Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 162/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 16-6-2025

V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thu Hiền.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Chiến

Ông Ngô Văn Bê

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Khôi - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Bà Hà Thị Hải.

Ngày 16 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 165/2025/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 5 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 136/2025/QĐ-ST ngày 05/6/2025 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Trần Thị Hương T, sinh ngày 16/01/1982 (vắng mặt)

Nơi cư trú: thôn B, xã N, huyện T, tỉnh Bắc Giang.

Hiện đang tạm trú tại: số D đường A, KP3-phường H, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh.

Căn cước công dân số: [...]

  1. Bị đơn: Anh Trần Đình V, sinh ngày 20/10/1980 (vắng mặt)

Nơi cư trú: thôn B, xã N, huyện T, tỉnh Bắc Giang.

Hiện đang lao động tại Nhật Bản.

Chứng minh nhân dân: [...]

Anh V ủy quyền cho anh Hoàng Văn H, sinh năm 1989; Nơi cư trú: tổ dân phố Y, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang giao nhận tài liệu với Tòa án (không triệu tập).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện về việc xin ly hôn và bản tự khai, nguyên đơn chị Trần Thị Hương T trình bày:

Về hôn nhân: Trước khi kết hôn chị, anh V được tự do tìm hiểu rồi đi đến hôn nhân. Khi cưới được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục của địa phương, có đăng ký kết hôn ngày 09/7/2007 tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện T, tỉnh Bắc Giang. Sau khi kết hôn anh chị về Bắc Giang sinh sống và chung sống hòa thuận cùng anh V. Do điều kiện kinh tế khó khăn nên năm 2018 anh V đi lao động tại Nhật Bản. Sang Nhật Bản vợ chồng vẫn hòa thuận nhưng đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn, nên từ tháng 5/2020 vợ chồng không còn quan tâm đến nhau, ai có cuộc sống riêng của người đó. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống. Trong thời gian thuẫn vợ chồng nhiều lần nói chuyện với mong muốn tiếp tục chung sống để chăm sóc con nhưng do bất đồng quan điểm quá lớn nên không có kết quả. Khi hai bên gia đình biết chuyện có gọi điện khuyên bảo vợ chồng về đoàn tụ nhưng chị xác định không còn tình cảm nên không về đoàn tụ được. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Trần Đình V. Do chị thay đổi công việc nên năm 2023 chị chuyển vào Thành phố Hồ Chí Minh sinh sống từ đó đến nay.

Về con chung: Chị và anh V có 03 con chung là cháu Trần Nhất L, sinh ngày 18/5/2007, cháu Trần Thị Yến N, sinh ngày 18/5/2009; cháu Trần Đình Q, sinh ngày 06/7/2013. Hiện nay các cháu đang sinh sống cùng chị. Sau khi ly hôn chị đề nghị giao 03 con chung cho chị trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

Về cấp dưỡng nuôi con: chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản, công nợ chung: chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngoài ra chị T trình bày: Do bận công việc nên anh đề nghị được vắng mặt tất cả các buổi làm việc mà Tòa án triệu tập, vắng mặt tại các phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và các phiên tòa xét xử.

Theo bản tự khai đề ngày 14/5/2025 (có xác nhận của Đ tại Nhật Bản), bị đơn anh Trần Đình V trình bày:

Về hôn nhân: Trước khi kết hôn anh, chị T được tự do tìm hiểu rồi đi đến hôn nhân. Khi cưới được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục của địa phương, có đăng ký kết hôn ngày 09/7/2007 tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện T, tỉnh Bắc Giang. Sau khi kết hôn anh chị về Bắc Giang sinh sống, vợ chồng chung sống hòa thuận. Do điều kiện kinh tế khó khăn nên năm 2018 anh đi lao động tại Nhật Bản, chị T ở nhà chăm sóc con. Sang Nhật Bản vợ chồng vẫn hòa thuận nhưng đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn nên từ tháng 5/2020 vợ chồng không còn quan tâm đến nhau, ai có cuộc sống riêng của người đó. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống. Trong thời gian thuẫn vợ chồng nhiều lần nói chuyện với mong muốn tiếp tục chung sống để chăm sóc con nhưng do bất đồng quan điểm quá lớn nên không có kết quả. Khi hai bên gia đình biết chuyện có gọi điện khuyên bảo vợ chồng về đoàn tụ nhưng anh xác định không còn tình cảm nên không về đoàn tụ được. Từ khi đi lao động nước ngoài đến nay anh chưa về nước thăm gia đình lần nào. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn nên chị T đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh, anh đồng ý. Anh đồng ý để Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang giải quyết vụ án.

Về con chung: anh, chị T có 03 con chung là cháu Trần Nhất L, sinh ngày 18/5/2007, cháu Trần Thị Yến N, sinh ngày 18/5/2009; cháu Trần Đình Q, sinh ngày 06/7/2013. Hiện nay các cháu đang sinh sống cùng chị T. Sau khi ly hôn anh đề nghị giao 03 con chung cho chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

Về cấp dưỡng nuôi con: anh và chị T tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản, công nợ chung: anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngoài ra anh V trình bày: Do bận công việc nên anh đề nghị được vắng mặt tất cả các buổi làm việc mà Tòa án triệu tập, vắng mặt tại các phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và các phiên tòa xét xử do Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang mở ra. Anh ủy quyền cho anh Hoàng Văn H, sinh năm 1989; Nơi cư trú: tổ dân phố Y, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang thay mặt anh giao nộp các tài liệu, văn bản chứng cứ, nộp tiền tạm ứng án phí cho Tòa án và nhận các văn bản tố tụng của Tòa án.

Cháu Trần Nhất L, Trần Thị Yến N, Trần Đình Q trình bày: Các cháu hiện đang sinh sống cùng mẹ tại số D đường A, KP3-phường H, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh. Quá trình chung sống các cháu được mẹ chăm sóc chu đáo, cẩn thận, được đưa đi học đầy đủ, được nấu cơm cho ăn, các cháu phát triển ổn định cả về thể chất lẫn tinh thần. Bố các cháu hiện vẫn sinh sống và làm việc tại nước ngoài nhưng vẫn gọi điện hỏi thăm các cháu. Do bố các cháu đang sinh sống tại nước ngoài, chưa về nước sinh sống nên nếu bố mẹ ly hôn các cháu muốn sinh sống cùng mẹ.

Tại phiên tòa, chị T, anh V vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử tóm tắt nội dung vụ án, công bố đơn khởi kiện, bản tự khai của chị T, anh V, biên bản ghi lời khai cháu L, N, Q và thông qua các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang phát biểu về việc tuân theo pháp luật về tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án.

Về việc chấp hành pháp luật của đương sự: Nguyên đơn chị Trần Thị Hương T, bị đơn anh Trần Đình V có đơn xin xét xử vắng mặt, thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình được quy định trong Bộ luật Tố tụng dân sự. Căn cứ các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử, xét xử vắng mặt chị T, anh V là đúng theo quy định của pháp luật.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, 53, 56, 81, 82, 83, khoản 2 Điều 123 và Điều 127 Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271; Điều 273, khoản 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTBVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Hương T; xử:

Về hôn nhân: chị Trần Thị Hương T được ly hôn anh Trần Đình V.

Về con chung: Giao cháu Trần Thị Yến N, sinh ngày 18/5/2009; cháu Trần Đình Q, sinh ngày 06/7/2013 cho chị Trần Thị Hương T là người trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Đối với cháu Trần Nhất L, sinh ngày 18/5/2007 đến ngày xét xử cháu L đủ 18 tuổi cháu phát triển bình thường nên không giải quyết.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: không đặt ra xem xét vì chị T, anh V không yêu cầu.

Chị T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được công bố tại phiên toà, ý kiến của đại diện Việ kiểm sát. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp: chị Trần Thị Hương T khởi kiện xin ly hôn anh Trần Đình V và yêu cầu giải quyết nuôi con chung. Vì vậy, đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2]. Về thẩm quyền giải quyết: anh Trần Định V1 là bị đơn có nơi thường trú tại tỉnh Bắc Giang, hiện đang sinh sống, làm việc tại Nhật Bản. Do vụ án có bị đơn là anh V1 đang ở nước ngoài, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang theo quy định tại khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3]. Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn chị Trần Thị Hương T, bị đơn anh Trần Đình V đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị T, anh V

[4]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Hương T và anh Trần Đình V kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 09/7/2007 tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện T, tỉnh Bắc Giang. Đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Quá trình chung sống vợ chồng chị T, anh V phát sinh mâu thuẫn. Chị T khởi kiện xin ly hôn anh V.

Xét yêu cầu xin ly hôn của chị T với anh V, Hội đồng xét xử thấy: Tại bản tự khai chị T, anh V đều xác định vợ chồng không còn tình cảm, đã ly thân nhau một thời gian dài, không còn liên lạc với nhau, ai có cuộc sống riêng của người đó. Nên Hội đồng xét xử xác định vợ chồng anh V, chị T không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị T với anh V là phù hợp với tình trạng hôn nhân thực tế, phù hợp với Điều 51, Điều 53, Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình cũng như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.

[5]. Về con chung: chị T, anh V có 03 con chung là cháu Trần Nhất L, sinh ngày 18/5/2007, cháu Trần Thị Yến N, sinh ngày 18/5/2009; cháu Trần Đình Q, sinh ngày 06/7/2013. Sau khi ly hôn, anh V, chị T đều thống nhất giao 03 con chung cho chị T là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giao dục con chung.

Xét yêu cầu giao nuôi con chung của chị T, anh V, Hội đồng xét xử thấy: chị T, anh V đều thống nhất giao các con chung cho chị T là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Tuy nhiện tại phiên tòa xét xử sơ thẩm ngày 16/6/2025 cháu Trần Nhất L, sinh ngày 18/5/2007 đã đủ 18 tuổi, cháu phát triển bình thường nên Hội đồng xét xử không xem xét giao cháu L cho chị T nuôi dưỡng. Đối với cháu Trần Thị Yến N, sinh ngày 18/5/2009; cháu Trần Đình Q, sinh ngày 06/7/2013 đề nghị của chị T, anh V giao các con chung cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, Hội đồng xét xử thấy, hiện cháu N, cháu Q đang sinh sống ổn định cùng chị T. Xét thấy việc thống nhất, thỏa thuận của chị T, anh V là tự nguyện, đảm bảo quyền lợi của con chung nên căn cứ Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình. Giao cháu Trần Thị Yến N, sinh ngày 18/5/2009; cháu Trần Đình Q, sinh ngày 06/7/2013 cho chị Trần Thị Hương T nuôi dưỡng cho đến khi cháu N và cháu Q đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định pháp luật là phù hợp tình hình thực tế cũng như nguyện vọng của các con chung và như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa.

[6]. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Do chị T, anh V không yêu cầu nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

[7]. Về tài sản chung, công nợ: Do chị T, anh V không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

[8]. Về án phí: Chị Trần Thị Hương T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang.

[9]. Về quyền kháng cáo: Theo Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự, chị T vắng mặt tại phiên tòa nhưng có mặt ở Việt Nam, có thời hạn kháng cáo bản án là 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Theo Điều 271, khoản 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự, anh V đang ở nước ngoài không có mặt tại phiên tòa, có thời hạn kháng cáo bản án là 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 2 Điều 21, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, khoản 2 Điều 123, Điều 127 Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, khoản 2 Điều 479 Bộ Luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án; xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Hương T

  1. Về hôn nhân: Chị Trần Thị Hương T được ly hôn anh Trần Đình V.
  2. Về con chung: Giao cháu Trần Thị Yến N, sinh ngày 18/5/2009; cháu Trần Đình Q, sinh ngày 06/7/2013 cho chị Trần Thị Hương T là người trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

Sau khi ly hôn, anh Trần Đình V không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở anh V thực hiện quyền này.

  1. Về án phí: Chị Trần Thị Hương T phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0005745 ngày 19/5/2025 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang. Xác nhận chị Trần Thị Hương T đã nộp đủ án phí sơ thẩm.
  2. Về quyền kháng cáo bản án:

Chị Trần Thị Hương T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Anh Trần Đình V có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • -VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • -Cục THADS tỉnh Bắc Giang;
  • -UBND xã N, huyện T, tỉnh Bắc Giang
  • -Cổng thông tin điện tử TAND;
  • -Các đương sự;
  • -Lưu hồ sơ vụ án, tổ HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Hoàng Thị Thu Hiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 162/2025/HNGĐ-ST ngày 16/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về ly hôn, tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 162/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp nuôi con giữa chị T và anh V
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger