|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 162/2025/HS-ST Ngày: 19 - 6 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Minh Loan.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Soan.
- Ông Phạm Nguyễn Anh Tuấn.
- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Thành Luân – Thư ký Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hải Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 6 năm 2025, tại Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 221/2025/TLST-HS ngày 26 tháng 5 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 270/2025/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 119/2025/QĐST-HS ngày 12/6/2025 đối với các các bị cáo:
1. Võ Văn G; giới tính: Nam, sinh ngày 23/12/2006 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Địa chỉ thường trú và nơi ở hiện nay: Số C Đường số D, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Học sinh; Trình độ văn hóa: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Cha: ông Võ Thành C, sinh năm 1974 và mẹ: bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1973; Hoàn cảnh gia đình: chưa có vợ con; Tiền án, Tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.
2. Nguyễn Quốc H; giới tính: N, sinh năm 2004 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Địa chỉ thường trú và nơi hiện nay: Số A Quốc lộ A cũ, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Làm tự do; Trình độ văn hóa: 08/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Cha: ông Nguyễn Quốc T, sinh năm 1978 và mẹ: bà Nguyễn Thị Thúy L, sinh năm 1985; Hoàn cảnh gia đình: chưa có vợ con; Tiền án, Tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.
3. Đỗ Viết T1; giới tính: Nam, sinh ngày 02/01/2006 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Địa chỉ thường trú: phố D, phường T, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; Nơi ở hiện nay: Số B Quốc lộ A cũ, phường H, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Làm tự do; Trình độ văn hóa: 09/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Cha: ông Đỗ Viết T2, sinh năm 1958 và mẹ: bà Lê Thị T3, sinh năm 1965; Hoàn cảnh gia đình: chưa có vợ con; Tiền án, Tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.
4. Nguyễn Gia K; giới tính: Nam, sinh ngày 19/9//2006 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Địa chỉ thường trú và nơi ở hiện nay: Số B đường V, Khu phố C, phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Sinh viên; Trình độ văn hóa: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Cha: ông Nguyễn Đình D1, sinh năm 1978 (chết) và mẹ: bà Nguyễn Quỳnh G1, sinh năm 1975; Hoàn cảnh gia đình: chưa có vợ con; Tiền án, Tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.
5. Lê Bảo K1; giới tính: Nam, sinh ngày 03/7/2006 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Địa chỉ thường trú: Số A đường C, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi ở hiện nay: Số A đường N, Phường C, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Học sinh; Trình độ văn hóa: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Cha: ông Lê Văn K2, sinh năm 1971 và mẹ: bà Nguyễn Thị Ngọc D2, sinh năm 1970; Hoàn cảnh gia đình: chưa có vợ con; Tiền án, Tiền sự: Không. Bị cáo tạm giam có mặt tại phiên tòa.
6. Trần Quốc B; giới tính: Nam, sinh ngày 23/12/2006 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Địa chỉ thường trú: Số E đường Q, Tổ C, phường N, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi; Nơi ở hiện nay: Số F Đường số C, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Cha: ông Trần Nguyên H1, sinh năm 1972 và mẹ: bà Hồ Thị D3, sinh năm 1970; Hoàn cảnh gia đình: chưa có vợ con; Tiền án, Tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Ông Nguyễn Minh N1, sinh năm 2004. Địa chỉ: Số B đường P, Phường H, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người giám hộ cho bị cáo G: Bà Nguyễn Thị D; Người giám hộ cho bị cáo B: Ông Trần Nguyên H1.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bị cáo G và B: Bà Nguyễn Thị Hà Đ.
Các bị cáo, ông H1 và bà D có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21 giờ ngày 06/12/2024, Võ Văn G cùng Lê Bảo K1, Nguyễn Gia K, Đỗ Viết T1, Nguyễn Quốc H và Trần Quốc B ngồi uống cà phê tại quán C1 trên đường P, quận G nơi Nguyễn Gia K làm việc. Tại đây, G thấy có video trên ứng dụng Tiktok có người giật túi mù đựng gấu bông BabyThree của những người bán hàng dạo trên đường nên G cho B xem, cả hai cùng có ý định làm theo video đi giật túi mù của người khác để chơi hoặc bán lấy tiền tiêu xài. G và B nói với cả nhóm việc sẽ đi giật túi mù cho cả nhóm cùng nghe và tất cả đồng ý tham gia.
Đến khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày, Gia K đóng cửa quán rồi cả nhóm bàn bạc và thống nhất với nhau đi trên các tuyến đường thuộc quận G tìm kiếm những nơi bán túi mù đựng gấu bông Baby T để cướp giật.
Khi đi, B chở G bằng xe mô tô SH, biển số: 59P1 – 251.88; Gia K chở Bảo K1 bằng xe mô tô hiệu Air Blade, biển số 59G3 – 217.27; T1 chở H bằng xe máy hiệu Air Blade, biển số 61BA – 059.25 chạy từ quán C1 theo đường P về đường N, đến ngã tư N - P thì rẽ phải vào đường P, hướng về đường P. Đến trước địa chỉ số D P, Phường E, quận G, cả nhóm phát hiện có điểm bán túi mù tại vỉa hè nên dừng lại. H xuống xe đi bộ tới chỗ bán túi mù hỏi giá nhưng không ai trả lời, thấy người bán hàng không để ý nên H lấy 01 hộp túi mù màu vàng cầm trên tay đi bộ một đoạn đến chỗ của T1 đang chờ, lên xe của T1 chạy tẩu thoát về hướng đường Phạm Văn Đ1, khi đến cầu S phát hiện hộp túi mù bên trong không có gì nên H vứt hộp túi mù xuống sông, rồi H nói với T1 quay lại và gọi điện cho cả nhóm hẹn gặp ở quán K đường P.
Khi đến quán K3 trên đường P, quận G cả nhóm gặp nhau và thống nhất tiếp tục đi giật túi mù đựng gấu bông BabyThree của người bán hàng bên lề đường nên B chở G, Gia K chở Bảo K1, T1 chở H cùng đi rồi cả nhóm chạy xe từ đường P ra đường Q, chạy hướng về Quận A.
Đến khoảng 00 giờ 40 phút ngày 07/12/2024, khi đang di chuyển trên đường Q hướng qua cầu C, cả nhóm nhìn sang bên kia đường thấy trước địa chỉ I Q, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh có 01 thanh niên đang đứng ở lề đường đối diện, bán túi mù đựng gấu bông BabyThree nhưng do đường có giải phân cách không qua đường được nên cả nhóm chạy qua cầu C rồi vòng ngược lại, xe của Gia K chở Bảo K1 và xe của T1 chở H đi trước, khi đến hẻm I Q, Phường A, quận G thì dừng lại bàn bạc và thống nhất Bảo K1 và H xuống xe đi bộ lại chỗ bán để cướp giật túi mù, khi Bảo K1 và H đang đi lại chỗ bán túi mù thì B chở G đến chỗ bán túi mù trước, lúc này Bảo K1 và H cùng đi tới rồi lựa hàng, nói chuyện với nhân viên bán hàng lợi dụng tình hình thuận lợi sẽ giật túi mù bỏ chạy. Khi quan sát chỉ thấy chỉ có một người bán túi mù nên H, Bảo K1 mỗi người cướp giật được 01 một túi mù bỏ chạy thì bị anh N1 (người bán túi mù) đuổi theo nên Bảo K1 vứt lại túi mù cướp giật được, còn G cũng chụp lấy 02 túi mù đựng gấu bông BabyThree và bỏ chạy hướng ngược lại, thấy G bỏ chạy nên B tăng ga quay đầu xe lại chạy theo B thì bất ngờ bị bảo vệ ở gần đó truy đuổi té xe, B bỏ xe chạy bộ tẩu thoát. Sau đó H cầm theo túi mù chạy ra hẻm I Q lên xe máy của T1, Bảo K1 lên xe của Gia K nổ máy tẩu thoát về ngã 4 Q - Phan Huy Í và chạy về hướng cầu C, khi đến chân cầu thấy B đang đi bộ nên B lên xe của Gia K. Lúc này Gia K điều khiển xe máy trên chở Bảo K1 và B, còn T1 chở H tẩu thoát về Quận A hướng ra quốc lộ A, trên đường tẩu thoát G gọi điện thoại cho B rồi B kêu Gia K quay lai dưới chân cầu C đón G quay lại chỗ cả nhóm đang đợi rồi tất cả đi về chung cư K, địa chỉ 9 Q, Phường A, G để tìm cách lấy lại xe máy hiệu SH, biển số: 59P1 - 251.88 của B. Trong lúc cả nhóm đang bàn bạc thì B nói để B điện thoại cho người nhà báo lại sự việc bị mất xe, rồi B nói với cả nhóm để 04 hộp túi mù vừa cướp giật được lại cho B để B đi với người nhà của B ra chỗ vừa cướp giật để chuộc xe về, nghe B nói vậy nên cả nhóm giải tán đi về.
Kết luận định giá tài sản số 93/KL-HĐĐGTS ngày 23/4/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự cấp quận, Ủy ban nhân dân quận G kết luận, 04 hộp đồ chơi Blindbox đựng gấu bông Baby Three có giá là 3.136.667 đồng.
Vật chứng của vụ án:
- - 04 hộp đồ chơi Blindbox đựng gấu bông BabyThree, Cơ quan cảnh sát điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại tài sản cho bị hại là anh Nguyễn Minh N1.
- - 01 xe mô tô hiệu Air Blade, biển số 61BA – 059.25 của Đỗ Viết T1. Qua xác minh, xe mô tô trên do anh Đỗ Viết T4 đứng tên chủ sở hữu, anh T4 cho T1 mượn đi công việc, không biết T1 sử dụng xe để cướp giật tài sản.
- - 01 xe máy hiệu Honda SH, biển số: 59P1 – 251.88 của Trần Quốc B bỏ lại hiện trường. Trần Quốc B khai mượn xe của người quen là anh Nguyễn Trung T5 để làm phương tiện đi lại. Anh Nguyễn Trung T5 khai xe trên của anh mua năm 2013, do không có hộ khẩu tại Thành phố Hồ Chí Minh nên anh đã nhờ chị Tạ Quỳnh N2 đứng tên chủ sở hữu, chị N2 có sử dụng xe trên mà bị mất trộm tại địa chỉ A P, Phường B, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh, chị N2 đã trình báo sự việc cho ông an Phường B, quận T. Sau đó, ông T5 được người không rõ lai lịch báo tin chuộc lại xe mô tô trên nhưng không báo cho Công an biết sự việc. Ông T5 cho B mượn xe làm phương tiện đi lại, không biết B sử dụng xe để cướp giật tài sản.
- Kết luận giám định số 1339/KL-KTHS ngày 28/02/2025, của Phòng K4 (PC09) - Công an Thành phố H xác định, chiếc xe mô tô, biển số: 591 - 251.88 có số khung ZDCKF10B0BF112219, số máy KF08E-1083262-KTGE1 bị mài, đục số, không xác định được số nguyên thủy.
- - 01 xe mô tô hiệu Air Blade, biển số 59G3 – 217.27 của Nguyễn Gia K. Qua xác minh, xe mô tô do Nguyễn Gia K đứng tên chủ sở hữu.
Tại bản cáo trạng số 232/CT-VKS-QGV, ngày 26/5/2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp đã truy tố các các bị cáo Võ Văn G, Nguyễn Quốc H, Đỗ Viết T1, Nguyễn Gia K, Lê Bảo K1 và Trần Quốc B về tội “Cướp giật tài sản” theo khoản 1 Điều 171 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên toà Đại diện Viện kiểm sát sau khi luận tội và đưa ra quan điểm xét xử đã đề nghị:
Áp dụng khoản 1 Điều 171; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; khoản 1 Điều 101, Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
- - Xử phạt bị cáo Võ Văn G từ 09 tháng đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng.
- - Xử phạt bị cáo Trần Quốc B từ 09 tháng đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng.
Áp dụng khoản 1 Điều 171; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
- - Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc H từ 12 tháng đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 đến 36 tháng.
- - Xử phạt bị cáo Đỗ Viết T1 từ 12 tháng đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 đến 36 tháng.
- - Xử phạt bị cáo Nguyễn Gia K từ 12 tháng đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 đến 36 tháng.
Áp dụng khoản 1 Điều 171; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
- - Xử phạt bị cáo Lê Bảo K1 từ 12 tháng đến 18 tháng tù giam.
Căn cứ Điều 46; Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và khoản 1, khoản 2, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
- - 01 xe máy hiệu Honda SH, biển số: 59P1 – 251.88 của Trần Quốc B bỏ lại hiện trường. Trần Quốc B khai mượn xe của người quen là anh Nguyễn Trung T5 để làm phương tiện đi lại. Anh Nguyễn Trung T5 khai xe trên của anh mua năm 2013, do không có hộ khẩu tại Thành phố Hồ Chí Minh nên anh đã nhờ chị Tạ Quỳnh N2 đứng tên chủ sở hữu, chị N2 có sử dụng xe trên mà bị mất trộm tại địa chỉ A P, Phường B, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh, chị N2 đã trình báo sự việc cho ông an Phường B, quận T. Sau đó, ông T5 được người không rõ lai lịch báo tin chuộc lại xe mô tô trên nhưng không báo cho Công an biết sự việc. Ông T5 cho B mượn xe làm phương tiện đi lại, không biết B sử dụng xe để cướp giật tài sản.
- Kết luận giám định số 1339/KL-KTHS ngày 28/02/2025, của Phòng K4 (PC09) - Công an Thành phố H xác định, chiếc xe mô tô, biển số: 591 - 251.88 có số khung ZDCKF10B0BF112219, số máy KF08E-1083262-KTGE1 bị mài, đục số, không xác định được số nguyên thủy. Đề nghị tịch thu.
- - 01 xe mô tô hiệu Air Blade, biển số 59G3 – 217.27 của Nguyễn Gia K. Qua xác minh, xe mô tô do Nguyễn Gia K đứng tên chủ sở hữu. Đây là phương tiện dùng để phạm tội đề nghị tịch thu.
Tại phiên tòa khi nói lời sau cùng, các bị cáo không tranh luận mà chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm mức án nhẹ nhất để các bị cáo sớm trở về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận G, Cơ quan điều tra Công an Thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về việc vắng mặt của bị hại tại phiên tòa: Bị hại đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Trong hồ sơ vụ án thể hiện: Bị hại đã trình bày lời khai và không có yêu cầu, vì vậy căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị hại.
Về việc vắng mặt người bào chữa cho bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo G, bị cáo B, ông H1 và bà D từ chối Luật sư và đề nghị xét xử vắng mặt Luật sư nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt người bào chữa.
[2] Về tội danh: Tại phiên toà hôm nay, sau khi Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp công bố bản cáo trạng thì các bị cáo Võ Văn G, Nguyễn Quốc H, Đỗ Viết T1, Nguyễn Gia K, Lê Bảo K1 và Trần Quốc B đã thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Đối chiếu lời khai các bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị hại, cùng với tang vật đã thu giữ, phù hợp với kết luận điều tra của cơ quan Công an Thành phố H, với bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp và với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở nhận định hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 171 của của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó Cáo trạng số 232/CT-VKS-QGV, ngày 26/5/2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp đã truy tố các bị cáo về tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
Hành vi của các bị cáo mang tính đồng phạm nhưng thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn, các bị cáo tuy có bàn bạc trước nhưng không có sự phân công nhiệm vụ rõ ràng, cụ thể.
Đối với bị cáo Võ Văn G và Trần Quốc B khi phạm tội chưa đủ 18 tuổi nên nên áp dụng quy định tại khoản 1 Điều 101 của Bộ luật Hình sự để xem xét mức hình phạt đối với các bị cáo.
[3] Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Hành vi của các bị cáo đã xâm hại đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được Pháp luật và Nhà nước bảo hộ. Vì vậy, việc xử lý các bị cáo bằng biện pháp hình sự là hết sức cần thiết và đúng quy định của pháp luật.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và qua diễn biến phiên tòa hôm nay, các bị cáo đã thật thà khai báo thành khẩn nhận tội và tỏ ra ăn năn hối cải, tài sản đã thu hồi trả lại cho bị hại, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo, gia đình các bị cáo thuộc thành phần lao động nghèo để giảm nhẹ một phần hình phạt mà lẽ ra các bị cáo phải chịu.
Căn cứ quy định của Bộ luật Hình sự, cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, đồng thời qua đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Hội đồng xét xử xét thấy thời gian tạm giam các bị cáo cũng đủ cũng đủ để răn đe, giáo dục các bị cáo.
Đối với bị cáo Lê Bảo K1 khi được tại ngoại để điều tra lại thực hiện tội phạm mới nên cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm giúp bị cáo có điều kiện học tập cải tạo lại mình sau này biết tôn trọng pháp luật và đồng thời cũng nhằm răn đe, phòng ngừa tội phạm chung.
[4] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015, xét tính chất vụ án và hoàn cảnh của các bị cáo nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
[5] Về trách nhiệm dân sự:
Tại phiên tòa bị hại vắng mặt nhưng qua hồ sơ thể hiện hại bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không có yêu cầu gì nữa nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về xử lý vật chứng:
- - Đối với 04 hộp đồ chơi Blindbox đựng gấu bông BabyThree, Cơ quan cảnh sát điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại tài sản cho bị hại là ông Nguyễn Minh N1, Hội đồng xét xử xét thấy việc trả lại tài sản là đúng quy định của pháp luật nên nên không xem xét lại.
- - Đối với 01 xe mô tô hiệu Air Blade, biển số 61BA – 059.25. Qua xác minh, xe mô tô trên do anh Đỗ Viết T4 đứng tên chủ sở hữu, ông T4 cho bị cáo T1 mượn đi công việc, không biết T1 sử dụng xe để cướp giật tài sản nên cơ quan điều tra đã trả lại cho ông Đỗ Viết T4 là đúng quy định.
- - Đối với 01 xe máy hiệu Honda SH, biển số: 59P1 – 251.88 của Trần Quốc B khai mượn xe của người quen là anh Nguyễn Trung T5 để làm phương tiện đi lại. Tuy nhiên, theo kết quả giám định thì xe máy này đã bị mài, đục số, không xác định được số nguyên thủy nên tịch thu sung quỹ nhà nước.
- - Đối với 01 xe mô tô hiệu Air Blade, biển số 59G3 – 217.27 của Nguyễn Gia K dùng để thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu sung quỹ nhà nước.
[7] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án.
[8] Quyền kháng cáo: Các bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án theo Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.
[9] Lời phát biểu luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa về tội danh đối với các bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và hình phạt đề nghị áp dụng đối với các bị cáo phù hợp với quy định pháp luật được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố các bị cáo Võ Văn G, Nguyễn Quốc H, Đỗ Viết T1, Nguyễn Gia K, Lê Bảo K1 và Trần Quốc B phạm tội “Cướp giật tài sản”;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 171; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 65, Điều 91; Khoản 1 Điều 101 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Võ Văn G 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng, tính từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 171; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 65, Điều 91; Khoản 1 Điều 101 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt các bị cáo Trần Quốc B 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng, tính từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường C, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 171; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 65, của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc H 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 24 (hai mươi bốn) tháng, tính từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 171; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 65, của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Đỗ Viết T1 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 24 (hai mươi bốn) tháng, tính từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 171; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 65, của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt các bị cáo Nguyễn Gia K 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 24 (hai mươi bốn) tháng, tính từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 171; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt các bị cáo Lê Bảo K1 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án, nhưng được cấn trừ thời gian bị cáo tạm giữ tạm giam từ ngày 06/12/2024 đến ngày 24/01/2025).
Trong thời gian thử thách, các bị cáo được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Trong trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự năm 2019;
Căn cứ Điều 46; Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và khoản 1, khoản 2, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Tịch thu sung quỹ: 01 xe máy hiệu Honda SH, biển số: 59P1 – 251.88 và 01 xe mô tô hiệu Air Blade, biển số 59G3 – 217.27.
Theo Phiếu nhập kho vật chứng số 30/PNK ngày 24/01/2025 và Phiếu nhập kho vật chứng số 78/PNK ngày 14/02/2025.
Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Luật Phí và Lệ phí; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án;
Mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Bằng chữ: Hai trăm nghìn đồng).
Căn cứ Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015;
Các bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày được tính từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày niêm yết.
Căn cứ Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008;
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014).
(Đã giải thích chế định án treo)
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Minh Loan |
Bản án số 162/2025/HS-ST ngày 19/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về cướp giật tài sản
- Số bản án: 162/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: cướp giật tài sản
