Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ LONG XUYÊN

TỈNH AN GIANG

********

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

********

Bản án số: 162/2024/DS-ST

Ngày: 15/5/2024

V/v “T/c Hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN-TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Nguyễn Thị Đức Anh

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Huỳnh Thị Thúy Hoa
  2. Ông Phạm Ngọc Nguyên

- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Trung Hiếu – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên.

- Đại diện Viện kiểm sát viên nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang không tham gia phiên tòa:

Ngày 15 tháng 5 năm 2024 tại Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số 117/2024/TLST-DS ngày 05 tháng 3 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 204/2023/QĐXXST – DS ngày 27 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 215/2024/QĐST-DS ngày 17 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP K.

Đại diện theo pháp luật: Ông Trần Ngọc M – Tổng giám đốc

Địa chỉ trụ sở: Số D P, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.

+ Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Hữu Đ – Giám đốc chi nhánh A1 đại diện theo ủy quyền số 4408/QĐ-NHKT ngày 09/11/2023.

+ Ông Lê Hữu Đ ủy quyền cho:

  • - Ông Phạm Quốc Đ1 – Giám đốc Quan hệ khách hàng cá nhân kiêm khách hàng doanh nghiệp theo ủy quyền số 03/UQ - CNAG ngày 30/01/2024.
  • - Ông Phạm Văn Minh E, sinh năm 1983 – Cộng tác viên tín dụng.

- Bị đơn: Bà Trần Thị Bích T, sinh năm 1995.

Địa chỉ: Số A, khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang;

(Nguyên đơn có đơn xin vắng mặt, bị đơn vắng mặt lần thứ hai)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Ông Phạm Quốc Đ1 đại diện theo ủy quyền cho ngân hàng TMCP K trình bày:

Ngân hàng TMCP K (sau đây gọi là Ngân hàng) có cho bà Trần Thị Bích T vay số tiền 20.000.000 đồng theo Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng kiêm khế ước nhận nợ kiêm hợp đồng cầm cố số EM A1475144/HDTD-CC, ngày 13/9/2023; hợp đồng được ký kết giữa Ngân hàng TMCP K - Chi nhánh A1 với bà Trần Thị Bích T, thời hạn vay là 180 ngày, lãi suất trong hạn 17%/năm, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn, phương thức vay trả góp, hình thức trả góp nợ gốc và lãi tiền vay hàng ngày từ ngày 14/9/2023 đến ngày 11/3/2024 (số tiền trả mỗi ngày là 120.425 đồng, ngày cuối trả 120.625 đồng), mục đích vay để bổ sung vốn.

Để đảm bảo nghĩa vụ thanh toán, bà Trần Thị Bích T có thế chấp tài sản cho Ngân hàng theo hợp đồng tín dụng kiêm hợp đồng cầm cố nêu trên. Tài sản thế chấp là: 01 xe Honda Vision, biển số: 67B2-840.55, số khung: RLHJK034XNY001159, số máy: JK03E7525564 Giấy chứng nhận Đăng ký xe mô tô, gắn máy số 67012293 do công an tỉnh A cấp ngày 03/04/2023 cho bà Trần Thị Bích T.

Quá trình thực hiện, bà T thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận đến ngày 12/8/2023 thì ngưng không trả nữa, tổng số tiền đã thanh toán là 8.429.755 đồng. Mặc dù, Ngân hàng đã nhiều lần đôn đốc, nhắc nhở và tạo điều kiện trả nợ nhưng bà T vẫn không thực hiện và cố tình lẫn tránh. Do bà T đã vi phạm nghĩa vụ của bên vay theo các điều khoản đã ký trong hợp đồng, nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà Trần Thị Bích T có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng số tiền tạm tính đến ngày 15/5/2024 là 14.300.888 đồng, trong đó: vốn 12.222.300 đồng, lãi trong hạn 1.024.658 đồng, lãi quá hạn 1.020.383 đồng, lãi chậm trả 33.547 đồng. Yêu cầu bà T tiếp tục trả lãi phát sinh từ ngày 16/5/2024 cho đến khi thanh toán xong số nợ theo mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng đã ký.

Tiếp tục duy trì Hợp đồng tín dụng kiêm cầm cố tài sản số: A1475144/HĐTD/CC ngày 13/9/2023 được ký kết giữa đại diện Ngân hàng với bà Trần Thị Bích T để đảm bảo cho việc thi hành án.

- Bị đơn vắng mặt không có văn bản trình bày ý kiến đối yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn

Tại phiên tòa sơ thẩm:

Ông Phạm Quốc Đ1 là đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt.

Bị đơn là bà Trần Thị Bích T vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên Toà, ý kiến của Kiểm sát viên. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Ngân hàng TMCP K yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp tài sản với bị đơn bà Trần Thị Bích T là tranh chấp dân sự, tranh chấp thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

[1.2] Nguyên đơn Ngân hàng TMCP K ủy quyền cho ông Phạm Quốc Đ1 và ông Phạm Văn Minh E (theo giấy ủy quyền số 03/UQ - CNAG ngày 30/01/2024 của Giám đốc Ngân hàng TMCP K - Chi nhánh A1) là phù hợp với quy định tại Điều 85 và Điều 86 Bộ luật tố tụng dân sự, nên Hội đồng xét xử chấp nhận ông Minh E và ông Đ1 tham gia tố tụng với tư cách là đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn và được thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng theo nội dung văn bản ủy quyền.

[1.3] Tại phiên tòa, nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt không lý do. Căn cứ khoản 2 Điều 227, Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng nguyên đơn và bị đơn.

[2] Về nội dung:

[2.2] Ngày 13/9/2023, bà Trần Thị Bích T ký Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng kiêm khế ước nhận nợ kiêm hợp đồng cầm cố số EM A1475144/HDTD-CC, ngày 13/9/2023; hợp đồng được ký kết giữa Ngân hàng TMCP K - Chi nhánh A1 với bà Trần Thị Bích T, thời hạn vay là 180 ngày, lãi suất trong hạn 17%/năm, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn, phương thức vay trả góp, hình thức trả góp nợ gốc và lãi tiền vay hàng ngày từ ngày 14/9/2023 đến ngày 11/3/2024. Quá trình thực hiện, bà T đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ của bên vay theo các điều khoản đã thỏa thuận trong hợp đồng, nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà Trần Thị Bích T phải có trách nhiệm trả nợ như trên.

[2.3] Trong suốt quá trình giải quyết, bà T mặc dù đã nhận trực tiếp các văn bản tố tụng của Tòa nhưng đều vắng mặt và không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện, các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp. Bà Trần Thị Bích T không cung cấp tài liệu, chứng cứ hoặc có yêu cầu phản đối yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, như vậy ông bà đã từ bỏ quyền, nghĩa vụ được quy định tại khoản 5 Điều 70 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng kiêm khế ước nhận nợ kiêm hợp đồng cầm cố số số EM A1475144/HDTD-CC, ngày 13/9/2023 được ký kết giữa bên cho vay Ngân hàng TMCP K - Chi nhánh A1 với bên vay bà Trần Thị Bích T để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP K về việc yêu cầu bà Trần Thị Bích T có trách nhiệm trả cho Ngân hàng số tiền tạm tính đến ngày 15/5/2024 là 14.300.888 đồng, trong đó: vốn 12.222.300 đồng, lãi trong hạn 1.024.658 đồng, lãi quá hạn 1.020.383 đồng, lãi chậm trả 33.547 đồng. Kể từ ngày 16/5/2024, bà T còn phải tiếp tục trả lãi phát sinh cho đến khi thanh toán xong số nợ.

[2.4] Xét Hợp đồng cầm cố giữa Ngân hàng TMCP K và bà Trần Thị Bích T ngày 13/9/2023 để đảm bảo cho khoản vay của bà T được ký kết trên cơ sở tự nguyện và phù hợp với quy định pháp luật nên phát sinh hiệu lực giữa các bên. Trường hợp bà T không thanh toán số tiền trên, Ngân hàng TMCP K được quyền yêu cầu xử lý tài sản đảm bảo theo hợp đồng cầm cố là 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, biển số: 67B2-840.55, số khung: RLHJK034XNY001159, số máy: JK03E7525564 Giấy chứng nhận Đăng ký xe mô tô, gắn máy số 67012293 do công an tỉnh A cấp ngày 03/04/2023 cho bà Trần Thị Bích T.

[3] Về án phí dân sự sơ thẩm:

Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Bị đơn là bà Trần Thị Bích T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo qui định pháp luật.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

* Căn cứ vào: Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 177; Điều 227; Điều 228; Điều 238, khoản 1 Điều 271, Điều 273, Điều 278 và Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Khoản 14 và khoản 16 Điều 4, khoản 2 Điều 91, Điều 95 Luật Các Tổ chức tín dụng;

- Các Điều 463, 466, 470 Bộ luật Dân sự năm 2015;

- Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

- Các Điều 2, 6, 7, 9 và 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Tuyên xử:

[1] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần K.

Buộc bà Trần Thị Bích T có trách nhiệm trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần K số tiền tạm tính đến ngày 15/5/2024 là 14.300.888 đồng, trong đó: vốn 12.222.300 đồng, lãi trong hạn 1.024.658 đồng, lãi quá hạn 1.020.383 đồng, lãi chậm trả 33.547 đồng.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (15/5/2024), bà Trần Thị Bích T còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc. Trường hợp trong hợp đồng vay, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

Trường hợp bà T không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả tiền thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần K có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm là 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, biển số: 67B2-840.55, số khung: RLHJK034XNY001159, số máy: JK03E7525564, Giấy chứng nhận Đăng ký xe mô tô, gắn máy số 67012293 do công an tỉnh A cấp ngày 03/04/2023 cho bà Trần Thị Bích T để thi hành án.

[2] Về án phí dân sự sơ thẩm:

Bà Trần Thị Bích T phải chịu 715.044 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Hoàn trả lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần K số tiền 3.000.000₫ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0001661 ngày 05/3/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên.

[3] Về quyền kháng cáo:

Nguyên đơn và bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

(Đã giải thích Điều 26 Luật thi hành án dân sự)

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND TP.Long Xuyên
  • - Chi cục THADS TP. Long Xuyên;
  • - Các đương sự;
  • - Văn phòng;
  • - Lưu hồ sơ./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thị Đức A

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 162/2024/DS-ST ngày 15/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 162/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: NGân hàng K kiện bà T
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger