi là Công an thì báo cho B biết bằng cách gõ 03 cái vào cột điện ở đầu đường hoặc điện thoại cho B biết, nếu B không có ở đó thì B1 trực tiếp lấy ma túy để bán cho khách. B còn chỉ dẫn cho B1 biết ma tuý trong nắp các hộp màu xanh được cất giấu ở bụi cỏ cạnh lán xây dựng Bẩy đang ở, chỉ dẫn cách phân biệt gói ma tuý Heroine theo từng kích thước để bán với giá 600.000 đồng, 200.000 đồng và 100.000 đồng, tiền bán ma tuý sẽ để vào nắp nhựa màu xanh. B1 ngủ, nghỉ cùng với B tại lán xây dựng B đang ở.

Kết quả điều tra xác định Trình Viết B cùng Lò Văn B1 đã bán trái phép chất ma tuý trong những lần sau đây:

Lần thứ nhất: Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 16/01/2024, Phương Văn H1, sinh năm 1994, trú tại thôn Đ, xã H, huyện H, tỉnh Lạng Sơn, thuê trọ ở thôn Q, xã Q, thị xã V đi xe máy đến khu vực lán của Trình Viết B mua ma túy để sử dụng. Khi H1 đi đến đường rẽ vào lán xây dựng thì gặp Lò Văn B1 đang ngồi trên xe máy, đoán B1 bán ma tuý nên H1 bảo B1 bán cho 01 gói ma túy Heroine với giá 100.000 đồng. B1 đồng ý rồi đi xe máy đến vị trí B đang ngồi trên ghế tại khu vực bãi đất trống trước cửa lán và nói “ông ơi có khách”, B hiểu là có người đến mua ma túy nên bảo B1 lấy gói ma tuý giấu ở bụi cỏ phía sau lán. B1 đi đến vị trí cất giấu ma tuý thấy có 03 nắp nhựa màu xanh cài chồng lên nhau, mở nắp nhựa thấy bên trong có một túi nilon đựng nhiều gói ma túy kích thước khác nhau, B1 lấy một gói ma túy loại nhỏ, cầm đến vị trí H1 đứng chờ, H1 đưa cho B1 một tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng thì B1 đưa 01 gói ma túy, B1 cất tờ tiền vào trong nắp nhựa màu xanh và để lại vị trí cũ. Sau khi mua được ma túy, H1 đi xe máy đến ven đường gom cao tốc Hà Nội - Bắc Giang và sử dụng hết.

Lần thứ hai: Khoảng 18 giờ ngày 19/01/2024, Phương Văn H1 đi xe máy đến lán xây dựng Trình Viết B đang ở để mua ma túy. Hóa gặp B1 đang đứng cảnh giới ở cửa lán nên hỏi mua 01 gói ma túy Heroine với giá 100.000 đồng. Do B không có ở lán nên B1 đã tự lấy một gói ma túy trong nắp nhựa để ở phía sau lán rồi cầm ra đưa cho H1 và được H1 đưa cho một tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng, B1 cất tiền vào trong nắp nhựa. Sau đó, H1 lái xe đến đường gom cao tốc Hà Nội- Bắc Giang sử dụng hết.

Lần thứ ba: Cà Văn C, sinh năm 1998, trú tại bản S, xã H, huyện Đ, tỉnh Điện Biên làm công nhân xây dựng trụ sở Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh B tại thôn M, xã T, thành phố B. Cung được một người lái xe ôm ở đường gom cao tốc thuộc phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang cho số điện thoại 0327.706.xxx của Trình Viết B để liên lạc và chỉ dẫn địa điểm mua ma tuý tại khu vực lán xây dựng cạnh chung cư E. Khoảng 11 giờ ngày 20/01/2024 có một thanh niên tên là Tào Văn T2, sinh năm 1992 quê ở tỉnh Cao Bằng cùng làm công nhân xây dựng tại Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh B đưa cho C 01 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng nhờ mua giúp ma tuý để sử dụng, C đồng ý. Sau đó, C điều khiển xe mô tô biển số 37K1-9542 đi đến phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang. Trên đường đi, C sử dụng số điện thoại 0922.281.xxx gọi đến số điện thoại 0327.706.xxx của Trình Viết B hỏi mua một gói ma túy với giá 200.000 đồng và một gói ma túy với giá 600.000 đồng thì B đồng ý bán. C đi xe máy đến lán xây dựng gặp B đang đứng trước cửa lán và đưa cho B số tiền 800.000 đồng. Bẩy cất tiền vào túi áo đang mặc rồi đi đến khu vực tấm bạt che ở sau lán xây dựng lấy từ trong nắp nhựa 02 gói ma túy Heroine trong đó một gói giá 200.000 đồng và 01 gói giá 600.000 đồng đưa cho C. Cung cất 2 gói ma túy vào túi áo khoác bên trái đang mặc rồi đi xe máy ra về. Khoảng 12 giờ 15 phút cùng ngày, C đi xe máy đến khu vực lán công trình xây dựng Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh Bắc Giang thì bị Công an xã T, thành phố B phát hiện, bắt quả tang, thu giữ số vật chứng gồm: 02 gói giấy bạc đều có hai mặt màu trắng bạc, bên trong mỗi gói đều đựng chất cục bột màu trắng được niêm phong trong phòng bì thư ký hiệu “QT”; 01 điện thoại di động Realme màu xanh gắn sim số 0922.281.934; 01 xe mô tô Honda Dream biển số 37K1-9542.

Cơ quan điều tra đã ra quyết định trưng cầu giám định số vật chứng nghi là chất ma túy thu giữ của Cà Văn C. Kết luận giám định số 239/KL-KTHS ngày 26/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:

“Trong 01 phong bì có ký hiệu “QT” đã được dán kín, niêm phong gửi giám định: Chất cục bột màu trắng đựng trong 02 (hai) gói giấy bạc có hai mặt màu trắng bạc là ma túy, có khối lượng 0,392 gam, loại Heroine.”

Cơ quan điều tra đã khám xét khẩn cấp chỗ ở của Trình Viết B tại lán công trình xây dựng ở tổ dân phố Y, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang đã thu giữ: 03 nắp nhựa hình trụ màu xanh được xếp chồng lên nhau, trong đựng 01 hộp nhựa hình trụ dán băng dính màu đen xung quanh có nắp màu hồng, bên trong đựng 04 gói giấy bạc đều có hai mặt màu trắng bạc, bên trong mỗi gói đều đựng một viên nén hình tròn màu hồng đỏ; 10 gói giấy bạc đều có hai mặt màu trắng bạc bên trong mỗi gói đều đựng chất cục bột màu trắng; 29 gói giấy bạc đều có hai mặt màu trắng bạc, bên trong mỗi gói đều đựng chất cục bột màu trắng. Tất cả đều nghi là ma túy và được niêm phong trong phòng bì thư ký hiệu “KX”. Ngoài ra,thu giữ của Trình Viết B: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu xanh gắn sim số 0977.985.034 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS màu trắng gắn sim số 0327.706.116; số tiền 12.174.000 đồng; Thu giữ của Lò Văn B1: 01 điện thoại di dộng nhãn hiệu Realme, vỏ màu đen, gắn sim số 0337.843.667.

Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định số vật chứng nghi là chất ma túy thu giữ nêu trên. Kết luận giám định số 247/KL-KTHS ngày 26/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:

“Trong 01 phong bì thư ký hiệu “KX” được niêm phong gửi giám định: Trong 03 nắp nhựa màu xanh, được xếp chồng lên nhau:

  • - Trong 01 nắp nhựa phía dưới: 04 (bốn) viên nén hình tròn màu hồng đỏ đựng trong 04 gói giấy bạc có hai mặt màu trắng bạc (bên ngoài là 01 hộp nhựa hình trụ có nắp đậy màu hồng, bên ngoài dán băng dính màu đen xung quanh) đều là ma túy, loại Methamphetamine, tổng khối lượng 0,402 gam; Chất cục bột màu trắng đựng trong 10 (mười) gói giấy bạc có hai mặt màu trắng bạc đều là ma túy, loại Heroine, tổng khối lượng 3,166 gam.
  • - Trong 01 nắp nhựa ở giữa: Chất cục bột màu trắng đựng trong 29 (hai mươi chín) gói giấy bạc có hai mặt màu trắng bạc đều là ma túy, loại Heroine, tổng khối lượng 2,189 gam.”

Quá trình điều tra, Các bị cáo đều khai rõ về hành vi đã thực hiện. Cơ quan điều tra cho Trình Viết BLò Văn B1 xác định địa điểm bán ma tuý, vị trí cất giấu ma túy và thực nghiệm điều tra, kết quả Bẩy, B1 đều thực hiện và chỉ đúng các vị trí như đã khai, thực hiện đúng hành vi cất giấu ma túy, bán ma túy.

Cơ quan điều tra cho Phương Văn H1Lò Văn B1 nhận dạng nhau qua ảnh, Trình Viết BCà Văn C nhận dạng nhau qua ảnh. Các bị cáo và người liên quan đều nhận đúng đối tượng đã giao dịch mua bán ma túy với nhau.

Kết quả kiểm tra điện thoại di động Realme lắp sim số 0922.281.934 của Cà Văn C thấy có lưu số điện thoại của 0327.706.xxx của Trình Viết B được đặt tên là “Ông Già” và có lưu số điện thoại 0329.602.xxx của T2 được đặt là “Tào Tháo Toại”. Lịch sử cuộc gọi có lưu cuộc gọi đến cho Bẩy hồi 10 giờ 50 phút ngày 20/01/2024. Kiểm tra điện thoại di động Iphone XS màu trắng, gắn sim số 0327.706.116 của Trình Viết B có lưu lịch sử cuộc gọi đến của Cung hồi 10 giờ 50 phút ngày 20/01/2024, trong danh bạ có lưu số điện thoại 0327.706.xxx của Lương Đức T1. Kiểm tra điện thoại di động N1 màu xanh gắn sim số 0977.985.034 của B không phát hiện nội dung liên quan mua bán ma tuý. Kiểm tra điện thoại di dộng Realme gắn sim số 0337.843.667 của Lò Văn B1 thấy có lưu số điện thoại 0327.706.xxx của Trình Viết B, các dữ liệu còn lại không phát hiện nội dung liên quan đến mua bán ma tuý.

Bản cáo trạng số 140/CT-VKS ngày 28/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang đã truy tố bị cáo Cà Văn C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự; Truy tố các bị cáo Trình Viết B, Lò Văn B1 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại các điểm b, p khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đã phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của từng bị cáo, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và xác định đủ căn cứ chứng minh các bị cáo Cà Văn C, Trình Viết B, Lò Văn B1 đã phạm tội như nội dung cáo trạng đã truy tố, giữ nguyên quan điểm và đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1 điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự đối với Cà Văn C. Xử phạt Cung từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 01 (một) năm 10 (mười) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 20/01/2024.

Căn cứ điểm b, p khoản 2 điều 251; điểm s, p khoản 1, khoản 2 điều 51; điều 17; điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự đối với Trình Viết B. Xử phạt Bẩy từ 07 (bẩy) năm 09 (chín) tháng đến 8 (tám) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 21/01/2024

Căn cứ điểm b, p khoản 2 điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51; Điều 17; điều 58; điều 38 Bộ luật hình sự đối với Lò Văn B1. Xử phạt B1 từ 07 (bẩy) năm 06 (sáu) tháng đến 08 (tám) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 21/01/2024.

Không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với các bị cáo.

Về vật chứng: Căn cứ điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

  • - Tịch thu tiêu hủy: 02 phong bì thư ký hiệu “QT”, “KX” niêm phong đựng mẫu vật ma túy còn lại sau giám định.
  • - Tịch thu sung Ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động Realme màu xanh gắn sim số 0922.281.934 của Cà Văn C; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS màu trắng gắn sim số 0327.706.116 của Trình Văn B2; Số tiền 12.174.000 đồng thu của bị cáo Trình Viết B.
  • - Trả lại cho B 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu xanh gắn sim số 0977.985.034; Trả cho B1 01 điện thoại di dộng nhãn hiệu Realme, vỏ màu đen, gắn sim số 0337.843.667; Trả cho C 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream biển số 37K1 - 9542 đã qua sử dụng.

Án phí: Bị cáo B1, C là người dân tộc sống ở vùng đặc biệt khó khăn, bị cáo B là người khuyết tật nặng nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điều 12 Nghị quyết 326/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Tại phiên tòa, các bị cáo đều đã khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung cáo trạng đã truy tố. Các bị cáo đều khai đã nhận thức thấy hành vi của mình là sai, vi phạm pháp luật, thấy năn năn, hối cải về hành vi của mình, không tranh luận, không bào chữa gì và đều xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại gì, Hội đồng xét xử đánh giá hành vi, quyết định của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng là hợp pháp.

[2] Về sự vắng mặt của những người có quyền, nghĩa vụ liên quan trong vụ án. Hội đồng xét xử thấy, Tòa án đã triệu tập hợp lệ những người trên, trong quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã lấy lời khai, tại phiên tòa không ai có ý kiến gì về sự vắng mặt của những người có quyền, nghĩa vụ liên quan, do đó Hội đồng xét xử căn cứ điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự để xét xử vụ án.

[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Lời khai của các bị cáo Cà Văn C, Trình Viết B, Lò Văn B1 tại phiên tòa phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra và đều thừa nhận về hành vi phạm tội đúng như nội dung cáo trạng đã truy tố. Lời khai của các bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của nhau, phù hợp với lơi khai của anh Phương Văn H1, còn được chứng minh bằng các tài liệu, chứng cứ khác như biên bản kiểm tra hành chính, biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang, kết quả thực nghiệm điều tra, khám nghiệm hiện trường, vật chứng thu giữ, kết quả giám định tại các kết luận giám định số 239/KL-KTHS ngày 26/01/2024 và số 247/KL-KTHS ngày 26/01/2024 của Phòng K công an tỉnh B. Từ lời khai của các bị cáo, cùng các tài liệu, chứng cứ khác đã được thẩm tra tại phiên tòa, có cơ sở xác định:

Trình Viết BLò Văn B1 cùng ở tại lán xây dựng bỏ trống cạnh chung cư E thuộc Tổ dân phố Y, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang và sử dụng địa điểm này để bán ma tuý. Trong đó: Bẩy trực tiếp cất giấu ma tuý và bán ma tuý, B1 làm nhiệm vụ cảnh giới và trực tiếp bán ma tuý khi B vắng mặt. Bẩy và B1 đã có hành vi bán ma túy cho các đối tượng vào thời gian như sau:

Buổi chiều ngày 16/01/2024, B3B1 bán cho P Văn Hóa 01 gói ma túy heroine với giá 100.000 đồng. Trong đó, B chỉ dẫn B1 lấy ma tuý đã cất giấu. B1 trực tiếp bán ma tuý cho H1 và thu tiền.

Buổi chiều ngày 19/01/2024, do B không có mặt tại lán nên B1 trực tiếp bán cho P Văn Hóa 01 gói ma túy heroine với giá 100.000 đồng.

Buổi trưa ngày 20/01/2024, B trực tiếp bán cho Cà Văn C 02 gói ma túy heroine với giá 800.000 đồng.

Ngoài ra, cơ quan điều tra đã thu giữ 04 viên nén hình tròn màu hồng đỏ, giám định là Methamphetamine, tổng khối lượng 0,402 gam và 39 gói giấy bạc chứa ma tuý, giám định là Heroine có tổng khối lượng 5,355 gam tại khu lán trại Bẩy và B1 ở, kết quả điều tra xác định B, B1 cất giấu số ma tuý trên để bán lại cho người khác.

Đối với Cà Văn C đã có hành vi mua 02 gói ma túy của B với giá 800.000 đồng, mục đích sử dụng. Kết quả giám định xác định số ma túy thu giữ của CH2 có khối lượng 0,392 gam.

Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến lĩnh vực quản lý độc quyền của nhà nước về các chất ma túy, gây những tác hại, ảnh hưởng xấu đến trật tự xã hội, đe dọa sức khỏe, tính mạng con người, là nguyên nhân gây ra những loại tội phạm nguy hiểm khác. Với hành vi trên, bị cáo Trình Viết B và bị cáo Lò Văn B1 phải chịu trách nhiệm đồng phạm với nhau trong việc “bán trái phép chất ma túy” cho các đối tượng P Văn Hóa, Cà Văn C và tổng khối lượng ma tuý bán cho Cà Văn C, số ma tuý bị thu giữ gồm 5,747 gam Heroine và 0,402 gam Methamphetamine. Hành vi của B, B1 đã đủ căn cứ cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy" theo các điểm b, p khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự. Đối với Cà Văn C bị bắt quả tang tàng trữ 02 gói giấy bạc chứa ma túy Heroine có khối lượng 0,392 gam, mục đích để sử dụng. Hành vi của C đã đủ căn cứ cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Như vậy, hành vi của các bị cáo C, B, B1 bị truy tố tại bản cáo trạng số 140/CT-VKS ngày 28/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang theo tội danh, điều luật đã nêu là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3]. Vai trò, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Vai trò: Trong vụ án này, các bị cáo B, B1 cùng thực hiện hành vi “bán trái phép chất ma tuý”. Trong đó bị cáo B là người bán ma túy, quản lý ma túy và số tiền bán ma túy nên có vai trò thứ nhất. Bị cáo B1 đã giúp sức tích cực cho B, nhận sự phân công của B, cảnh giới, giúp bán ma tuý nên có vai trò thứ hai. Đối với bị cáo C, mua ma túy về sử dụng, hành vi của bị cáo độc lập, không đồng phạm với bị cáo BB1.

Nhân thân: Các bị cáo đều không có tiền án, tiền sự. Bị cáo B năm 2007 bị Công an huyện Y, tỉnh Bắc Giang xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, các bị cáo B, B1, C đều đã khai báo thành khẩn, ăn năn, hối cải nên được áp dụng điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo B là người khuyết tật nặng nên được áp dụng điểm p khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, bị cáo B đã đầu thú, có bố đẻ được nhà nước tặng thưởng huy chương kháng chiến, bị cáo B1 đầu thú nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 2 điều 51 của Bộ luật hình sự.

Đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của mỗi bị cáo, Hội đồng xét xử thấy hành vi phạm tội của các bị cáo thuộc trường hợp rất nghiêm trọng nên buộc phải cách ly khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục mỗi bị cáo trở thành công dân sống có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời cũng để răn đe, ngăn ngừa các hành vi, tội phạm về ma túy đang ngày càng gia tăng trong đời sống xã hội hiện nay. Khi lượng hình Hội đồng xét xử có xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhận thức, thái độ ăn năn, hối cải để giảm nhẹ một phần hình phạt cho mỗi bị cáo. Trong các bị cáo, bị cáo B là người khuyết tật nặng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bị cáo B1, bị cáo C là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế, xã hội khó khăn, có những hạn chế về nhận thức, do đó Hội đồng xét xử thấy mức hình phạt kiểm sát viên đề xuất cho mỗi bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật nên chấp nhận.

[4]. Về hình phạt bổ sung:

Các bị cáo Trình Viết B, Lò Văn B1 thực hiện hành vi “bán trái phép chất ma tuý” để kiếm lời. Tuy nhiên, B là người khuyết tật nặng hiện hưởng trợ cấp xã hội, B1 là người dân tộc thiểu số, là lao động tự do không có công việc ổn định, do đó, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung cho các bị cáo này. Bị cáo C mua ma tuý để sử dụng, không có mục đích vụ lợi nên không áp dụng hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 điều 249 Bộ luật hình sự.

[5]. Về vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự; Khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Đối với chiếc xe mô tô biển số 37K1 - 9542 thu giữ của Cà Văn C, đăng ký xe mang tên Trương Xuân T3, sinh năm 1959 ở xóm H, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Quá trình điều tra anh T3 khai bán lại cho người không quen biết từ năm 2016. Cà Văn Cung khai mua chiếc xe này của một người không quen biết và sử dụng hàng ngày. Kết quả điều tra cũng xác định xe trên không phải là vật chứng trong vụ án nào khác. Hội đồng xét xử thấy đây là phương tiện bị cáo sử dụng để đi làm nên tuyên trả lại cho bị cáo.

Đối với số tiền 12.174.000 đồng thu giữ của Trình Viết B. Quá trình điều tra B khai là tiền bán ma túy và tiền được trả công do bán ma túy. Trong đó, có 800.000 đồng là tiền bán ma tuý cho Cà Văn C, ngoài ra không có tài liệu, chứng cứ nào khác, xác định số tiền trên Bẩy có được từ nguồn thu hợp pháp, do đó tịch thu sung Ngân sách nhà nước.

Đối với số tài sản tạm giữ của Lương Văn T4, quá trình điều tra Cơ quan điều tra xác định không liên quan đến vi phạm pháp luật và đã trả lại cho T4, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Đối với số ma tuý thu giữ trong vụ án đã được hoàn lại sau giám định được niêm phong trong các phong bì thư ký hiệu “QT” và “KX” cần tịch thu tiêu huỷ.

Đối với điện thoại di động Realme màu xanh gắn sim số 0922.281.934 của Cà Văn C và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS màu trắng gắn sim số 0327.706.116 của Trình Văn B2 được các bị cáo sử dụng vào việc giao dịch mua bán ma tuý cần tịch thu sung Ngân sách nhà nước.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu xanh gắn sim số 0977.985.034 của B2 và 01 điện thoại di dộng nhãn hiệu Realme, vỏ màu đen, gắn sim số 0337.843.667 thu của Lò Văn B1, quá trình điều tra xác định không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho các bị cáo.

[6]. Đối với người liên quan:

Đối với đối tượng Lương Đức T1: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Trình Viết B khai được Lương Đức T1 thuê bán ma tuý và trả công 500.000 đồng/01 ngày làm việc, Lò Văn B1 khai được người đàn ông không quen biết thuê bán ma tuý và trả công, khi bị bắt B1 mới biết người này tên là T1. Tuy nhiên, BB1 khai khi T1 trao đổi với B với B1 thì chỉ có hai người nói chuyện với nhau ngoài ra không có ai khác. Giữa T1, BB1 chưa từng cùng gặp nhau đủ 3 người, T1 cũng không giao ma túy, giao việc, giao tiền trực tiếp cho BB1. Lương Đức T1 không thừa nhận việc thuê BB1 bán ma tuý, Cơ quan điều tra đã cho B, B1 đối chất với T1 nhưng các bên giữ nguyên lời khai. Ngoài lời khai của BB1 thì không có tài liệu nào khác chứng minh việc T1 thuê BB1 bán ma tuý cho T1, nên cơ quan điều tra xác định không đủ căn cứ để xử lý đối với Lương Đức T1, do đó Hội đồng xét xử không xem xét trong vụ án này.

Đối với việc Cà Văn Cung k có người tên T2, có số điện thoại 0329.602.xxx, cùng làm xây dựng tại nơi Cung làm việc nhờ mua hộ ma tuý. Cơ quan điều tra đã xác minh chủ đăng ký thuê bao trên này là Trần Văn T5, sinh năm 1981, trú tại thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang, anh T5 khai không đăng ký, không sử dụng số điện thoại này và không quen biết Cung. Kết quả điều tra, xác minh tại Ban quản lý thi công Trung tâm kiểm soát bệnh tật tỉnh B và Công an xã T xác định không có người nào có tên Tào Văn T2 quê ở tỉnh Cao Bằng. Ngoài lời khai của C thì không có chứng cứ khác nên cơ quan điều tra xác định không có căn cứ để làm rõ, do đó Hội đồng xét xử không xem xét trong vụ án này.

Đối với Phương Văn H1, Trình Viết BLương Đức T1 khai có sử dụng trái phép chất ma tuý. Kết quả xét nghiệm đều dương tính với ma tuý nên Công an thành phố B đã quyết định xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý, Hội đồng xét xử thấy phù hợp quy định của pháp luật. Trong quá trình điều tra, Trình Viết B khai còn bán ma tuý cho nhiều người khác nhưng không nhớ cụ thể thời gian, không biết thông tin người mua, cơ quan điều tra cũng không thu thập được tài liệu chứng cứ nào khác, do đó cơ quan điều tra xác định không có đủ căn cứ xử lý Bẩy về các lần bán ma tuý nêu trên, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

[7].Về án phí: Căn cứ điều 12 Nghị quyết 326/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án, các bị cáo B1, C là đối tượng người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện đặc biệt khó khăn, bị cáo B là người khuyết tật nặng nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

[8]. Các bị cáo, những người có quyền, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

1- Về điều luật, tội danh, mức hình phạt:

Căn cứ điểm a, c khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự; Khoản 2, khoản 3 Điều 106; điều 136, điều 333, điều 336, điều 337 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 3, điểm đ khoản 1 điều 12 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

- Căn cứ điểm c khoản 1 điều 249; Điểm s khoản 1 điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Cà Văn C.

Xử phạt bị cáo Cà Văn C 01(một) năm 08 (tám) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam 20/01/2024.

- Căn cứ điểm b, p khoản 2 Điều 251; Điểm s, p khoản 1, khoản 2 điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Trình Viết B.

+ Xử phạt bị cáo Trình Viết B 07 (bẩy) năm 09 (chín) tháng về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 21/01/2024.

- Căn cứ điểm b, p khoản 2 Điều 251; Điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Lò Văn B1.

+ Xử phạt bị cáo Lò Văn B1 07 (bẩy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 21/01/2024.

2. Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy: 02 phong bì thư ký hiệu “QT”, “KX” niêm phong, bên trong đựng mẫu vật ma túy còn lại sau giám định.

- Tịch thu sung Ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động Realme màu xanh gắn sim số 0922.281.934 của bị cáo Cà Văn C; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS màu trắng gắn sim số 0327.706.116 và số tiền 12.174.000 (mười hai triệu một trăm bẩy mươi tư nghìn) đồng của bị cáo Trình Viết B.

- Trả lại cho bị cáo Trình Viết B 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu xanh gắn sim số 0977.985.034; Trả lại cho bị cáo Lò Văn B1 01 điện thoại di dộng nhãn hiệu Realme, vỏ màu đen, gắn sim số 0337.843.667; Trả lại cho bị cáo Cà Văn C 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, biển số 37K1-9542.

3. Về án phí: Các bị cáo Trình Viết B, Lò Văn B1, Cà Văn C được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Sở tư pháp tỉnh Bắc Giang
  • - TAND, VKSND Tỉnh Bắc Giang
  • - VKSND TP Bắc Giang
  • - THADS TP Bắc Giang
  • - Công an TP Bắc Giang
  • - Bị cáo; Những người TGTT;
  • - UBND xã, phường nơi bị cáo cư trú;
  • - Lưu HS, VP.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 162/2024/HS-ST ngày 15/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy; mua bán trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 162/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy; Mua bán trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bi cáo Trình Viết Bẩy, Lò Văn Biên phạm tội mua bán trái phép chất ma túy, Cà Văn Cung phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Để căn cứ kết tôi
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger