|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN TỈNH AN GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 162/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 15/7/2024
V/v tranh chấp ly hôn, tranh chấp về nuôi con
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Cẩm Xuyên.
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1/ Ông Liêu Khăng;
- 2/ Ông Lý Đạt Thành.
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Tiểu Ngọc – Thư ký Toà án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diệu - Kiểm sát viên.
Trong ngày 15 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 210/2024/TLST-HNGĐ, ngày 27/5/2024 về việc: “Xin ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 130/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 17/6/2024 và quyết định hoãn phiên tòa số: 120/2024/QÐST-HNGĐ ngày 04/7/2024, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Chị Mai Thị Ái N, sinh năm 1981 (vắng mặt – có đơn xin xét xử vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp H, xã Đ, huyện T, tỉnh An Giang. Số điện thoại: 0348.448.xxx
* Bị đơn: Anh Nguyễn Văn C, sinh năm 1985 (vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp H, xã Đ, huyện T, tỉnh An Giang. Số điện thoại: 0334.354.xxx
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Mai Thị Ái N trình bày: Chị Mai Thị Ái N với anh Nguyễn Văn C chung sống với nhau từ năm 2012, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân (sau đây gọi tắt là UBND) xã Đ, huyện T, tỉnh An Giang ngày 18/5/2016. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng đến nhưng đến đầu năm 2017, thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nguyên do anh C thường xuyên uống rượu, khi say rượu thì hay chửi bới và có hành vi vũ phu đối với chị N, do nghĩ tình vợ chồng nên chị N không báo chính quyền địa phương. Cuối năm 2017, chị N không chịu đựng được nữa nên dẫn cháu H về nhà mẹ ruột ở, vợ chồng ly thân từ đó cho đến nay. Trong thời gian ly thân vợ chồng không còn quan tâm, chăm sóc nhau, anh C cũng không chu cấp phụ tiếp chị N nuôi con. Nhận thấy, cuộc sống hôn nhân không thể hàn gắn và kéo dài nên chị N yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Văn C. Về quan hệ con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Thị Ái H1, sinh ngày 25/3/2013 (hiện đang sống với mẹ). Sau khi ly hôn, chị N yêu cầu nuôi con chung, không yêu cầu anh C cấp dưỡng. Về tài sản chung, nợ chung: Không có.
Đối với bị đơn anh Nguyễn Văn C: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ anh Nguyễn Văn C nhưng anh C đã vắng mặt không lý do nên không có lời khai của anh C.
Nguyện vọng của con chung: Tại biên bản ghi nhận ý kiến của người chưa thành niên ngày 27/5/2024, cháu Nguyễn Thị Ái H1, sinh ngày 25/3/2013 có nguyện vọng được tiếp tục sống với mẹ.
Kết quả xác minh tình trạng hôn nhân của chị N, anh C tại biên bản lấy lời khai người làm chứng bà Nguyễn Thị Ái D (mẹ ruột của chị N) vào ngày 27/5/2024 thể hiện: “...N, C chung sống từ năm 2012, do mai mối khoảng 3,4 tháng thì có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện T, tỉnh An Giang ngày 18/5/2016 (đăng ký kết hôn trễ). Sau khi kết hôn thì sống ở nhà cha mẹ chồng. Nhưng đến đầu năm 2017, thì vợ chồng N, C phát sinh mâu thuẫn nguyên do anh C hay uống rượu, khi say thì hay chửi bới, đánh đập N, thấy cũng là vợ chồng nên N không báo công an nhưng tôi đều biết vì thấy mặt con gái sưng vù. Gia đình tôi cũng có khuyên con rể nhưng không được. Cuối năm 2017, thì N dẫn cháu H1 về nhà tôi ở cho đến nay. Sau đó C và gia đình C chưa một lần nào điện thoại hay là tới lui thăm nom N và cháu H1, không ngỏ ý hàn gắn cũng không chu cấp phụ tiếp N nuôi con...".
Tại phiên tòa: Chị Mai Thị Ái N vắng mặt – có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn anh Nguyễn Văn C vắng mặt không có lý do.
Đại diện Viện kiểm sát Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Về tuân theo pháp luật của những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng: Về cơ bản vụ án đã được tiến hành đúng theo trình tự pháp luật quy định, đã xác minh tại địa phương về tình trạng hôn nhân, có đủ cơ sở đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật. Về giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 8, Điều 9, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; Nghị quyết 326/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về quan hệ hôn nhân: Chị N được ly hôn với anh C. Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Thị Ái H1, sinh ngày 25/3/2013 cho chị N được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, anh C không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét. Về án phí: Chị N yêu cầu ly hôn nên phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (sau đây gọi tắt là HĐXX) nhận định:
[1] Về tố tụng: Đây là vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con; Bị đơn anh Nguyễn Văn C cư trú tại huyện T, tỉnh An Giang. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn. Tại phiên tòa, anh C vẫn vắng mặt không có lý do là từ bỏ quyền và không thực hiện nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70 và Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự; Chị Mai Thị Ái N vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt. Do vậy, HĐXX căn cứ khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Mai Thị Ái N chung sống với anh Nguyễn Văn C có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện T, tỉnh An Giang ngày 18/5/2016. Do vậy, căn cứ vào Điều 8 và Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì đây là hôn nhân hợp pháp nên phát sinh quyền và nghĩa vụ của vợ chồng. Kết quả xác minh tình trạng hôn nhân của chị N, anh C phù hợp với lời khai của chị N về nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn, cụ thể: Đầu năm 2017 anh C thường xuyên uống rượu và nhiều lần có hành vi bạo lực gia đình với chị N. Bên cạnh đó, anh C không lo cho kinh tế gia đình, không quan tâm vợ con, vợ chồng đã sống ly thân từ cuối năm 2017 cho đến nay, trong thời gian ly thân vợ chồng không còn quan tâm nhau. Trong suốt quá trình giải quyết vụ án anh C không đến Tòa để tham dự các phiên hòa giải cũng như xét xử, không gửi tờ tự khai thể hiện ý kiến của mình là mặc nhiên thừa nhận có sự mâu thuẫn giữa vợ chồng và không có ý muốn hàn gắn. Do đó chị N đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn là có cơ sở.
Căn cứ vào quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, HĐXX xét thấy tình trạng hôn nhân giữa chị N và anh C đã mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị N đối với anh C.
[2.2] Về con chung: Qua chứng cứ chị Mai Thị Ái N cung cấp cũng như kết quả xác minh tình trạng hôn nhân thì chị Mai Thị Ái N và anh Nguyễn Văn C có 01 con chung tên Nguyễn Thị Ái H1, sinh ngày 25/3/2013, hiện cháu H1 đang sống với mẹ. Nhận thấy cháu H1 có nguyện vọng được sống với mẹ, chị N đủ điều kiện trực tiếp nuôi con chung và cũng có nguyện vọng được tiếp tục nuôi dưỡng con chung. Trong quá trình giải quyết vụ án anh C không thể hiện ý kiến đối với yêu cầu của chị N về con chung. Do vậy, HĐXX áp dụng các Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân gia đình, giao con chung tên Nguyễn Thị Ái H1, sinh ngày 25/3/2013 cho chị Mai Thị Ái N được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu H1 thành niên (đủ 18 tuổi), tự lao động được là phù hợp và đảm bảo được các điều kiện tốt nhất cho sự phát triển về thể chất, tinh thần, việc học tập, môi trường sống của cháu H1; Chị N phải tạo điều kiện cho anh C được quyền đến thăm nom, chăm sóc các con chung, không ai được cản trở; Khi cần thiết anh C có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con theo quy định pháp luật.
[2.3] Về cấp dưỡng nuôi con: Chị N không yêu cầu nên HĐXX không xem xét.
[2.4] Về tài sản chung và nợ chung: Chị N trình bày không có nên HĐXX không xem xét.
[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị N là nguyên đơn nên phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định.
[4] Quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị về giải quyết vụ án là phù hợp với nhận định nêu trên của Tòa án.
[5] Các đương sự được kháng cáo bản án theo quy định của Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 70, Điều 72, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 8, Điều 9, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH.14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Mai Thị Ái N.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Mai Thị Ái N được ly hôn với anh Nguyễn Văn C.
- Về quan hệ con chung: Chị Mai Thị Ái N được tiếp tục nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Thị Ái H1, sinh ngày 25/3/2013; Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được quyền ngăn cản. Người không trực tiếp nuôi con chung nếu lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng con chung thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích của con, khi cần thiết các đương sự có thể yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Tạm miễn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh Nguyễn Văn C do chị Mai Thị Ái N không yêu cầu. Vì lợi ích của con, khi cần thiết các đương sự có thể yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung hoặc thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con chung.
-
Về tài sản chung và nợ chung:
- - Về tài sản chung: Quá trình giải quyết vụ án chị Mai Thị Ái N trình bày tự thỏa thuận nên không đặt ra giải quyết.
- - Về nợ chung: Quá trình giải quyết vụ án chị Mai Thị Ái N trình bày không có nên không đặt ra giải quyết. Tuy nhiên, sau khi bản án này có hiệu lực pháp luật nếu có nguyên đơn xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì chị Mai Thị Ái N và anh Nguyễn Văn C phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác.
- Về án phí sơ thẩm: Chị Mai Thị Ái N phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu số 0013909 ngày 27/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang. Như vậy, chị N đã thực hiện xong nghĩa vụ chịu án phí sơ thẩm. Anh Nguyễn Văn C không phải chịu án phí.
Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án theo quy định của pháp luật để yêu cầu xét xử phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Cẩm Xuyên |
Bản án số 162/2024/HNGĐ-ST ngày 15/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 162/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
