|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 162/2025/HSST Ngày: 21-3-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – TP. HỒ CHÍ MINH
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Viết Nghiêm
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Phạm Văn Phước
- Ông Phạm Quốc Hưng
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Hằng Nga – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hạnh – Kiểm sát viên
Ngày 21 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 105/2025/HSST ngày 25 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 147/2025/QĐXXST-HS ngày 07/3/2025 đối với các bị cáo:
1. Lê Văn S, sinh ngày 20 tháng 9 năm 1985, nơi sinh: tỉnh Bến Tre; Giới tính: Nam; Đăng ký Hộ khẩu thường trú: 36/3 Ấp A, xã A, huyện T, tỉnh Bến Tre; Chỗ ở: Không nơi cư trú nhất định; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 06/12; Nghề nghiệp: không; con ông: Võ Văn H và bà: Lê Thị G, sinh năm 1951; Tiền án: Ngày 28/4/2016, bị Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 10 năm tù về tội Cướp tài sản. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 18/01/2023; Tiền sự: không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/01/2024.
2. Thạch Đen, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1989; nơi sinh: tỉnh Trà Vinh; Giới tính: Nam; Đăng ký Hộ khẩu thường trú: Ấp C, xã Đ, huyện D, tỉnh Trà Vinh; Chỗ ở: Không nơi cư trú nhất định; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Khơ me; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 00/12; Nghề nghiệp: làm thuê; con ông: S và bà: Thạch Thị N, sinh năm 1962; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ 14/01/2024.
Các bị cáo có mặt
- Người bào chữa cho bị cáo Thạch Đ: ông Trần Minh H1, Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước Thành phố H (có mặt).
Bị hại: Chị Nghiêm Thúy P, sinh năm 1997.
Địa chỉ: Số D Đường V, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- - Anh Trịnh Thanh Q, sinh năm 1991.
- - Anh Lâm Phi T, sinh năm 1980.
- - Chị Vũ Khánh N1, sinh năm 2003.
Địa chỉ: F Ấp G, xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp G, xã Đ, huyện T, tỉnh Trà Vinh (vắng mặt).
Địa chỉ: 2 Đường L, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lê Văn S và Thạch Đ quen biết nhau từ trước. Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 13/01/2024, S gọi điện thoại rủ Thạch Đ đi trộm gà đá để bán lấy tiền tiêu xài. S điều khiển xe mô tô biển số 60B7-772.11 chở Đ đi qua nhiều tuyến đường trên địa bàn thành phố T để tìm gà của người khác trộm cắp. Sau đó, do không trộm được gà nên S rủ Đ đi tìm tài sản của người khác sơ hở thì trộm cắp Đen đồng ý. Đến khoảng 00 giờ 30 phút ngày 14/01/2024, S chở Đ đến cầu P thuộc khu công nghệ cao, Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh thì S phát hiện chị Nghiêm Thúy P điều khiển xe Vespa biển số 69L1-176.41 lưu thông phía chiều ngược lại, nên S vòng xe lại chạy đuổi theo để cướp xe của chị P. Khi xe xuống dốc cầu thì S điều khiển xe vượt lên phía trước xe của chị P và ép xe của chị P. Chị P hoảng sợ nên thắng xe lại gấp thì chị P và xe bị ngã xuống đường. S dừng xe lại và xuống xe chạy lại chỗ chị P thì chị P bỏ xe rồi lùi lại phía sau, Đ đứng giữ xe cho S và cảnh giới. Chị P tri hô “cướp, cướp" thì S đe dọa đánh chị P và dùng tay tát chị P nhưng không trúng do chị P tránh được. S dựng xe của chị P lên rồi điều khiển xe hướng về khu công nghệ cao, Đ điều khiển xe mô tô của S biển số 60B7-772.11 chạy theo phía sau S. Lúc này, có chị Vũ Khánh N1 điều khiển xe mô tô đi ngang qua thấy S và Đ cướp xe của chị P nên điều khiển xe mô tô chở chị P đuổi theo S và Đ. Chị P dùng điện thoại gọi lực lượng Công an thì được hướng dẫn đuổi theo S và Đ, Công an sẽ chặn S và Đ trên tuyến đường tẩu thoát. Chị N1 và chị P đuổi theo trên tuyến đường từ cổng chào khu Công nghệ cao đến Xa lộ H ra cầu S, tiếp tục đuổi theo đến trước số nhà B đường T, Phường A, Quận D thì S và Đ tấp xe vào 01 xe tải ven đường ẩn nấp. Lúc này, lược lượng Công an và dân quân đến bắt được Thạch Đ, còn S điều khiển xe vừa cướp được của chị P bỏ chạy thì bị Cảnh sát giao thông Công an Q1 đuổi theo bắt giữ S cùng vật chứng trước nhà số A Đường C, Phường D, Quận H, chuyển giao S và Đ đến Công an thành phố T giải quyết theo thẩm quyền. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Lê Văn S và Thạch Đ thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên (BL 261-74).
Kết quả định giá của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng Hình sự thành phố T số: 138 – KV2/KLĐG-HĐĐGTS ngày 17/6/2024 kết luận: 01 xe mô tô hiệu Piaggio Vespa 69L1-176.41 có giá 57.667.000 đồng (BL 38).
Vật chứng của vụ án:
- Thu giữ của Thạch Đ:
- 01 (một) nón bảo hiểm màu vàng, trên nón có in chữ Andes màu đỏ.
- 01 ( một) nón kết màu trắng trên vành mũ nón có dòng chữ màu vàng Back.
- 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo màu xanh-đen có số IMEI 1:8680380050154856, số IMEI 2:868038050154849 bên trong có sim số 0399069439, mật khẩu: 732128.
- 01 (một) quần jean ống dài màu xanh,
- 01 (một) áo sơ mi dài tay có hoa văn hình lông vũ, màu trắng, xám, đỏ.
- 01(một) đôi dép màu đen, quai màu sọc trắng-đen có dòng chữ ASIASPORTS màu đen.
- 01 (một) bóp da màu đen trên bóp có in chữ Manchester United.
- 01 (một) khẩu trang màu đen.
- 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, gắn máy số 063565, biển 8431-558.57 mang tên Lâm Phi T.
- 01 (một) biển số xe: 54K5-2052.
- 01 (một) nón kết rằn ri trên nón có ghi chữ U.S.ARMY.
- 01 (một) nón kết màu đen trên nón có ghi chữ VAECO.
- 01 (một) nón kết màu đen trên nón có ghi chữ ARMANI EXCHANGE.
- 01 (một) quần thun dài màu đen sọc trắng.
- 01 (một) áo sơ mi dài tay màu nâu.
- 01 (một) áo thun ngắn tay màu nâu, vai áo màu trắng, trên ngực áo có thêu chữ Packhome.
- 01 (một) áo sơ mi dài tay màu đen có in hình họa tiết màu trắng, cổ áo có ghi chữ Emilio.
- 01 (một) quần jean dài màu xanh.
- Thu giữ của Lê Văn S:
- 01 (một) thẻ CCCD số:[...] mang tên Lê Văn S.
- 01 (một) xe gắn máy hiệu HONDA Air Blade màu cam-đen biển số: 60B7-77211.
- 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 6 Plus, đã qua sử dụng, số IMEI: 355389070948508.
Đối với 01 (một) xe mô tô hiệu Piaggio Vespa biển số 69L1-176.41, số khung: RP8M82511KV04208; số máy: M8EM5064862 Cơ quan cảnh sát điều tra đã giao trả cho chủ sở hữu là chị Nghiêm Thúy P (BL 147).
Kết quả xác minh, xe mô tô biển số 60B7-772.11 do anh Trịnh Thanh Q đứng tên chủ sở hữu có số khung RLHJA3929MY074032, số máy JA39E2191326. Hiện tại, anh Q vẫn đang sử dụng xe trên (BL 83). S khai mua xe mô tô HONDA Air Blade màu cam-đen biển số 60B7-77211 (biển số giả) có số máy JF27E0294390 của 01 người thanh niên ngoài xã hội nhưng chưa làm thủ tục sang tên. Qua xác minh, xe mô tô có số máy JF27E0294390 không có trong cơ sở dữ liệu đăng ký quản lý phương tiện giao thông cơ giới đường bộ.
Giấy chứng nhận xe biển số 84B1-558.57 mang tên Lâm Phi T. Anh T khai sở hữu xe mô tô biển số 84B1-558.57 và đã bán lại cho một người đàn ông không nhớ rõ họ tên vào năm 2020. Khi giao xe cho người mua thì anh T giao cùng giấy chứng nhận xe trên. Thạch Đ khai nhặt được giấy chứng nhận xe trên ngoài đường nên cất giữ.
Về trách nhiệm dân sự: Chị Nghiêm T1 phụng đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì thêm (BL 72, 147).
Cáo trạng số 561/CT-VKSTPTĐ ngày 14/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố Lê Văn S về Tội “Cướp tài sản” theo điểm đ, h khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, truy tố Thạch Đ về Tội “Cướp tài sản” theo điểm đ khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức giữ nguyên quan điểm đã truy tố và đề nghị xử phạt bị cáo Lê Văn S từ 08 năm đến 09 năm tù. Xử phạt bị cáo Thạch Đ từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù.
- Các bị cáo Lê Văn S, Thạch Đ thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng đã nêu và có thái độ khai báo thành khẩn, thể hiện sự ăn năn hối hận. Trong lời nói cuối cùng các bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
- Người bào chữa cho các bị cáo Thạch Đ trình bày: thống nhất với tội danh và điều khoản của Bộ luật Hình sự mà đại diện Viện kiểm sát đã truy tố đối với bị cáo Thạch Đ. Tuy nhiên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự sau: trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, người phạm tội tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm, bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, hành vi của bị cáo nhất thời, vai trò mờ nhạt. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm s, t khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 54 xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1]. Các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Cơ quan cảnh sát Điều tra - Công an thành phố T, của Kiểm sát viên và Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức trong quá trình điều tra truy tố là thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; Các bị cáo, người bị hại và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về tội danh và khung hình phạt: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo Lê Văn S và Thạch Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã nêu, lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nhau và phù hợp với lời khai của bị hại; Biên bản đối chất; Biên bản nhận dạng; Bản ảnh; Kết luận định giá tài sản số 138-KV2/KLĐG-HĐĐGTS ngày 17/6/2024 của Hội đồng định giá Ủy ban nhân dân thành phố T cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đã có đủ cơ sở kết luận: Vào lúc 00 giờ 30 phút ngày 14/01/2024, tại Cầu P, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, bị cáo Lê Văn S và Thạch Đ đã có hành vi đánh và đe dọa chị Nghiêm Thúy P để cướp xe mô tô hiệu Piaggio Vespa biển số 69L1-176.41 có giá trị còn lại là 57.667.000 đồng. Hành vi nêu trên của bị cáo Thạch Đ, đã đủ yếu tố cấu thành Tội “Cướp tài sản” được quy định tại điểm đ Khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Lê Văn S đã bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng, chưa được xóa án tích mà nay lại thực hiện hành vi phạm tội mới do cố ý nên lần phạm tội này thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm” dùng làm tình tiết định khung hình phạt. Do đó Lê Văn S đã phạm tội “Cướp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm đ, h khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Các bị cáo đã dùng vũ lực làm cho chị P hoảng loạn lâm vào tình trạng không thể chống cự được để lấy tài sản là xe mô tô hiệu Piaggio Vespa chị P. Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản và quyền bất khả xâm phạm về tính mạng, sức khỏe của chị P. Các bị cáo là người đã có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự và biết việc dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực để chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật hình sự nhưng các bị cáo vì mục đích muốn có tiền tiêu xài cá nhân mà vẫn thực hiện nên các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Từ các phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử thấy Bản cáo trạng số 561/CT-VKSTPTĐ ngày 14/11/2024 truy tố các bị cáo Lê Văn S và Thạch Đ là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử sẽ căn cứ vào vai trò của từng bị cáo trong vụ án, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo để có mức hình phạt tương xứng.
[3]. Về vai trò của các bị cáo trong vụ án: Trong vụ án này, bị cáo Thạch Đ là đồng phạm giản đơn, bị cáo được bị cáo Lê Văn S khởi xướng rủ rê và chở đi tìm tài sản sơ hở của người dân để chiếm đoạt, khi phát hiện mục tiêu bị cáo Thạch Đ đứng cảnh giới, S xuống trực tiếp thực hiện hành vi đánh và đe dọa và lấy tài sản của bị hại. Do đó, cả hai bị cáo đều cùng nhau thực hiện tội phạm nên cả hai bị cáo đều có vai trò, trách nhiệm như nhau.
[4]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[4.1]. Về tình tiết tăng nặng: các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
[4.2]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tại Bản cáo trạng và bản luận tội, Đại diện diện Viện kiểm sát đề nghị cho các bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ là “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Người bào chữa cho bị cáo Thạch Đ đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ; trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, người phạm tội tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm, bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, hành vi của bị cáo nhất thời, vai trò mờ nhạt. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm s, t khoản 1 khoản 2 Điều 51.
Hội đồng xét xử nhận thấy tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, cả hai bị cáo đã khai báo thành khẩn không gian dối điều gì, nhận tội, có thái độ ăn năn hối lỗi nên cả 02 bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” này là có căn cứ chấp nhận.
[4.3]. Về mức hình phạt:
Tại phiên tòa, trong bản luận tội Đại diện viện kiểm sát đề nghị: áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 168, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Thạch Đ từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù.
Người bào chữa cho bị cáo Thạch Đ đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng. Xét tại thời điểm thực hiện hành vi pạm tội bị cáo chưa có tiền án, tiền sự bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của Vị đại điện Viện kiểm sát nhân dân thành phố T là có phần phú hợp. Lời đề nghị của Người bào chữa cho bị cáo Thạch Đ là chưa phù hợp.
Đối với bị cáo Lê Văn S, đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng điểm đ, h khoản 2 Điều 168, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Lê Văn S từ 08 năm đến 09 năm tù. Hội đồng xét xử nhận thấy bị cáo S về nhân thân đã bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng, chưa được xóa án tích mà nay lại thực hiện hành vi phạm tội mới do cố ý nên lần phạm tội này thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm” dùng làm tình tiết định khung hình phạt. Bị cáo có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Bị cáo là người chủ động rủ rê người khác cùng phạm tội và cũng là người trực tiếp thực hiện hành vi phạm tôi nên mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo không những để đảm bảo tác dụng cải tạo giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của Vị đại điện Viện kiểm sát nhân dân thành phố T là có phần phù hợp.
[5]. Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, bị hại vắng mặt nhưng tại quá trình Điều tra chị Nghiêm T1 phụng đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử ghi nhận không xem xét, giải quyết.
[6]. Đối với vật chứng của vụ án: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự;
+ 01 (một) nón bảo hiểm màu vàng, trên nón có in chữ Andes màu đỏ; 01 ( một) nón kết màu trắng trên vành mũ nón có dòng chữ màu vàng Back; 01 (một) quần jean ống dài màu xanh; 01 (một) áo sơ mi dài tay có hoa văn hình lông vũ, màu trắng, xám, đỏ; 01(một) đôi dép màu đen, quai màu sọc trắng-đen có dòng chữ ASIASPORTS màu đen; 01 (một) bóp da màu đen trên bóp có in chữ Manchester United; 01 (một) khẩu trang màu đen; 01 (một) nón kết rằn ri trên nón có ghi chữ U.S.ARMY; 01 (một) nón kết màu đen trên nón có ghi chữ VAECO; 01 (một) nón kết màu đen trên nón có ghi chữ ARMANI EXCHANGE; 01 (một) quần thun dài màu đen sọc trắng; 01 (một) áo sơ mi dài tay màu nâu; 01 (một) áo thun ngắn tay màu nâu, vai áo màu trắng, trên ngực áo có thêu chữ Packhome; 01 (một) áo sơ mi dài tay màu đen có in hình họa tiết màu trắng, cổ áo có ghi chữ Emilio; 01 (một) quần jean dài màu xanh không còn giá trị sử dụng nghĩ nên tịch thu tiêu hủy.
+ 01 (một) Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, gắn máy số 063565, biển 8431-558.57 qua xác minh giấy chứng nhận trên là của anh Lâm Phi T, nghĩ nên giao trả cho anh Lâm Phi T.
+ 01 (một) biển số xe: 54K5-2052, qua phiếu trả lời xác minh xe không có trong cơ sở dữ liệu đăng ký phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, nghĩ nên tịch thu tiêu hủy.
+ 01 (một) thẻ CCCD số: [...] mang tên Lê Văn S (Lưu trong hồ sơ vụ án).
+ 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo màu xanh-đen; 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 6 Plus các bị cáo đã dùng để liên lạc rủ nhau đi thực hiện hành vi phạm tội, nghĩ nên tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước.
+ 01 (một) xe gắn máy hiệu HONDA Air Blade màu cam-đen biển số: 60B7-77211. Nghĩ nên giao Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức thông báo tìm chủ sở hữu trong thời gian 04 tháng, hết thời gian thông báo nếu không có chủ sở hữu đến nhận thì tịch thu sung quỹ Nhà nước.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, tuyên bố bị cáo Thạch Đ phạm Tội “Cướp tài sản”.
1.1. Căn cứ vào điểm đ, h khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, tuyên bố bị cáo Lê Văn S phạm Tội “Cướp tài sản”.
2.1. Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 168; Điều 17; Điều 58; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Thạch Đ 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính ngày 14/01/2024
2.2. Áp dụng điểm đ, h khoản 2 Điều 168; Điều 17; Điều 58; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt: Lê Văn S 09 (chín) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14/01/2024.
3. Về trách nhiệm dân sự:
Ghi nhận bị hại chị Nghiêm Thúy P không có yêu cầu bị cáo bồi thường trách nhiệm dân sự.
4. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo màu xanh-đen; 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 6 Plus.
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) nón bảo hiểm màu vàng, trên nón có in chữ Andes màu đỏ; 01 ( một) nón kết màu trắng trên vành mũ nón có dòng chữ màu vàng Back; 01 (một) quần jean ống dài màu xanh; 01 (một) áo sơ mi dài tay có hoa văn hình lông vũ, màu trắng, xám, đỏ; 01(một) đôi dép màu đen, quai màu sọc trắng-đen có dòng chữ ASIASPORTS màu đen; 01 (một) bóp da màu đen trên bóp có in chữ Manchester United; 01 (một) khẩu trang màu đen; 01 (một) nón kết rằn ri trên nón có ghi chữ U.S.ARMY; 01 (một) nón kết màu đen trên nón có ghi chữ VAECO; 01 (một) nón kết màu đen trên nón có ghi chữ ARMANI EXCHANGE; 01 (một) quần thun dài màu đen sọc trắng; 01 (một) áo sơ mi dài tay màu nâu; 01 (một) áo thun ngắn tay màu nâu, vai áo màu trắng, trên ngực áo có thêu chữ Packhome; 01 (một) áo sơ mi dày tay màu đen có in hình họa tiết màu trắng, cổ áo có ghi chữ Emilio; 01 (một) quần jean dài màu xanh, 01 (một) biển số xe: 54K5-2052.
- Giao trả: 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, gắn máy số 063565 cho anh Lâm Phi T.
- Giao Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức thông báo tìm chủ sở hữu xe gắn máy hiệu HONDA Air Blade màu cam-đen biển số: 60B7-77211trong thời gian 04 tháng, hết thời gian thông báo nếu không có chủ sở hữu đến nhận thì tịch thu sung quỹ Nhà nước.
- ( Tài sản tịch thu sung quỹ Nhà nước, tịch thu tiêu hủy; giao trả; giao Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức thông báo tìm chủ sở hữu được ghi trong Phiếu nhập kho vật chứng số NK25/082C ngày 20/11/2024 của Công an thành phố T).
- 01 (một) thẻ CCCD số: [...] mang tên Lê Văn S (Lưu trong hồ sơ vụ án).
5. Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án;
Buộc mỗi bị cáo Lê Văn S và Thạch Đ phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, các bị cáo, người bào chữa cho bị cáo Thạch Đ được quyền kháng cáo bản án. Những người vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Bùi Viết Nghiêm |
Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, các bị cáo, người bào chữa cho bị cáo Thạch Đ được quyền kháng cáo bản án. Những người vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án.
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Bản án số 162/2025/HSST ngày 21/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về cướp tài sản
- Số bản án: 162/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Cướp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cướp tài sản
