Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CỦ CHI

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 162/2024/HSST

Ngày: 01/7/2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Diệp Xuân Hà.

Các Hội thẩm nhân dân:

  • Bà Nguyễn Phước Trinh
  • Bà Phạm Thị Ngọc

- Thư ký phiên tòa: Bà Bế Thị An – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh: Ông Lê Văn Chung – Kiểm sát viên.

Trong ngày 27/6/2024 và 01/7/2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 127/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 139/2024/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 5 năm 2024 đối với:

Bị cáo: Họ và tên Võ Thành D; nơi sinh: Thành phố Hồ Chí Minh; Hộ khẩu thường trú: 50/4 Đường E, tổ E, ấp Đ, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Làm mướn; trình độ văn hóa: 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; có cha: Ông Võ Văn P, sinh năm 1940 (chết); có mẹ: Trần Thị R, sinh năm 1948; anh, chị, em ruột: 05 người (kể cả bị cáo); vợ: Nguyễn Thị N, sinh năm 1972; con: 02 người (lớn nhất sinh năm 1995, nhỏ nhất sinh năm 1999); tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Người bị hại: Ông Nguyễn Quốc N1, sinh năm 1991; địa chỉ: Số B T, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (chết).

Đại diện hợp pháp của người bị hại:

  • Bà Trần Thị Như Ý (vợ bị hại); địa chỉ: Số B T, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (xét xử có mặt, tuyên án vắng mặt).
  • Ông Nguyễn Văn N2 (cha bị hại) và bà Phan Thị G (mẹ bị hại); địa chỉ: Số B T, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền của ông N2 và bà G là: Bà Trần Thị Như Ý; địa chỉ: Số B T, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (xét xử có mặt, tuyên án vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 19 giờ 27 phút ngày 29/7/2023, Võ Thành D điều khiển xe gắn máy biển số 51Y5-2840 chở vợ là Nguyễn Thị N ngồi phía sau, lưu thông trên đường T hướng từ Tỉnh lộ 15 đi Quốc lộ B đến địa điểm thuộc ấp Đ, xã T, C chuyển hướng sang trái đường không có tín hiệu, không đảm bảo an toàn nên xảy ra va chạm với xe mô tô biển số 59Y2-451.05 do ông Nguyễn Quốc N1 điều khiển, lưu thông theo chiều ngược lại, hậu quả làm ông N1 chết tại Bệnh viện Đ.

Kết quả khám nghiệm hiện trường nơi xảy ra tai nạn là đường Tỉnh lộ 7 thuộc ấp Đ, xã T, huyện C. Tại vị trí tai nạn là đoạn đường thẳng được trải nhựa bằng phẳng, có chiều rộng 9m60cm gồm 02 chiều xe lưu thông được phân cách bằng vạch sơn phân tuyến màu vàng không liên tục chia mặt đường ở mỗi chiều rộng 4m80cm, có hệ thống đèn chiếu sáng công cộng. Không có biển báo giao thông ở cả hai hướng trong khoảng cách trước và sau hiện trường 100m.

Kết luận giám định pháp y về tử thi số Bản kết luận giám định pháp y tử thi số 8374-23/KL-KTHS ngày 25/9/2023, kết luận nguyên nhân chết do: Chấn thương sọ não. Trong máu tìm thấy cồn, nồng độ 174mg/100ml.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện C, Võ Thành D đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.

Vật chứng vụ án:

  • Xe ô tô tải biển số 59Y2-451.05;
  • Xe ô tô tải biển số 51Y5-2840;

Qua xác minh, xe có giấy tờ hợp pháp nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C đã trả lại cho chủ sỡ hữu.

Về dân sự: Bị cáo Võ Thành D đã hỗ trợ cho gia đình của bị hại 3.000.000 đồng, gia đình bị hại có đơn xin bãi nại đề nghị không xử lý hình sự đối với Võ Thành D, không yêu cầu bồi thường thiệt hại. Về dân đã được giải quyết xong.

Tại bản cáo trạng số 108/CT-VKS.CC ngày 19/4/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đã truy tố bị cáo Võ Thành D về tội “Vi phạm qui định về tham gia giao thông đường bộ” theo qui định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa:

  • Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố.
  • Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo đã rất ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo sau khi bị tai nại, đã thực hiện phẫu thuật hai lần đầu gối, giờ đi lại rất khó khăn, bị cáo có con Võ Thị Hoài T, sinh năm 1999, bị bệnh bại não, hiện đang hưởng trợ cấp hàng tháng diện người khuyết tật đặc biệt, kinh tế hết sức khó khăn, bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo có điều kiện chăm sóc vợ, con.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi vẫn giữ nguyên quan điểm như cáo trạng đã truy tố và đề nghị áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Võ Thành D từ 03 (ba) năm đến 04 (bốn) năm tù.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân huyện C, kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo, đại diện gia đình bị hại, bị đơn dân sự cũng không có bất cứ ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tố tụng cũng như người tiến hành tố tụng. Vì vậy có cơ sở xác định các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Về tội danh: Xét lời khai nhận tội của bị cáo Võ Thành D tại phiên tòa là phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra; phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, biên bản khám phương tiện, biên bản khám nghiệm tử thi, kết luận pháp y tử thi, kết luận giám định dấu vết trên các phương tiện và phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy, có đủ cơ sở để xác định vào khoảng 19 giờ 27 phút ngày 29/7/2023 tại đường Tỉnh lộ 7 thuộc ấp Đ, xã T, C, Thành phố Hồ Chí Minh xảy ra vụ tai nạn giao thông do Võ Thành D điều khiển xe gắn máy biển số 51Y5-2840 trên 50cc, trong máu có nồng độ cồn 18,9 mg/100ml, chuyển hướng sang trái đường không có tín hiệu, không nhường đường cho xe ngược chiều, không đảm bảo an toàn nên xảy ra tai nạn. Hành vi của ông D vi phạm khoản 9, Điều 8 và khoản 1, 2 Điều 15 Luật giao thông đường bộ, hậu quả làm ông N1 chết tại Bệnh viện Đ, nguyên nhân chết là do chấn thương sọ não, thời điểm bị cáo Võ Thành D gây ra tai nạn, bị cáo không có giấy phép lái xe (A1). Hành vi của Võ Thành D đã cấu thành tội phạm “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015, sử đổi, bổ sung năm 2017.

Do bất cẩn nên bị cáo gây tai nạn làm 01 người chết, tham gia giao thông chưa được cấp bằng lái xe, ngoài ra trong máu bị cáo khi tham gia giao thông còn có nồng độ cồn. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến an toàn công cộng, xâm phạm đến tính mạng của người khác. Đối chiếu với quy định của pháp luật, có đủ cơ sở để kết luận bị cáo đã phạm tội “Vi phạm qui định về tham gia giao thông đường bộ”, tội phạm được qui định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[3] Về tình tiết giảm nhẹ:

  • Bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ là người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại được quy định tại b khoản 1 Điều 51 và thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
  • Bị cáo được gia đình bị hại làm đơn bãi nại, đề nghị miễn trách nhiệm hình sự đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

[4] Về tình tiết tăng nặng: Không có.

[5] Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là vô ý, nhưng gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến an toàn công cộng, xâm phạm đến tính mạng của người khác. Bị cáo nhận thức được là khi tham gia giao thông phải có giấy phép lái xe, khi chuyển hướng sang trái đường phải có tín hiệu, phải nhường đường cho xe ngược chiều. Tuy nhiên, do bất cẩn, thiếu quan sát, chủ quan mà gây ra hậu quả chết người, bên cạnh đó, trong máu bị cáo còn có nồng độ cồn, không đảm bảo an toàn nên xảy ra tai nạn khi tham gia giao thông. Vì vậy, cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn mới có tác dụng răn đe đối với bị cáo và phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, X thấy bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, không có tình tiết tăng nặng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1 Điều 51 và tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, hoàn cảnh gia đình của bị cáo là khó khăn, có con đang bị bại não, mức độ khuyết tật đặc biệt nặng, ngoài ra người bị hại điều khiển xe mà trong máu có nồng độ cồn vượt quá mức cho phép, vi phạm khoản 8 Điều 8 Luật giao thông đường bộ năm 2008 là người bị hại có lỗi phụ. Do đó, Hội đồng xét xử, xét thấy cần áp dụng mức hình phạt phù hợp, nhằm thể hiện sự khoan hồng, nhưng không mất đi sự nghiêm khắc của pháp luật.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Sau khi tai nạn xảy ra, bị cáo Võ Thành D đã hỗ trợ cho gia đình của bị hại 3.000.000 đồng tiền cúng điếu, gia đình bị hại có đơn xin bãi nại đề nghị không xử lý hình sự đối với Võ Thành D, không yêu cầu bồi thường thiệt hại, đối với bị cáo. Vì vậy, trong vụ án này Hội đồng xét xử không phải xem xét giải quyết về trách nhiệm dân sự.

[7] Về xử lý vật chứng:

  • Xe mô tô tải biển số 51Y5-2840 bị cáo điều khiển và gây tai nạn, sau khi kết thúc điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã trả lại cho bị. Hội đồng xét xử không xem xét.
  • Xe mô tô biển số 59Y2-451.05 của bị hại, sau khi kết thúc điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã giao trả lại cho gia đình của bị hại. Hội đồng xét xử không xem xét.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Võ Thành D đã phạm tội “Vi phạm qui định về tham gia giao thông đường bộ”.

Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260, các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017).

Căn cứ Luật phí và lệ phí năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

[1] Xử phạt: V (ba) năm tù giam, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo thi hành án.

[2] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[3] Trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án, bị cáo, người đại diện hợp pháp của người bị hại có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Viện kiểm sát cùng cấp và Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp được quyền kháng nghị theo quy định.

Nơi nhận:

  • - TAND Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - VKSND Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Sở Tư pháp Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - VKSND huyện Củ Chi;
  • - Chi cục THADS huyện Củ Chi;
  • - Bị cáo;
  • - Đại diện hợp pháp của người bị hại;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Diệp Xuân Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 162/2024/HSST ngày 01/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về vi phạm qui định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 162/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm qui định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 01/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vi phạm giao thông đường bộ
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger