Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH

TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 162/2024/HS-ST

Ngày: 14-8-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Văn Trường

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Trịnh Thị Kim Cúc

Bà Trần Thị Thanh Tâm

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Lam - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Nam Định.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Trung - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 160/2024/TLST-HS, ngày 26 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 160/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lê Văn C, sinh năm 1969; tại tỉnh Nam Định; số căn cước công dân: [...]; nơi đăng ký thường trú: Số G T, phường V, thành phố N, tỉnh Nam Định; nơi cư trú: Số B Điện Biên, phường C, thành phố N, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 7/10; dân tộc: Kinh; giới tính N; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn C1 và bà Hà Thị S; có vợ Phạm Thị H (đã ly hôn) và 01 con; tiền án: Bản án số 231/2018/HS-ST ngày 16-8-2018 Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xử phạt 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” (Chấp hành xong án phạt tù ngày 08-4-2020), Bản án số 292/2020/HS-ST ngày 25-9-2020 Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xử phạt 27 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” (Chấp hành xong án phạt tù ngày 26-7-2022), tiền sự: Không; nhân thân: Năm 2011 Tòa án nhân dân thành phố Nam Định xử phạt 30 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bị cáo bị tạm giữ ngày 30-5-2024, chuyển tạm giam ngày 08-6-2024. Bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố N. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ 25 phút ngày 30-5-2024, tổ công tác Công an phường T,thành phố N làm nhiệm vụ tại khu vực đầu ngõ G đường Đ, phường C, thành phố N, tỉnh Nam Định phát hiện Lê Văn C điều khiển xe máy biển kiểm soát 18B1-556.81 có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra; C thả từ tay trái xuống đất 01 túi nilong màu trắng, kích thước (1,8x2)cm, bên trong chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng (C khai là ma túy đá mua về sử dụng). Tổ công tác đã niêm phong vật chứng và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Lê Văn C. Ngoài ra, tạm giữ của C 01 chiếc xe máy biển kiểm soát 18B1-556.81.

Bản kết luận giám định số 1026/KL-KTHS ngày 04-6-2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: Mẫu rắn dạng tinh thể màu trắng trong 01 túi nilong màu trắng kích thước (1,8x2)cm, trong phong bì thư được niêm phong gửi giám định là ma tuý. Loại ma tuý: Methamphetamine. Khối lượng mẫu: 0,241 gam.

Tại Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố N, Lê Văn C khai nhận: Khoảng 12 giờ 05 phút ngày 30-5-2024, C điều khiển xe máy biển kiểm soát 18B1-556.81 đến khu vực đường P, phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định gặp một người phụ nữ (không rõ lai lịch, địa chỉ) mua 01 túi ma túy đá với giá 200.000 đồng. C cầm túi ma túy trong tay trái, điều khiển xe đi tìm chỗ sử dụng thì bị phát hiện, bắt giữ.

Cáo trạng số 164/CT-VKS-TPNĐ ngày 26-7-2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định đã truy tố bị cáo Lê Văn C về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định giữ quyền công tố và luận tội: Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tuyên bố bị cáo Lê Văn C phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Lê Văn C từ 05 năm 06 tháng tù đến 06 năm tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy số ma túy trong 01 phong bì niêm phong số 1026/GĐKTHS ngày 04-6-2024 của Phòng KTHS Công an tỉnh N.

Tại phiên tòa, bị cáo Lê Văn C thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình. Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo Lê văn C2 xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định của Cơ quan Cảnh sát điều tra công an thành phố N, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Lê Văn C không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Lời khai nhận tội của bị cáo Lê Văn C trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa hôm nay phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 30-5-2024; biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ ngày 30-5-2024; Bản kết luận giám định số 1026/KL-KTHS ngày 04-6-2024 của Phòng K Công an tỉnh N; lời khai của những người làm chứng cùng các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 12 giờ 25 phút ngày 30-5-2024, tại khu vực đầu ngõ G đường Đ, phường C, thành phố N, tỉnh Nam Định, Lê Văn C đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,241 gam Methamphetamine mục đích để sử dụng thì bị phát hiện, bắt quả tang.

Hành vi của bị cáo Lê Văn C là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự an toàn xã hội. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi tàng trữ ma túy của mình bị pháp luật nghiêm cấm nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện, khối lượng Methamphetamine bị cáo tàng trữ mục đích để sử dụng là 0,241 gam nên bị cáo đã phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Bị cáo đã bị áp dụng tình tiết tái phạm tại bản án số 292/2020/HS-ST ngày 25-9-2020 chưa được xóa án tích, phạm tội lần này do cố ý nên bị cáo phải chịu tình tiết định khung là tái phạm nguy hiểm được quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

[3] Về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Lê Văn C đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[4] Về hình phạt:

Hành vi phạm tội của bị cáo Lê Văn C là nghiêm trọng, gây ảnh hưởng xấu đối với an ninh trật tự trên địa bàn thành phố N, là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác. Vì vậy, Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, với mức hình phạt nghiêm khắc đối với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.

[5] Về hình phạt bổ sung:

Xét thấy bị cáo Lê Văn C tàng trữ ma túy nhằm sử dụng cho bản thân, bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng:

Số ma túy thu giữ của bị cáo Lê Văn C trong phong bì niêm phong số 1026/KL-KTHS là vật Nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.

[7] Về các vấn đề khác trong vụ án:

Đối với đối tượng bán ma túy cho Lê Văn C, tài liệu điều tra chưa đủ căn cứ kết luận nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N tách ra để tiếp tục điều tra, xử lý sau là đúng quy định pháp luật.

Chiếc xe máy biển kiểm soát 18B1-556.81 là tài sản của anh Lê Dương T, sinh năm 1984, trú tại 7 T, phường B, thành phố N, tỉnh Nam Định. Anh T không biết C mượn xe đi mua ma túy nên cơ quan điều tra trả lại xe cho anh T là đúng quy định của pháp luật.

[8] Về án phí:

Bị cáo Lê Văn C bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

    Tuyên bố bị cáo Lê Văn C phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

    Xử phạt bị cáo Lê Văn C 06 (sáu) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 30-5-2024.

  2. Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

    Tịch thu tiêu hủy số ma túy đã thu giữ có trong phong bì niêm phong số 1026/KL-KTHS. (Vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng số 237/YCN/2024, ngày 31 tháng 7 năm 2024).

  3. Án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Căn cứ Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

    Bị cáo Lê Văn C phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  4. Quyền kháng cáo:

    Bị cáo Lê Văn C có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án có quyền tự nguyện thi hành hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Nam Định;
  • - VKSND tỉnh Nam Định;
  • - VKSND TP. Nam Định;
  • - Chi cục THADS TP. Nam Định;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Văn Trường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 162/2024/HS-ST ngày 14/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 162/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Văn C phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger