|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. VŨNG TÀU TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 162/2024/HS-ST Ngày 07/6/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU
TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Nga
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Ngọc Thương
Ông Vũ Văn Chương
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Ngà – Thư ký của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thu H - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 6 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 150/2024/HS-ST ngày 15 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 191/2024/QĐST-HS ngày 22 tháng 5 năm 2024, đối với bị cáo:
Tăng Nhựt H1, sinh năm 1992 tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; Nơi đăng ký thường trú: số E đường C, Phường D, Thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Chỗ ở trước khi bị bắt: số A đường H, Phường D, Thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 10/12; Dân tộc: Hoa; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; Cha: Tăng P, sinh năm 1960; Mẹ: Phạm Thị Phương C, sinh năm 1961; Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 02/03/2009, Toà án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tuyên phạt 06 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999 (theo bản án số 19/2009/HSPT ngày 02/03/2009. Đã đóng án phí.
Bị cáo bị bắt ngày 22/01/2024. Hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố V (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 17 giờ 40 phút, ngày 22/01/2024, tại trước nhà số B Đ, phường T, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Đội Phòng chống ma túy và tội phạm, Đồn Biên phòng B1, Bộ chỉ huy bộ đội biên phòng tỉnh B phát hiện, bắt quả tang Tăng Nhựt H1 đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy (Methamphetamine) đồng thời thu giữ vật chứng của vụ án. Sau khi lập hồ sơ ban đầu, Đồn Biên phòng B1, Bộ chỉ huy bộ đội biên phòng tỉnh B đã chuyển hồ sơ, đối tượng cùng vật chứng đã thu giữ đến cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố V để điều tra theo thẩm quyền.
Quá trình điều tra, Tăng Nhựt H1 khai nhận: Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên vào khoảng 15 giờ 00 phút, ngày 22/01/2024, Tăng Nhựt H1 đã đi đến khu vực phường T, Thành phố V, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu gặp một người phụ nữ tên T (không rõ lai lịch) để mua 01 (một) gói ma túy đá với giá 500.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, H1 đã cất giấu số ma túy trên vào trong túi quần H1 đang mặc và đi đến trước nhà số B Đ, phường T, Thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu để chờ bạn thì bị Đội Phòng chống ma túy và tội phạm, Đồn Biên phòng B1, Bộ chỉ huy bộ đội biên phòng tỉnh B phát hiện, bắt quả tang đồng thời thu giữ vật chứng như trên.
Lời khai của Tăng Nhựt H1 phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với lời khai của người chứng kiến là anh Nguyễn Văn B và phù hợp với chứng cứ thu thập được.
Bản kết luận giám định số: 138/KL-KTHS-MT của Phòng K (PC09) Công an tỉnh B, kết luận: Một phong bì màu trắng, có hình dấu của Đồn Biên phòng B1 - Bộ Chỉ hủy bộ đôi biên phòng tỉnh B, bên trong có 01 (một) gói nylon hàn kín chứa chất kết tinh không màu (kí hiệu mẫu A). Mẫu A có khối lượng 0,4408 gam, là ma túy, loại Methamphetamine.
Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật, xử lý vật chứng:
Cơ quan chức năng tiến hành thu giữ vật chứng, tài sản gồm: 01 (một) gói nylon màu trắng được hàn kín, bên trong chứa chất kết tinh không màu, qua giám định có khối lượng 0,4408 gam, là ma túy, loại Methamphetamine. Sau giám định Phòng K Công an tỉnh B hoàn lại 01 (một) phong bì màu trắng dán niêm phong có hình con dấu của Phòng K - Công an tỉnh B và hình con dấu B1, Bộ chỉ huy Bộ đội biên phòng tỉnh B tên Nguyễn Văn T1; Hoàng Thị Lan M; Đỗ Văn T2; Tăng Nhựt H1; Trương Hoàng A; Nguyễn Văn B.
Hiện chuyển Chi cục Thi hành án Dân sự Thành phố Vũng Tàu quản lý, chờ xử lý.
Bản cáo trạng số 159/CT-VKSTPVT ngày 14/5/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu đã truy tố Tăng Nhựt H1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi bị cáo thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo mức án từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù; Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo;
- Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy là tang vật trong vụ án.
Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng và ý kiến luận tội của Viện kiểm sát, công nhận Viện kiểm sát truy tố đúng tội danh và không có ý kiến gì tự bào chữa cho hành vi phạm tội của mình, chỉ xin HĐXX xem xét giảm nhẹ một phần mức án.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Đối chiếu lời khai nhận của bị cáo và các chứng cứ, tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án là hoàn toàn phù hợp, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định:
Vào khoảng 17 giờ 40 phút, ngày 22/01/2024 tại trước nhà số B, phường T, Thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Đội Phòng chống ma túy và tội phạm, Đồn Biên phòng B1, Bộ chỉ huy bộ đội biên phòng tỉnh B phát hiện, bắt quả tang Tăng Nhựt H1 đang có hành vi tàng trữ trái phép 0,4408 gam, là chất ma túy, loại Methamphetamine, H1 tàng trữ số ma túy này nhằm mục đích sử dụng cho bản thân.
Như vậy, hành vi Tăng Nhựt H1 thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Viện kiểm sát truy tố bị cáo theo tội danh, điều luật như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
[3] Xét tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội bị cáo đã gây ra là nguy hiểm cho xã hội; xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy được pháp luật hình sự bảo vệ; là nguyên nhân dẫn đến nhiều loại tệ nạn xã hội và tội phạm khác, ảnh hưởng xấu đến trật tự an ninh tại địa phương. Bị cáo là người đã trưởng thành có đầy đủ năng lực hành vi, là người sử dụng ma túy nên biết việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Bị cáo có nhân thân xấu, ngày 02/03/2009 bị Toà án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tuyên phạt 06 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999 (theo bản án số 19/2009/HSPT ngày 02/03/2009), nhưng sau khi ra tù không lấy đó làm bài học để tu sửa bản thân mà tiếp tục phạm tội. Vì vậy, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, áp dụng hình phạt tù có thời hạn tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm giáo dục cải tạo riêng đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
[4] Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xem xét giảm cho bị cáo một phần hình phạt.
[5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có thu nhập ổn định nên không có khả năng thi hành án phạt bổ sung là hình phạt tiền. Do đó, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng:
Số ma túy còn lại sau giám định (chứa trong lại 01 (một) phong bì màu trắng dán niêm phong có hình con dấu của Phòng K - Công an tỉnh B và hình con dấu B1, Bộ chỉ huy Bộ đội biên phòng tỉnh B cùng chữ ký xác nhận tên tên Nguyễn Văn T1; Hoàng Thị Lan M; Đỗ Văn T2; Tăng Nhựt H1; Trương Hoàng A; Nguyễn Văn B) là chất nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.
[6] Đối với đối tượng tên T (không rõ nhân thân, lai lịch) là người bán ma túy cho H1, đề nghị cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố V tiếp tục điều tra, xác minh để xử lý theo quy định pháp luật.
[7] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố: Bị cáo Tăng Nhựt H1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
-
Căn cứ: Điểm c Khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 50 Bộ luật hình sự:
- - Xử phạt: Bị cáo Tăng Nhựt H1: 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 22 tháng 01 năm 2024.
-
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- - Tịch thu tiêu hủy: Số ma túy còn lại sau giám định (chứa trong 02 gói niêm phong số 431/1 và 431/2 ngày 17/10/2023 của Phòng K - Công an tỉnh B).
- Vật chứng nêu trên Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vũng Tàu quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 210/BB - CCTHADS ngày 22/5/2024.
- Án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày tuyên án, để yêu cầu Toà án cấp trên xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Thu Nga |
Bản án số 162/2024/HS-ST ngày 07/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 162/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tăng Nhựt Hưng
