Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NHƠN TRẠCH

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 162/2025/HS-ST

Ngày 23 - 5 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hằng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoài Đức Huệ

Ông Lâm Ngọc Trao

- Thư ký phiên tòa: Ông Hồng Quốc Văn – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch tham gia phiên tòa: Bà Vương Thị Hồng - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 148/2025/TLST-HS ngày 22 tháng 4 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 151/2025/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 5 năm 2025 và Thông báo về việc thay đổi thời gian xét xử số 36/2025/TB-TA ngày 21 tháng 5 năm 2025 đối với bị cáo:

Trần Chí B

sinh năm 2006 tại tỉnh An Giang; nơi cư trú: ấp C, xã C, thị xã T, tỉnh An Giang; Chỗ ở hiện nay: Không có nơi cư trú rõ ràng; Nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn D và bà Phạm Thị B1; Bị cáo chưa có vợ con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt giữ từ ngày 20/02/2025 sau đó chuyển sang tạm giam cho đến nay (có mặt).

- Bị hại:

Nguyễn Minh N, sinh năm 2002 (vắng mặt)

Đ chỉ: Khu phố M, thị trấn H, huyện N, tỉnh Đồng Nai.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Đỗ Trung T, sinh năm 1983 (vắng mặt)

Địa chỉ: ấp C, xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 10 giờ ngày 19/02/2025, Trần Chí B không có nơi cư trú ổn định đến tiệm N1 thuộc khu phố M, thị trấn H, huyện N, tỉnh Đồng Nai để chơi game. Đến khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày thì B đi về, khi ra trước cửa tiệm game, B thấy có một chiếc xe mô tô, nhãn hiệu Yamaha Jupiter, biển số 38P1-039.65, màu xanh của anh Nguyễn Minh N, đang dựng trước tiệm, có chìa khóa sẵn trong ổ khóa xe, B nảy sinh ý định trộm cắp xe để bán lấy tiền tiêu xài. Lúc này, B quan sát xung quanh không có người trông coi nên B leo lên xe, vặn chìa khóa, nổ máy và chạy đến tiệm S tại A L, thị trấn L, huyện L do anh Đỗ Trung T làm chủ, tại đây anh T thấy B có giấy chứng nhận đăng ký xe nên đồng ý mua với giá 2.650.000 đồng, B nhận tiền và tiêu xài hết. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, nhận thấy hành vi sai của mình là vi phạm pháp luật nên B đến Công an thị trấn H đầu thú.

Tang vật vụ án thu giữ gồm:

  • 01 xe mô tô, biển số: 38P1-039.65, Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả cho chủ sở hữu theo quy định.

Tại Kết luận định giá tài sản số 08/KL-HĐĐG ngày 25/02/2025 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự kết luận: 01 xe mô tô, biển số 38P1-039.65 giá trị sử dụng còn lại là 30%, trị giá 4.200.000 đồng.

Tại bản cáo trạng số 163/CT.VKSNT ngày 16/4/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai truy tố Trần Chí B về tội “trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Trần Chí B về tội “trộm cắp tài sản” và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt Trần Chí B từ 08 tháng đến 10 tháng tù.

Xử lý vật chứng: 01 xe mô tô, biển số: 38P1-039.65, Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả cho chủ sở hữu theo quy định.

* Về biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng đề nghị Tòa tuyên: Buộc bị cáo Trần Chí B phải nộp lại số tiền 2.650.000 đồng do phạm tội mà có để sung công quỹ Nhà nước.

* Về Trách nhiệm dân sự: anh Nguyễn Minh N đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường gì thêm; Anh Đỗ Trung T cũng không yêu cầu Trần Chí B bồi thường gì nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

Bị cáo không có ý kiến gì đối với quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đã biết lỗi của mình, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về tố tụng:
    1. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và truy tố bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
    2. Tại phiên tòa bị hại là anh Nguyễn Minh N và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh Đỗ Trung T vắng mặt tuy nhiên đã có lời khai đầy đủ trong hồ sơ và các đương sự không có bất cứ yêu cầu gì trong vụ án này, Hội đồng xét xử xét thấy việc vắng mặt của anh N, anh T tại phiên tòa không làm ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án, nên căn cứ Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
  2. Về hành vi của bị cáo: Trước cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo Trần Chí B đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại cùng vật chứng được thu giữ và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở xác định:

    Vào lúc 16 giờ 30 phút ngày 19/02/2025, tại khu phố M, thị trấn H, huyện N, tỉnh Đồng Nai, Trần Chí B đã lén lút trộm 01 xe mô tô, biển số 38P1-039.65 giá trị sử dụng còn lại là 30% của anh Nguyễn Minh N trị giá 4.200.000 đồng.

    Hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là chiếc xe mô tô có trị giá 4.200.000 đồng của bị cáo B đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 như Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch đã truy tố là đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.

  3. Về tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo:

    Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, mà còn gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật, nhưng bị cáo B vì muốn có tiền tiêu sài nên đã thực hiện hành vi phạm tội. Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn để cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.

  4. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.
  5. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử sẽ xem xét cho bị cáo các tình tiết trên khi quyết định hình phạt.
  6. Về trách nhiệm dân sự: anh Nguyễn Minh N đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường gì thêm; Anh Đỗ Trung T cũng không yêu cầu Trần Chí B bồi thường gì nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

    Buộc bị cáo Trần Chí B phải nộp lại số tiền 2.650.000 đồng do phạm tội mà có để sung công quỹ Nhà nước.

  7. Về xử lý vật chứng: 01 xe mô tô, biển số: 38P1-039.65, Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả cho chủ sở hữu theo quy định.
  8. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
  9. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
  10. Về những vấn đề khác:

    Đối với anh Đỗ Trung T có hành vi tiêu thụ xe do Trần Chí B bán, nhưng khi mua anh T không biết đây là tài sản do B trộm cắp mà có nên Cơ quan cảnh sát điều tra không xử lý.

    Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; Điều 38; Điều 46; Điều 47; điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

  1. 1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Chí B phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  2. 2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trần Chí B 08 (tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20/02/2025.
  3. 3. Về các biện pháp tư pháp:

    Buộc bị cáo Trần Chí B phải nộp lại số tiền 2.650.000 đồng (hai triệu sáu trăm năm mươi nghìn đồng) để sung công quỹ Nhà nước.

  4. 4. Về án phí: Bị cáo Trần Chí B phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền làm đơn kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND huyện Nhơn Trạch;
  • - Phân trại Tạm giam khu vực Nhơn Trạch,
  • Trại tạm giam công an tỉnh Đồng Nai;
  • - Cơ quan Thi hành án hình sự;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 162/2025/HS-ST ngày 23/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH, TỈNH ĐỒNG NAI về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 162/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Chí B - Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger