|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 162/2025/HS-ST Ngày: 24-11-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Nguyễn Duy Phượng |
| Thẩm phán: | Ông Phạm Ngọc Thành |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Bà Đinh Thị Hương |
| Ông Nguyễn Hải Đương | |
| Ông Phạm Văn Hiệu |
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Đông Hà - Thư ký TAND tỉnh Hưng Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị Thanh Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 130/2025/HSST ngày 28/10/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 155/2025/QĐXXST-HS ngày 10/11/2025, đối với:
Bị cáo: Phạm Văn Q, sinh năm 1970 tại tỉnh Hưng Yên; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nơi cư trú: Thôn M, xã H, tỉnh Hưng Yên; trình độ học vấn: 7/10; nghề nghiệp: Làm ruộng; con ông Phạm Văn C và bà Vũ Thị T; có vợ là Phạm Thị S, có 05 con (con lớn nhất sinh năm 1993, con nhỏ nhất sinh năm 2011); tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ, tạm giam tại Trại tạm giam số 1 - Công an tỉnh H từ ngày 02/7/2025 đến nay; có mặt tại phiên toà.
Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Lê Thanh T1, Văn phòng L1 – Đoàn Luật sư tỉnh H; có mặt.
Bị hại: Cháu Trần Nguyễn Tuấn A, sinh ngày 30/8/2011 (đã chết).
Người đại diện hợp pháp của bị hại: Anh Trần Duy H, sinh năm 1982 (là bác của bị hại); địa chỉ: Thôn N, xã N, tỉnh Hưng Yên; có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Anh Trần Ngọc T2, sinh năm 1985 (bố bị hại); địa chỉ: Thôn N, xã N, tỉnh Hưng Yên; có mặt.
Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1986 (mẹ bị hại); địa chỉ: Thôn N, xã N, tỉnh Hưng Yên; có mặt.
Chị Phạm Thị S, sinh năm 1969 (vợ bị cáo); địa chỉ: Thôn M, xã H, tỉnh Hưng Yên; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vợ chồng bị cáo Phạm Văn Q, sinh năm 1970 và Phạm Thị S, sinh năm 1969, trú tại thôn M, xã H, tỉnh Hưng Yên, có 01 thửa đất diện tích 300m² dùng làm trang trại chăn nuôi và 02 thửa ruộng diện tích 3.277m² dùng để cấy lúa tại khu Đ thuộc thôn M, xã H. Tại khu vực trang trại, bị cáo có dựng một lán lợp mái tôn để trông coi và cho ông Lê Văn Q1, sinh năm 1961, trú tại xã N, tỉnh Ninh Bình (là bảo vệ công trình thi công đường gần đó) thuê một gian để ở.
Ngày 01/7/2025, khi ra thăm ruộng gieo mạ, bị cáo phát hiện có nhiều vết chân chuột nên nảy sinh ý định dùng điện sinh hoạt để diệt chuột. Bị cáo về nhà lấy các đoạn dây điện, dây kim loại (loại dây buộc cốt pha), cọc tre, bóng điện màu đỏ, phích cắm điện cùng các vật dụng điện còn thừa khi làm nhà, mang ra khu ruộng của gia đình. Bị cáo dùng các cọc tre cắm xung quanh hai thửa ruộng, buộc dây kim loại đường kính khoảng 0,6mm nối tiếp nhau thành vòng kín quanh mép ruộng, dây cách mặt ruộng khoảng 3cm. Tại ba góc ruộng và khu vực đặt máy bơm, bị cáo cắm các cọc treo bóng điện đỏ để kiểm tra nguồn điện. Sau khi hoàn tất, bị cáo nối hệ thống dây kim loại với nguồn điện sinh hoạt 220V trong lán chăn nuôi. Khi thử điện thấy các bóng đèn đỏ sáng, bị cáo tắt điện rồi đi nghỉ. Đến khoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày, bị cáo cắm điện trở lại để diệt chuột rồi vào lán nằm nghỉ, không đặt biển cảnh báo, không có biện pháp bảo vệ hoặc người trông coi khu vực ruộng.
Khoảng 04 giờ ngày 02/7/2025, bị cáo ra khu vực sau lán để bơm nước thì phát hiện 04 bóng điện đỏ vẫn sáng, điện vẫn được cấp vào dây kim loại chăng quanh ruộng và nhìn thấy cháu Trần Nguyễn Tuấn A, sinh ngày 30/8/2011, trú tại thôn N, xã N, tỉnh Hưng Yên, nằm bất động sát mép bờ ruộng, tay trái đè lên dây kim loại. Nhận thấy cháu Tuấn A đã bị điện giật chết, bị cáo chạy vào ngắt điện. Do lo sợ bị phát hiện, bị cáo bế cháu Tuấn A đặt xuống mương nước bên đường đang thi công, cách hiện trường khoảng 80 mét, sau đó quay lại tháo dỡ toàn bộ dây kim loại, bóng điện, rút một phần cọc tre mang về lán cất giấu, phần còn lại để vợ là Phạm Thị S dùng nilon chăng quanh ruộng, rồi đi lang thang quanh địa bàn xã H.
Khoảng 07 giờ cùng ngày, người dân phát hiện thi thể cháu Tuấn A tại mương nước và báo cơ quan Công an. Đến 15 giờ 30 phút ngày 02/7/2025, Phạm Văn Q đến Công an đầu thú, giao nộp quần áo, dép và khai nhận toàn bộ hành vi đấu điện để diệt chuột dẫn đến cái chết của cháu Tuấn A.
Kết quả khám nghiệm hiện trường xác định: hệ thống dây kim loại chăng quanh thửa ruộng được nối với nguồn điện sinh hoạt 220V trong lán chăn nuôi; các bóng điện đỏ treo tại vị trí các góc ruộng và khu vực máy bơm; phần dây kim loại cách mặt ruộng khoảng 3cm.
Kết quả khám nghiệm tử thi cháu Trần Nguyễn Tuấn A xác định: tử thi có nhiều vết cháy sém da vùng ngực, cổ, tay, sườn trái và lưng; các dấu vết đặc trưng của bỏng điện. Kết luận giám định pháp y số 550/KLGĐTT-KTHS ngày 30/7/2025 của Phòng K Công an tỉnh H xác định: nguyên nhân chết là suy hô hấp, suy tuần hoàn cấp do điện giật, thời gian chết khoảng 07–09 giờ trước thời điểm khám nghiệm. Kết luận giám định mô bệnh học số 5113A/KL-KTHS ngày 21/7/2025 của V – Bộ C1 kết luận: mô da có tổn thương do bỏng điện; phổi sung huyết, phù phế nang; các tạng khác sung huyết, thoái hóa tế bào; không phát hiện chất độc hay ma túy trong máu và phủ tạng.
Đối với ông Lê Văn Q1 (người thuê lán) và bà Phạm Thị S (vợ bị cáo), kết quả điều tra xác định không biết việc bị cáo Quỳnh đấu điện quanh ruộng, nên không có căn cứ xử lý hình sự đối với hai người này.
Về trách nhiệm dân sự: đại diện hợp pháp của bị hại là anh Trần Duy H, sinh năm 1982, trú tại xã N, tỉnh Hưng Yên, thống kê chi phí mai táng của cháu Tuấn A là 71.800.000 đồng; bị cáo và gia đình đã bồi thường tổng cộng 175.000.000 đồng. Anh H không có yêu cầu gì thêm và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Vật chứng thu giữ gồm: 01 xe đạp, 01 áo khoác liền mũ, 01 bao dứa màu xanh, 01 đôi dép màu đen, 02 bó dây kim loại, 01 thanh kim loại dài 0,9m, 03 thanh tre, 01 dây điện dài 15m, 01 phích cắm điện màu trắng, 05 đoạn tre, 01 áo phông, 01 quần đùi, 01 dây lưng, 01 quần lót, 01 điện thoại di động hiệu Realme màu đen và 03 USB ghi hình; tất cả được niêm phong, quản lý tại kho vật chứng Công an tỉnh H.
Cáo trạng số 03/CT-VKS-P2 ngày 28/10/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên đã truy tố bị cáo Phạm Văn Q về tội “Giết người” theo điểm b khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Văn Q thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng. Bị cáo khai: do ruộng lúa thường bị chuột phá, nên đã tự ý đấu nối điện 220V vào dây kim loại chăng quanh ruộng để diệt chuột, không đặt biển cảnh báo, không ngắt điện trước khi đi ngủ. Sáng sớm hôm sau, phát hiện cháu Trần Nguyễn Tuấn A bị điện giật tử vong, bị cáo đã ngắt điện, di chuyển thi thể nạn nhân, tháo dỡ toàn bộ dây điện và cọc tre cất giấu. Bị cáo khai mục đích ban đầu chỉ để diệt chuột, không nhằm tước đoạt tính mạng ai; sau khi sự việc xảy ra, bị cáo hoảng sợ nhưng sau đó đã đến Công an đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi.
Đại diện hợp pháp của bị hại là anh Trần Duy H xác nhận nội dung vụ án đúng như cáo trạng, không có yêu cầu bồi thường gì thêm, đề nghị Tòa xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo do đã thành khẩn, tự nguyện khắc phục hậu quả và gia đình bị hại đã nhận đủ tiền bồi thường.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội “Giết người” theo điểm b khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự, đề nghị áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù.
Người bào chữa cho bị cáo thống nhất về hành vi và hậu quả như cáo trạng, đề nghị xem xét lỗi của bị cáo là lỗi vô ý, mục đích chỉ để bảo vệ hoa màu; bị cáo có nhân thân tốt, nhiều tình tiết giảm nhẹ, nên đề nghị áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự để xử dưới khung hình phạt.
Bị cáo không tranh luận, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét hoàn cảnh khó khăn, nhân thân tốt, ăn năn hối cải và mong được hưởng sự khoan hồng của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa và kết quả tranh tụng công khai, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng:
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Phạm Văn Q khai báo tự nguyện, không bị ép cung, bức cung hoặc nhục hình; bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan hoặc người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng trong vụ án là hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, kết luận giám định pháp y, giám định mô bệnh học, kết quả thực nghiệm điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án.
Có đủ căn cứ xác định: Khoảng 02 giờ 30 phút ngày 02/7/2025, tại khu ruộng của gia đình ở cánh đồng Đ, thôn M, xã H, tỉnh Hưng Yên, bị cáo Phạm Văn Q đã tự ý đấu nối dây kim loại chăng xung quanh ruộng lúa với nguồn điện sinh hoạt 220V nhằm mục đích diệt chuột, nhưng không lắp đặt thiết bị bảo vệ, không có biển cảnh báo và không bố trí người trông coi. Hậu quả, cháu Trần Nguyễn Tuấn A (sinh ngày 30/8/2011) đi qua khu vực đã bị điện giật tử vong.
Sau khi phát hiện sự việc, bị cáo ngắt điện, di chuyển thi thể cháu Tuấn A ra khu vực mương nước và tháo dỡ, cất giấu toàn bộ hệ thống dây dẫn, cọc tre, bóng điện. Đến chiều cùng ngày, bị cáo đến Cơ quan Công an đầu thú và khai nhận toàn bộ sự việc.
[3] Về tính chất, mức độ và lỗi của bị cáo
Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ việc đấu nối điện sinh hoạt vào dây kim loại không có lớp cách điện trong môi trường sản xuất nông nghiệp là hành vi đặc biệt nguy hiểm, có thể gây chết người. Mặc dù bị cáo không nhằm tước đoạt tính mạng của bất kỳ ai và không hướng đến đối tượng dưới 16 tuổi, nhưng bị cáo nhận thức được hậu quả chết người có thể xảy ra và đã để mặc cho hậu quả xảy ra, thể hiện lỗi cố ý gián tiếp.
Từ tính chất, mức độ của hành vi và hậu quả làm chết một người dưới 16 tuổi, có đủ căn cứ xác định bị cáo đã phạm tội “Giết người” theo điểm b khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự, như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên đã truy tố.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và khi quyết định hình phạt
Bị cáo Phạm Văn Q không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo Điều 52 Bộ luật Hình sự. Mặc dù hậu quả xảy ra đối với người dưới 16 tuổi, nhưng đây được xác định là tình tiết định khung hình phạt nên không thuộc trường hợp “phạm tội đối với người dưới 16 tuổi” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Sau khi sự việc xảy ra, bị cáo đã đến Cơ quan Công an đầu thú và khai nhận đầy đủ hành vi phạm tội; quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo đã tác động gia đình tự nguyện bồi thường, khắc phục thiệt hại về vật chất cho gia đình bị hại; người đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Tuy nhiên, hậu quả vụ án đặc biệt nghiêm trọng, làm chết một trẻ em dưới 16 tuổi; hành vi của bị cáo vi phạm nghiêm trọng quy định của pháp luật về an toàn điện, gây nguy hiểm lớn cho xã hội, cần xử phạt nghiêm để răn đe và phòng ngừa chung.
Xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ căn cứ áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự để quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt, nhưng vẫn phải đảm bảo tính nghiêm minh, tương xứng với tính chất và hậu quả của hành vi phạm tội.
[5] Về trách nhiệm dân sự
Đại diện hợp pháp của bị hại Trần Nguyễn Tuấn A là anh Trần Duy H đã thống kê chi phí mai táng tổng số tiền 71.800.000 đồng; kết quả xác minh tại địa phương thể hiện mức chi phí trung bình một đám tang tương ứng khoảng 50.000.000 đồng. Gia đình bị cáo Phạm Văn Q đã tự nguyện bồi thường và khắc phục số tiền 175.000.000 đồng. Đại diện gia đình bị hại xác nhận đã nhận đủ số tiền bồi thường, không còn yêu cầu gì thêm và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Do đó, Hội đồng xét xử xác định trách nhiệm dân sự trong vụ án đã được giải quyết xong và không đặt ra xem xét.
[6] Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp
Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, xét thấy:
Các vật chứng thu giữ trong vụ án gồm:
01 áo khoác liền mũ, 01 bao dứa màu xanh; 01 sợi dây cao su; 01 đôi dép tông màu đen, 02 bó dây bằng kim loại tối màu, 01 thanh kim loại dài 0,9m; 03 thanh tre, 01 sợi dây điện dài 15m, 01 phích cắm điện màu trắng, 05 đoạn tre, 01 áo phông cộc tay cổ tròn, 01 quần đùi vải bò màu đen; 01 dây lưng giả da kẻ caro màu nâu, 01 quần lót có họa tiết trắng xanh, 01 áo dài tay màu xanh, 01 quần dài sáng màu, 01 đôi dép lê màu đen không còn giá trị sử dụng nên sẽ tịch thu cho hủy.
01 xe đạp, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme màu đen của bị hại sẽ trả lại cho người đại diện hợp pháp của bị hại.
03 chiếc USB chứa các file video được trích xuất trong các camera và ghi âm, ghi hình lời khai của bị cáo sẽ tiếp tục lưu trữ tại hồ sơ vụ án.
[7] Về án phí
Bị cáo Phạm Văn Q bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Về tội danh và hình phạt:
Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn Q phạm tội “Giết người”.
Áp dụng: điểm b khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Phạm Văn Q 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 02/7/2025.
2. Về biện pháp tư pháp:
Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu, tiêu hủy các vật chứng gồm:
01 áo khoác liền mũ, 01 bao dứa màu xanh; 01 sợi dây cao su; 01 đôi dép tông màu đen trong niêm phong H1.
01 thanh kim loại dài 0,9m; 03 thanh tre có kích thước dài lần lượt là: 0,95m, 1,08m, 1,13m, trên 1 đầu của T3 và 3 thanh tre đều được buộc 01 bộ bóng đèn (gồm đui bóng đèn màu trắng đã lắp bóng đèn màu đỏ, tại mỗi đui đều được đấu nối với một đoạn dây điện loại dây đôi màu vàng, bên trong có một sợi màu trắng, một sợi màu đỏ), trên mỗi bộ bóng đèn đều được bọc túi nilon trong suốt bên ngoài trong 01 niêm phong ký hiệu D2.
01 sợi dây điện dài 15m, một đầu dây điện là đoạn dây điện vỏ màu đen (loại dây đôi) một đầu được đấu nối với phích cắm điện loại 02 chân, một đầu được đấu nối với đoạn dây điện màu trắng (loại dây đôi), trên đoạn dây điện này có đấu 01 công tắc, đầu dây còn lại được đấu nối với dây điện 1 pha màu đen trong 01 niêm phong ký hiệu D3.
01 bó dây bằng kim loại tối màu (dạng dây thép buộc trong xây dựng) được quấn rối vào nhau; 05 đoạn tre có kích thước dài lần lượt là: 0,38m, 0,43m, 0,43m, 0,46m, 0,5m trong 01 niêm phong ký hiệu D4.
01 áo phông cộc tay cổ tròn, màu đen; 01 quần đùi vải bò màu đen; 01 dây lưng giả da kê caro màu nâu - vàng; 01 quần lót có họa tiết trắng xanh trong 01 niêm phong ký hiệu T3.
01 áo dài tay màu xanh, 01 quần dài sáng màu, 01 đôi dép lê màu đen trong 01 niêm phong ký hiệu QAQ.
01 bó dây kim loại (ký hiệu D1) được đựng trong một hộp giấy bìa cứng dán kín, bên ngoài hộp giấy dán các băng giấy trắng qua vị trí giáp lai, trên mỗi băng giấy đều có hình dấu của V - Bộ C1 cùng các chữ ký, họ tên của những người liên quan.
Trả lại cho người đại diện hợp pháp của bị hại: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme màu đen trong 01 niêm phong ký hiệu T4; 01 xe đạp khung bằng kim loại sáng màu, có dán mác ghi chữ QUEEN.
(Tình trạng, chủng loại vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh H và Thi hành án dân sự tỉnh Hưng Yên ngày 04/11/2025).
3. Án phí:
Bị cáo Phạm Văn Q phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo:
Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Duy Phượng |
Bản án số 162/2025/HS-ST ngày 24/11/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN về vụ án hình sự sơ thẩm (giết người)
- Số bản án: 162/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự sơ thẩm (Giết người)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/11/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo dùng điện bẫy chuột gây tử vong cho người dưới 16 tuổi
