|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc |
Bản án số: 162/2025/HS-ST
Ngày: 30/5/2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Linh Dũng
Các Hội thẩm nhân dân:
- - Ông Lê Ngọc Lâm;
- - Ông Nguyễn Hoàng Tú.
Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Bá Thứ – Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Lữ Phương Đại - Kiểm sát viên.
Trong các ngày từ ngày 27 tháng 5 đến ngày 30 tháng 5 năm 2025, Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 101/2025/TLST-HS ngày 27 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 140/2025/QĐXX-HS ngày 23 tháng 4 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 137/2025/HSST-QĐ ngày 14/5/2025 đối với các bị cáo:
Huỳnh Tuấn K, sinh năm: 1986 tại: Thành phố Hồ Chí Minh; Hộ khẩu thường trú: Nhà số A T, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi ở hiện tại: Không có nơi ở ổn định; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 06/12; Nghề nghiệp: Không có; Con ông: Huỳnh Văn T, sinh năm 1963 và bà Huỳnh Lệ C (chết); Vợ: Trần Cẩm H (chết); Con: có 01 con, sinh năm 2004; Tiền án, tiền sự: Không có.
Nhân thân:
- + Ngày 12/8/2014 tại Bản án số 103/2014/HS-ST, Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 09 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”.
- + Ngày 27/7/2015, Ủy ban nhân dân xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc do sử dụng trái phép chất ma túy.
- + Ngày 03/3/2016 tại Bản án số 49/2016/HSST Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản".
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 15/3/2024 đến nay; bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Nguyễn Hoàng N, sinh năm: 1970 tại: Thành phố Hồ Chí Minh; Hộ khẩu thường trú: Nhà số B Đ, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi ở hiện tại: Nhà số B Đ, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 04/12; Nghề nghiệp: Không có; Con ông: Quách Tường Q (chết) và bà Nguyễn Thị T1 (sinh năm 1933); Vợ: Nguyễn Thị Ngọc L, sinh năm 1980; Con: có 01 con, sinh năm 1999; Tiền án, tiền sự: Không có.
Nhân thân:
- - Ngày 04/02/1994, Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 24 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản công dân”, theo Bản án số 34/HSST, thời hạn tù tính từ ngày 20/3/1993, chấp hành xong hình phạt tù ngày 20/10/1995. Ngày 10/12/2024, Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thạnh có công văn trả lời số 7089/CCTHADS chưa thụ lý thi hành đối với bản án này.
- - Ngày 03/7/1996, Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 24 tháng tù giam về tội “Cướp giật tài sản công dân”, theo Bản án số 283/HSST, thời hạn tù tính từ ngày 22/01/1996, chấp hành xong hình phạt tù ngày 22/01/1998 và đã đóng án phí hình sự sơ thẩm.
- - Ngày 07/3/1998, Ủy ban nhân dân Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết bắt buộc đi lao động tập trung 18 tháng về hành vi cướp giật tài sản.
- - Ngày 23/11/2001, Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm 6 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”, theo Bản án số 378/HSST.
- - Ngày 21/12/2012, Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”, theo Bản án số 244/2012/HSST.
- - Ngày 13/5/2015, Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm 6 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”, theo Bản án số 173/2015/HSST.
- - Ngày 23/8/2019, Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh có Quyết định số 330/QĐ-TA áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở Cai nghiện ma túy P với thời gian 21 tháng
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 15/3/2024 đến nay; bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Bà Đoàn Thị Khánh N1: Có đơn xin vắng mặt.
Địa chỉ: 1 T, Phường I, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 23 giờ ngày 25/02/2024, Nguyễn Hoàng N điện thoại rủ Huỳnh Tuấn K cùng đi tìm người có tài sản sơ hở để trộm cắp kiếm tiền tiêu xài, K đồng ý và hẹn N đến đón K ở khu vực bờ kè đường T, Phường A quận B.
N điều khiển xe mô tô hiệu Mio Classio biển số 54M-6982 đến đón K, sau đó cả hai cùng nhau đi đến khu vực chung cư D N, Phường A quận B thì N ở ngoài cảnh giới còn K vào bãi xe dùng mũi kéo (loại kéo nhỏ dùng để hớt tóc) mà K đã chuẩn bị sẵn bẻ khóa lấy trộm được chiếc xe mô tô hiệu Jupiter biển số 79S1 – 3290 của chị Đoàn Thị Khánh N1 gửi tại đây sau đó K và N mỗi người điều khiển một xe tẩu thoát.
K điều khiển chiếc xe trộm cắp được về cất giấu tại địa chỉ A H, Phường A quận B, tháo biển số 79S1-3290 đang gắn trên xe bỏ đi và gắn biển số xe 51T2 – 6247 vào chiếc xe trộm cắp được rồi bán lại cho Nguyễn Văn L1 với giá 1.000.000 đồng, sau đó K gặp và chia lại cho N 400.000 đồng. Khi bán xe cho Lượm K1 nói với L1 là K1 có chiếc xe cũ bị mất giấy nên bán với giá 1.000.000 đồng, L1 đồng ý mua và không hỏi về nguồn gốc xe nên không biết chiếc xe do K1 trộm cắp mà có.
Ngày 29/02/2024, khi Nguyễn Văn L1 đang điều khiển xe chở K1 trên đường, đến trước nhà số H đường V, Phường B quận B thì bị tổ tuần tra 363 nghi vấn kiểm tra hành chính và đưa về Công an Phường 02 quận B giải quyết. Tại Cơ quan điều tra công an quận B Nguyễn Hoàng N và Huỳnh Tuấn K đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như trên.
Kết luận định giá tài sản số 311/KLĐGTS-TCKH ngày 29/12/2023 của Ủy ban nhân dân quận B thì chiếc xe mô tô hiệu Jupiter biển số 79S10-3290 có giá trị 5.000.000 đồng.
Thu giữ, xử lý vật chứng:
- - 01 Usb ghi nhận hình ảnh K và N thực hiện hành vi phạm tội.
- - 01 biển số xe giả số 51T2 – 6247, K khai nhặt được ngoài đường không biết của ai. Xác minh biển số được biết chủ sở hữu tên Nguyễn Thị Minh N2. Chị N2 giao xe cho em rể chị N2 tên Lê Hồng T2 sử dụng và bị mất vào ngày 20/02/2024 tại trước cửa nhà số H đường T, Phường A Quận C, nhưng anh T2 không đến công an P Quận C trình báo.
- - 01 xe gắn máy hiệu Mio Classio biển kiểm soát 54M2 – 6982, kết quả xác minh chủ sở hữu tên Lý Ngọc L2 (địa chỉ A Đ đường B, Phường A Quận A), chị L2 đã bán chiếc xe nói trên cho 01 phụ nữ không quen biết, người mua không làm thủ tục sang tên xe. N khai chiếc xe này là của vợ N tên Nguyễn Thị Ngọc L mua lại nhưng không làm thủ tục sang tên xe. Việc N lấy xe đi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản thì chị L không biết.
- - 01 xe mô tô hiệu Yamaha Jupiter số khung B9608Y0303344, số máy B96030344 đã thu hồi trả lại cho bị hại.
- - 01 quần Jean dài màu xanh, 01 áo sơ mi dài tay màu trắng, 01 áo sơ mi màu hồng.
Tại Cáo trạng số 138/CT-VKSBTh ngày 26 tháng 3 năm 2025 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố Huỳnh Tuấn K và Nguyễn Hoàng N về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải được quy định tại điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; đề nghị xử phạt bị cáo Huỳnh Tuấn K từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù và Nguyễn Hoàng N từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.
Buộc bị cáo K nộp vào ngân sách Nhà nước số tiền thu lợi bất chính là 600.000 nghìn đồng.
Buộc bị cáo N nộp vào ngân sách Nhà nước số tiền thu lợi bất chính là 400.000 nghìn đồng.
Đề nghị xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng và không có ý kiến tranh luận với luận tội của Kiểm Sát viên và không tự bào chữa; Bị cáo nói lời sau cùng biết lỗi của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho mình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận B, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Kiểm Sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra, lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, vật chứng thu giữ, kết luận giám định, Cáo trạng cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ, phù hợp với sự thật khách quan của vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Vào khoảng 23 giờ ngày 25/02/2024, các bị cáo Huỳnh Tuấn K và Nguyễn Hoàng N đã cùng nhau lén lút trộm cắp chiếc xe mô tô hiệu Jupiter biển số 79S1 – 3290 trị giá 5.000.000 đồng của chị Đoàn Thị Khánh N1 tại bãi xe Chung cư D N, Phường A quận B đem bán cho Nguyễn Văn L1 lấy 1.000.000 đồng chia nhau tiêu xài.
nên đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn L1, do không biết chiếc xe Lượm mua lại của K là tài sản do trộm cắp mà có nên không có cơ sở xử lý về hành vi tiêu thụ tài sản.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là cố ý và nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân và gây mất trật tự, an toàn xã hội. Đây là vụ án có đồng phạm, mang tính chất giản đơn (các bị cáo thống nhất về mặt ý chí nhưng không có sự phân công vai trò, cụ thể: Bị cáo N là người rủ bị cáo K đi tìm tài sản sơ hở để trộm cắp và là người cảnh giới cho bị cáo K thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo K là người trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội và là người trực tiếp bán tài sản trộm cắp nên các bị cáo phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình. Tuy nhiên, xét quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử giảm cho các bị cáo một phần trách nhiệm hình sự mà lẽ ra các bị cáo phải chịu.
[3] Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo K có thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nhưng bị cáo có nhân thân xấu nên bị cáo chỉ được áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; đối với bị cáo N có thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nhưng bị cáo có nhân thân quá xấu nên bị cáo chỉ được áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Không áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo
[4] Về trách nhiệm dân sự: bị hại không có yêu cầu bồi thường và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu K bồi thường tiền đã mua xe nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về hình phạt bổ sung: Xét tính chất mức độ, hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, không áp dụng hình phạt bổ sung.
Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh là phù hợp tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, phù hợp quy định của pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[7] Về xử lý vật chứng:
- - 01 Usb ghi nhận hình ảnh K và N thực hiện hành vi phạm tội, tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án.
- - 01 biển số xe giả số 51T2 – 6247, K khai nhặt được ngoài đường không biết của ai. Xác minh biển số được biết chủ sở hữu tên Nguyễn Thị Minh N2. Chị N2 giao xe cho em rể chị N2 tên Lê Hồng T2 sử dụng và bị mất vào ngày 20/02/2024 tại trước cửa nhà số H đường T, Phường A Quận C, nhưng anh T2 không đến công an P trình báo, đây là vật liên quan đến vụ án nên tịch thu tiêu hủy.
- - 01 xe gắn máy hiệu Mio Classio biển kiểm soát 54M2 – 6982, kết quả xác minh chủ sở hữu tên Lý Ngọc L2 (địa chỉ A Đ đường B, Phường A Quận A), chị L2 đã bán chiếc xe nói trên cho 01 phụ nữ không quen biết, người mua không làm thủ tục sang tên xe. N khai chiếc xe này là của vợ N tên Nguyễn Thị Ngọc L mua lại nhưng không làm thủ tục sang tên xe. Việc N lấy xe đi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản thì chị L không biết. Giao Cơ quan Thi hành án có thẩm quyền đăng báo trong thời hạn 06 tháng nếu không có ai đến làm việc thì trả lại cho bà Nguyễn Thị Ngọc L
- - 01 xe mô tô hiệu Yamaha Jupiter số khung B9608Y0303344, số máy B96030344 đã thu hồi trả lại cho bị hại.
- - 01 quần Jean dài màu xanh, 01 áo sơ mi dài tay màu trắng, 01 áo sơ mi màu hồng mặc khi thực hiện hành vi phạm tội, là vật liên quan đến vụ án nên tịch thu tiêu hủy.
- + Buộc bị cáo Huỳnh Tuấn K nộp vào ngân sách Nhà nước số tiền thu lợi bất chính là 600.000 nghìn đồng.
- + Buộc bị cáo Nguyễn Hoàng N nộp vào ngân sách Nhà nước số tiền thu lợi bất chính là 400.000 nghìn đồng.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Điều 17, Điều 50, Điều 58, Điều 38, Khoản 1 Điều 173; Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Huỳnh Tuấn K 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 15/3/2024
- Căn cứ Điều 17, Điều 50, Điều 58, Điều 38, Khoản 1 Điều 173; Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng N 02 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 15/3/2024
- Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
- + Buộc bị cáo Huỳnh Tuấn K nộp vào ngân sách Nhà nước số tiền thu lợi bất chính là 600.000 nghìn đồng.
- + Buộc bị cáo Nguyễn Hoàng N nộp vào ngân sách Nhà nước số tiền thu lợi bất chính là 400.000 nghìn đồng.
- + Tịch thu tiêu hủy: 01 quần Jean dài màu xanh, 01 áo sơ mi dài tay màu trắng, 01 áo sơ mi màu hồng; 01 biển số xe số 51T2 – 6247.
- + 01 chiếc xe loại xe: Hai bánh từ 50-175 cm³, nhãn hiệu: YAMAHA, số loại MIOCLASSICO 4D12, màu sơn xanh, số máy: 4D12003604, số khung: RLCM4D1208Y003604, dung tích xi lanh: 113 cm³, gắn biển số 54M2-6982, giao Cơ quan Thi hành án có thẩm quyền đăng báo trong thời hạn 06 tháng nếu không có ai đến làm việc thì trả lại cho bà Nguyễn Thị Ngọc L.
(Theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 29/5/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thạnh và cơ quan Cảnh sát Điều tra công an Thành phố H).
- - 01 Usb ghi nhận hình ảnh K và N thực hiện hành vi phạm tội, tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án.
- Căn cứ vào Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án;
Mỗi bị cáo Huỳnh Tuấn K, Nguyễn Hoàng N phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được thực hiện quyền kháng cáo bản án. Trường hợp vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Linh Dũng |
Bản án số 162/2025/HS-ST ngày 30/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự - trộm cắp tài sản
- Số bản án: 162/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/05/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Huỳnh Tuấn Kiệt - Trộm cắp tài sản
