Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:162/2025/DS-PT

Ngày: 17/3/2025

V/v tranh chấp đòi tài sản.

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Tuyết Băng
Các Thẩm phán: Ông Vũ Viết Văn
Bà Đặng Mai Hoa
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Lưu Ly- Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội tham gia phiên toà:

Ông Lê Đức Phương - Kiểm sát viên.

Trong ngày 17/3/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội, xét xử phúc thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số 496/2024/TLPT-DS ngày 14/11/2024, về việc “ Tranh chấp đòi tài sản”.

Do bản án số 21/2024/DS-ST ngày 21/3/2024 của Tòa án nhân dân quận Thành Xuân, thành phố Hà Nội bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 573 /2024/QĐ-PT ngày 20/12/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 686/2024/QĐPT-HPT ngày 30/12/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 22/2025/QĐPT-HPT ngày 09/01/2025; Thông báo mở lại phiên tòa số 75/2025TB-TA ngày 04/3/2025 giữa:

*Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Lệ T, Sinh năm 1972

Địa chỉ: C N, phường K, quận T, thành phố Hà Nội.

- Ông Nguyễn Văn H, Sinh năm 1976;

Địa chỉ: Căn hộ S, tầng 8 tháp B, dự án tháp nhà ở cao tầng M, tổ dân phố H, phường M, quận N, Hà Nội.

Người đại diện theo uỷ quyền của bà T, ông H: Bà Nguyễn Thị Thúy K, sinh năm 1977; Địa chỉ: A H, phường N, quận B, Hà Nội.

(Có mặt).

Bị đơn: Bà Nguyễn Phương H1, Sinh năm 1959;

Địa chỉ: P, Tòa A Khu đô thị T, phường N, quận T, Hà Nội.

Người đại diện theo ủy quyền của bà H1: Bà Nguyễn Phương T1 - Văn phòng Luật sư Tuấn L thuộc Đoàn Luật sư thành phố H.

(Có mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Công ty cổ phần Đ

    Địa chỉ: P604 Tòa nhà A Khu đô thị T, phường N, quận T, Hà Nội.

    Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Phương H1 – Chủ tịch HĐQT

    Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Phương T1 - Văn phòng L3 thuộc Đoàn Luật sư thành phố H.

    (Có mặt).

  2. Ông Trần Doãn T2, sinh năm 1953

    Địa chỉ: P, Tòa A Khu đô thị T, phường N, quận T, Hà Nội

    Người đại diện theo ủy quyền: Bà Lê Thị H2 - Văn phòng L3 thuộc Đoàn Luật sư thành phố H. (Có mặt).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Nguyễn Phương H1; Công ty cổ phần Đ và ông Trần Doãn T2: Bà Lê Thị Bích L1 – Luật sư Văn phòng L3 thuộc Đoàn Luật sư thành phố H.

(Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện và ý kiến của nguyên đơn, người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án trình bày: Xuất phát từ mối quan hệ giữa bà Nguyễn Thị Lệ T và bà Nguyễn Phương H1 là chị em họ hàng cùng làm ăn với nhau nên nhiều lần bà T và ông H đã góp vốn cùng làm ăn với bà H1. Cách thức mà bà T, ông H góp vốn cùng làm ăn với bà Nguyễn Phương H1 như sau: Bà H1 thông báo với bà T, ông H là có dự án có thể đầu tư với lợi nhuận tốt, cần góp với số tiền để nhận được số mét vuông sàn xây dựng căn hộ. Sau đó bà T, ông H, mỗi người đóng góp 50% và nộp tiền cho bà H1 để bà H1 tự làm việc với các chủ đầu tư, chủ dự án, vì là chỗ thân quen nên giữa ông H, bà T thống nhất làm việc, nộp tiền, chốt công nợ với bà H1 có thể do ông H hoặc bà T đứng ra ký kết, giao tiền, chốt công nợ. Sau khi chủ đầu tư phân cho sàn xây dựng căn hộ thì bà H1 tự bán và trả lại vốn đầu tư gốc và phân chia lợi nhuận cho ông H, bà T. Kết thúc mỗi dự án, bà H1 đều nợ lại ông H, bà T một khoản tiền và đều cam kết về thời gian trả nợ.

Ngày 22/10/2009, bà T ký Hợp đồng Hợp tác đầu tư số 03/2009/HĐHT với Công ty cổ phần Đ (Gọi tắt là “Công ty Đ”) về việc góp vốn đầu tư dự án G, giá trị hợp đồng là 120.042.400.000 đồng. Việc góp vốn được thực hiện theo từng giai đoạn của hợp đồng.

Ngày 23/10/2009, ông H ký hợp đồng Hợp tác đầu tư số 01/2012/HĐHT với Công ty Đ về việc góp vốn đầu tư dự án G, giá trị hợp đồng 38.400.000.000 đồng. Việc góp vốn được thực hiện theo từng giai đoạn của hợp đồng.

Quá trình thực hiện hợp đồng, các bên đã thống nhất phương thức góp vốn cho hai hợp đồng trên như sau: Ông H và bà T gửi vào tài khoản của Công ty Đ số tiền 44.031.600.000 đồng. Số tiền còn lại bà H1 tự khấu trừ vào số tiền của các dự án khác giữa hai bên còn tồn đọng lại, cụ thể: Dự án H (thành phố X), số tiền bà T ông H được nhận lại là: 24.000.000.000 đồng; tiền bán 767m² sàn căn hộ N04, số tiền bà T, ông H được hưởng là 11.186.757.400 đồng (01 tháp đã bị trả lại cho bà H3 nên chỉ tính toán phân chia lợi nhuận của 01 tháp).

Ban đầu, bà H1 xác nhận đã nộp toàn bộ số tiền 79.218.357.400 đồng của bà T, ông H theo 02 hợp đồng trên vào dự án. Tuy nhiên, bà T, ông H tìm hiểu và được biết, Công ty Đ chỉ nộp 58.691.678.150 đồng (44.031.600.000 đồng và 14.660.078.150 đồng khấu trừ từ các khoản nợ của bà H1 tại các dự án). Số tiền còn lại bà H1 còn nợ, bà H1 và Công ty Đ chưa nộp cho Chủ đầu tư để thực hiện hai hợp đồng nói trên. Do vậy giữa hai bên đã nhiều lần gặp gỡ để xác nhận công nợ, cụ thể bà H1 phải sang tên hợp đồng góp vốn số tiền này cho bà T, ông H với chủ đầu tư mà bà H1 đã thực hiện. Dưới sự hỗ trợ của Chủ đầu tư là Công ty M và Công ty I giúp hai bên hoà giải, đã tính toán số tiền thực góp, thực nhận vào dự án để thanh lý Hợp đồng với Công ty Đ và Chủ đầu tư ký hợp đồng với từng bên. Chủ đầu tư cũng đã thanh lý hết các hợp đồng với Công ty Đ. Đồng thời ông H bà T và bà H1 cũng đồng ý thoả thuận, bà H1 sang tên 05 căn hộ đã góp vốn mà bà H1 đang đứng tên trong dự án N04 để trả cho ông H và bà T trực tiếp tự đứng tên với Chủ đầu tư. Do đó tổng số tiền góp vốn được trừ đi là 8.517.461.500 đồng được khấu trừ vào khoản tiền 79.218.357.400 đồng. Do vậy, số tiền còn lại cụ thể như sau: 79.218.357.400 đồng – 58.691.678.150 đồng – 8.517.461.500đồng = 12.009.217.750 đồng. Số tiền 12.009.217.750 đồng đã được bà T, ông H và bà H1 chốt trong biên bản thoả thuận ngày 02/12/2016.

Tại Quyết định giám đốc thẩm số 59/2021/DS-GĐT ngày 14/9/2021 nhận định: “ Nguyên đơn hợp tác đầu tư là nộp tiền cho Công ty Đ và số tiền mà các nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả là số tiền Công ty Đ nợ các nguyên đơn” là không đúng vì quá trình nguyên đơn góp vốn đầu tư với bị đơn từ giữa năm 2009, nguyên đơn có nhiều khoản tiền góp trực tiếp với bà H1 như trong dự án Thành phố X, ông H bà T đưa tiền trực tiếp cho bà H1 mà không thông qua Công ty Đ. Sau khi kết thúc dự án này, tổng số tiền Nguyên đơn được nhận lại cả gốc và lãi là 24.000.000.000đồng (20 tỷ gốc và 4 tỷ lãi). Bà H1 đã không hoàn trả cho ông H và bà T khi kết thúc đầu tư mà thuyết phục ông H và bà T tiếp tục đầu tư, có xác nhận số tiền này được chuyển đầu tư tiếp dự án G. Mặt khác căn cứ tài liệu là các biên bản làm việc của bà H1 tại Cơ quan điều tra Công an thành phố H, bà

H1 đều thừa nhận cá nhân bà H1 còn nợ lại ông H bà T số tiền là 12.009.217.750đồng sau khi tính toán khấu trừ các khoản nợ khác, đồng thời cam kết sẽ trả cho ông H bà T trong vòng 40 ngày kể từ ngày 24/7/2013. Hơn nữa đối với các Hợp đồng hợp tác đầu tư mà ông H bà T đã ký với Công ty Đ thì giữa thì ông H, bà T và Công ty Đ đã được các bên cùng thống nhất thanh lý hết để ông H bà T tự ký trực tiếp với Chủ đầu tư, giữa các bên không còn liên quan vướng mắc gì nên không có căn cứ để xác định đây là số tiền Công ty Đ còn nợ ông H bà T.

Tại biên bản thỏa thuận ngày 02/12/2016 bà H1 trình bày “Theo các chứng từ của bên A (bà H1) nộp tiền cho Công ty I và Công ty M thì đến thời điểm hiện nay, số tiền bên A góp vốn đang tồn đọng tại 02 đơn vị này là – Công ty I 7.200.146.000đồng..., Công ty M 1.560.000.000đồng, vì vậy toàn bộ số tiền bên B (ông H) góp vốn vẫn đang tồn đọng tại hai đơn vị trên”. Tuy nhiên thực tế hiện nay Công ty I và Công ty M xác nhận không còn có khoản nợ nào của Công ty Đ hay cá nhân bà H1 liên quan đến hai dự án bà H1 đã nêu. Do vậy số tiền bà H1 xác nhận còn nợ lại là 12.009.217.750 đồng là của cá nhân bà H1 chiếm dụng vốn của nguyên đơn, không liên quan đến Công ty Đ. Bà T, ông H đã nhiều lần yêu cầu bà H1 phải số tiền còn nợ nêu trên nhưng bà H1 không trả.

Nay bà T, ông H khởi kiện yêu cầu Toà án buộc bà Nguyễn Phương H1 phải thanh toán trả cho bà T, ông H số tiền 12.009.217.750 đồng theo Biên bản thoả thuận ngày 02/12/2016. Đề nghị Tòa án giải quyết buộc bà Nguyễn Phương H1 phải thanh toán trả ông H bà T số tiền còn nợ theo Biên bản thỏa thuận ngày 02/12/2016 là 12.009.217.750 đồng.

* Bị đơn bà Nguyễn Phương H1 và người đại diện theo ủy quyền của bà H1 trong quá trình giải quyết vụ án trình bày: Bà H1 xác nhận có ký Biên bản thoả thuận với ông H ngày 02/12/2016 là đúng. Tuy nhiên biên bản này chỉ được ký một bản duy nhất và các bên đã thống nhất huỷ nhưng không hiểu sao ông H, bà T vẫn có 01 bản để làm căn cứ khởi kiện, việc hủy văn bản này có người làm chứng là Luật sư Nguyễn Thành L2 Công ty L4 là người lập ra biên bản này chứng kiến, do vậy bà H1 khẳng định không có khoản nợ ông H bà T như biên bản thoả thuận này.

Theo biên bản thoả thuận ngày 02/12/2016 thì Nguyễn Phương H1 ký với tư cách là đại diện theo pháp luật của Công ty Đ. Đối với nội dung trình bày của bà H1 tại biên bản thoả thuận ngày 02/12/2016, về việc Công ty I và Công ty M vẫn còn nợ bên A (bà H1). Đến nay mặc dù Công ty I và Công ty M có văn trả lời Toà án là không còn nợ đọng gì đối với Công ty Đ và bà Nguyễn Phương H1 là không đúng. Bà H1 khẳng định hai Công ty này vẫn còn công nợ đối với Công ty Đ. Bà H1 xác nhận ông H, bà T đã nộp tiền vào Công ty Đ để góp vào dự án Golden Palace là 44.031.600.000 đồng và dự án án Thành phố xanh là 24.000.000.000 đồng. Đối với sàn căn hộ 767m2 tại dự án căn hộ N của Công ty I mà ông H, bà T được hưởng số tiền là 11.186.757.400 đồng thì cho đến nay các bên vẫn chưa bán

được sàn này nên việc ông H bà T yêu cầu được hưởng số tiền này là không có căn cứ. Đối với 01 căn hộ được nêu tại Biên bản thoả thuận ngày 02/12/2016 thì bà H1 xác nhận là căn hộ 602 của Tháp B, diện tích 125,9m2 tại Dự án N04 của Công ty I. Hiện nay do Công ty I không hợp tác với Công ty Đ cũng như bà H1 nên đến nay bà H1 chưa cung cấp được cho Toà án.

Đối với ý kiến bà H1 trình bày tại Cơ quan điều tra Công an thành phố H về việc bà nêu cá nhân bà còn nợ ông H, bà T số tiền 12.009.217.750 đồng, việc bà H1 xác nhận này là do buổi chiều cùng ngày làm việc với Cơ quan điều tra bà H1 có một chuyến bay gấp sang bên Mỹ do con gái bị gặp nạn nên bà H1 nghĩ việc ai nợ ai thì có sổ sách, chứng từ chứng minh nên bà H1 đã vội vã ký để xong sớm cho kịp chuyến bay sang Mỹ với con gái.

Bà H1 cho rằng đối với yêu cầu khởi kiện của ông H, bà T về việc yêu cầu bà Nguyễn Phương H1 phải trả số tiền nợ 12.009.217.750 đồng theo biên bản thoả thuận ngày 02/12/2016 là không có căn cứ, vì về tư cách cá nhân bà H1 thì không có bất kỳ khoản nợ nào đối với ông H, bà T. Về tư cách đại diện cho pháp nhân là Công ty Đ thì đối với các Hợp đồng góp vốn giữa ông H, bà T với Công ty Đ để thực hiện các dự án, giữa các bên đã quyết toán và thanh lý xong toàn bộ các khoản vốn góp, không có vướng gì với nhau nữa. Ngược lại ông H, bà T còn có nhận thừa số tiền của V là 780.525.770 đồng theo ba Hợp đồng được ký giữa ông H, bà T với Công ty Đ trong việc đầu tư vào 03 dự án gồm: Dự án thành phố X; Dự án Golden Palace; và Dự án N04. (Theo biên bản giải trình ngày 22/11/2022).

Đối với các Hợp đồng góp vốn giữa Công ty Đ với Công ty I và Công ty M, hai bên vẫn chưa quyết toán với nhau xong.

Do vậy bà H1 đề nghị Tòa án không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông H bà T đối với bà về số tiền nợ 12.009.217.758 đồng.

*Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Quá trình giải quyết vụ án, Công ty cổ phần Đ và ông Trần Doãn T2 do đại diện theo ủy quyền trình bày đồng ý với ý kiến của bà Nguyễn Phương H1 đã nêu và xác nhận đến nay Công ty Đ không còn nghĩa vụ nào liên quan đến ông H bà T.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 06/2019/DS-ST ngày 11/6/2019 của Tòa án nhân dân quận T, thành phố Hà Nội đã quyết định:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị Lệ T.

Buộc bà Nguyễn Phương H1 phải thanh toán cho ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị Lệ T số tiền theo văn bản thỏa thuận ngày 02/12/2016 là 12.009.217.750 đồng.

Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo của các đượng sự theo quy định của pháp luật.

Ngày 18/6/2019 bà Nguyễn Phương H1 có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Tại bản án dân sự phúc thẩm số 381/2019/DS-PT ngày 27/11/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã quyết định:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị Lệ T về yêu cầu đòi tài sản ( là tiền) đối với bà Nguyễn Phương H1.

Buộc bà Nguyễn Phương H1 phải thanh toán cho ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị Lệ T số tiền theo văn bản thỏa thuận ngày 02/12/2016 là 12.009.217.750 đồng.

Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, nghĩa vụ thi hành án của các đương sự theo quy định của pháp luật.

Ngày 11/01/2021 bà Nguyễn Phương H1 có đơn đề nghị theo thủ tục giám đốc thẩm đối với bản án dân sự phúc thẩm.

Tại Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 25/2021/KN-DS ngày 18/5/2021, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao kháng nghị Bản án dân sự phúc thẩm số 381/2019/DS-PT ngày 27/11/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội; Đề nghị Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhâ dân cấp cao tại Hà Nội xét xử giám đốc thẩm, hủy bản án dân sự sơ thẩm số 06/2019/DS-ST ngày 11/6/2019 của Tòa án nhân dân quận T, thành phố Hà Nội; giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân quận T, thành phố Hà Nội xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm đúng quy định của pháp luật.

Tại Quyết định giám đốc thẩm số 59/2021/DS-GĐT ngày 14/9/2021 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội đã quyết định:

  1. Chấp nhận Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 25/2021/KN-DS ngày 18/5/2021 của Chánh án Tòa án nhân dân Tối cao.
  2. Hủy toàn bộ bản án Dân sự phúc thẩm số 381/2019/DS-PT ngày 27/11/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội và Bản án dân sự so thẩm số 06/2019/DS-ST ngày 11/6/2019 của Tòa án nhân dân quận T, thành phố Hà Nội về vụ án “ Tranh chấp đòi tài sản” giữa Nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Lệ T, ông Nguyễn Văn H với Bị đơn là bà Nguyễn Phương H1; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Công ty cổ phần Đ, do ông Doãn Trần T3 đại diện.
  3. Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân quận T, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.

Tại bản án số 21/2024/DS-ST ngày 21/3/2024 của Tòa án nhân dân quận T, thành phố Hà Nội đã quyết định:

  1. [1]. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị Lệ T về yêu cầu đòi tài sản (là tiền) đối với bà Nguyễn Phương H1.
  1. [2]. Buộc bà Nguyễn Phương H1 phải thanh toán trả cho ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị Lệ T số tiền theo văn bản thỏa thuận ngày 02/12/2016 là 12.009.217.750đồng (Mười hai tỷ, không trăm lẻ chín triệu, hai trăm mười bẩy nghìn, bẩy trăm năm mươi đồng).
  2. [3]. Về nghĩa vụ chậm thi hành án: Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.

Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.

Không đồng ý với bản án sơ thẩm ngày 28/3/2024 bị đơn là bà Nguyễn Phương H1 và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là Công ty cổ phần Đ1 do bà Nguyễn Phương H1 là người đại diện theo pháp luật và ông Trần Doãn T2 đều có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị Tòa án không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T, ông H.

Ngày 04/4/2024, Viện trưởng - Viện kiểm sát nhân dân quận T, thành phố Hà Nội có Quyết định kháng nghị số 01/QĐ-KNTP-VKS quyết định kháng nghị đối với Bản án dân sự sơ thẩm số 21/2024/DS-ST ngày 21/3/2024 của Tòa án nhân dân quận T, thành phố Hà Nội. Đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm vụ án theo hướng hủy bán án dân sự sơ thẩm..

Tại phiên tòa Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; Bị đơn bà Nguyễn Phương H1; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là Công ty cổ phần Đ1 do bà Nguyễn Phương H1 là người đại diện theo pháp luật và ông Trần Doãn T2 vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Các đương sự xác nhận ngoài các tài liệu chứng cứ đã xuất trình cho Tòa án thì không còn chứng cứ nào khác để xuất trình cho Tòa án.

Viện kiểm sát vẫn giữ Quyết định kháng nghị. Tuy nhiên đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét sửa bản án sơ thẩm.

Luật sư bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho Bị đơn và Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan sau khi tóm tắt nội dung vụ án và phân tích vụ án có quan điểm: các tài liệu có trong hồ sơ thể hiện Nguyên đơn góp vốn với Công ty cổ phần Đ theo các Hợp đồng hợp tác đầu tư, chứ không phải góp vốn với cá nhân bà Nguyễn Phương H1. Do vậy Tòa án cấp sơ thẩm buộc bà Nguyễn Phương H1 phải thanh toán trả cho ông H, bà T số tiền 12.009.217.750 đồng là không có căn cứ. Hơn nữa đây là khoản tiền Nguyên đơn góp vốn với công ty cổ phần Đ, nên Nguyên đơn khởi kiện bị đơn là bà Nguyễn Phương H1 là không đúng. Vì vậy đề nghị Tòa án xem xét chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Bị đơn và kháng nghị của Viện Kiểm sát nhân dân quận T, thành phố Hà Nội không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội phát biểu quan điểm:

+Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tiến hành đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Các đương sự trong vụ án chấp hành quyền, nghĩa vụ theo quy định của bộ luật tố tụng dân sự.

+ Về nội dung: căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ xét thấy có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Bị đơn là bà Nguyễn Phương H1; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là Công ty cổ phần Đ1 và ông Trần Doãn T2. Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật tố tụng dân sự sửa án sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn; về án phí các đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, căn cứ kết quả hỏi và tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1].Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Phương H1 và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là Công ty cổ phần Đ do bà Nguyễn Phương H1 là người đại diện theo pháp luật; Ông Trần Doãn T2; Quyết định kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân quận T, thành phố Hà Nội đều làm trong thời hạn luật định. Người kháng cáo đã nộp tạm ứng án phí phúc thẩm, nên việc kháng cáo, kháng nghị là hợp lệ. Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội giải quyết là đúng thẩm quyền.

[2].Về nội dung: Xét yêu cầu kháng cáo của Bị đơn bà Nguyễn Phương H1 và của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là Công ty cổ phần Đ; ông Trần Doãn T2 và Quyết định kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân quận T, thành phố Hà Nội. Hội đồng xét xử xét thấy, quá trình giải quyết và tại phiên tòa hôm nay Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Bị đơn là bà Nguyễn Phương H1 phải trả cho Nguyên đơn số tiền 12.009.217.750 đồng theo biên bản thỏa thuận ngày 02/12/2016 ( là số tiền mà bà H1 còn nợ chưa nộp vào công ty Đ để thực hiện 02 hợp đồng hợp tác đầu tư số 03/2009/HĐHT ngày 22/10/2009 giữa bà Nguyễn Thị Lệ T với Công ty Đ và Hợp đồng hợp tác số 01/2009/HDHT ngày 23/10/2009 giữa ông Nguyễn Văn H với Công ty Đ). Bà T, ông H cho rằng sau khi ký hợp đồng ông, bà đã nộp vào Công ty Đ tổng số tiền là 79.218.357.400 đồng (bao gồm 44.031.600.000 đồng ông H, bà T nộp vào tài khoản của Công ty Đ, 24.000.000.000 đồng là số tiền mà bà H1 khấu trừ từ các dự án khác và 11.186.757.400 đồng là số tiền bán 767m2 sàn căn hộ N04). Bà T, ông H cho rằng bà H1 mới chỉ nộp cho chủ đầu tư số tiền 58.691.678.150 đồng và nhận phần của bà H1 khi chuyển nhượng 05 căn hộ tại dự án N04 với số tiền 8.517.461.500 đồng, nên yêu cầu bà H1 phải trả lại số tiền còn nợ.

Bà Nguyễn Phương H1 cho rằng bà không có giao dịch cá nhân nào với bà Nguyễn Thị Lệ T và ông Nguyễn Văn H. Do vậy bà không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T, ông H.

Xét thấy, tại đơn khởi kiện và các văn bản của Nguyên đơn đều trình bày: Ngày 22/10/2009, bà Nguyễn Thị Lệ T và Công ty cổ phần Đ2 ( viết tắt là Công ty Đ) ký hợp đồng hợp tác đầu tư số 03/2009/HĐHT với nội dung bà T góp vốn với Công ty Đ để đầu tư vào dự án G, với giá trị hợp đồng là 120.042.400.000 đồng. Việc góp vốn theo từng giai đoạn của hợp đồng.

Ngày 23/10/2009, ông Nguyễn Văn H và Công ty Đ2 ký hợp đồng hợp tác đầu tư số 01/2009/HĐHT với nội dung ông H góp vốn với Công ty Đ2 để đầu tư vào dự án G, giá trị hợp đồng là 38.400.000.000 đồng. Việc góp vốn được thực hiện theo từng giai đoạn của hợp đồng.

Theo biên bản thỏa thuận ngày 02/12/2016 được ký giữa bên A: Bà Nguyễn Phương H1 và Bên B: Ông Nguyễn Văn H, có nội dung thỏa thuận như sau:

“ Phần ý kiến của bà H1 trình bày: Theo các chứng từ của bên A (bà H1) nộp tiền cho Công ty I và Công ty M thì đến thời điểm hiện nay số vốn bên A đang tồn đọng tại 02 đơn vị này là: Công ty I 7.200.146.300 đồng; Công ty M 1.560.000.000 đồng...; Vì vậy toàn bộ số tiền bên B (ông H) góp vốn vẫn đang tồn đọng tại hai đơn vị trên,

Phần ý kiến của ông H trình bày: Theo biên bản làm việc được ký giữa hai bên thì khoản tiền góp vốn của bên B vào dự án N04 và dự án G mà bên A phải trả là 12.009.217.750 đồng. Bên B (ông H) đề nghị bên A (bà H1) thanh toán số tiền này, trường hợp còn vướng mắc với Công ty M và Công ty I thì hai bên cùng phối hợp giải quyết.

Sau khi trao đổi, hai bên thống nhất: Bên A sẽ tạm chuyển số tiền 6.000.000.000đồng cho bên B bằng quyền sử dụng đất tại dự án H, quận N, thành phố Đà Nẵng với giá 4.500.000đồng/m2 (bốn triệu năm trăm nghìn đồng). Trong thời hạn đến ngày 14/12/2016 hai bên sẽ vào Đà Nẵng hoặc nhờ Công chứng tại Đà Nẵng ra Hà Nội để ký Hợp đồng chuyển nhượng chính thức.

Bên B sẽ chi trả chi phí để lấy sổ đỏ tại chủ đầu tư, chi phí công chứng, khoản thuế và chi phí để thực hiện thủ tục sang tên cho bên B.

Hai bên thống nhất cùng phối hợp với nhau để làm việc với chủ đầu tư dự án N04 – Công ty I và chủ đầu tư dự án G – Công ty M để đòi lại số tiền của bên A”.

Theo nội dung thỏa thuận trên thì không có nội dung nào thể hiện bà Nguyễn Phương H1 thừa nhận số tiền còn nợ tại các dự án và xác nhận bà H1 có trách nhiệm thanh toán trả ông H, bà T số tiền 12.009.217.750 đồng. Hơn nữa, tại biên bản thỏa thuận ngày 02/12/2016 thể hiện số tiền các bên đề cập trong bản thỏa thuận này đều liên quan đến việc góp vốn vào các dự án mà Công ty Đ ký với hai chủ đầu tư dự án.

Quá trình giải quyết và tại phiên tòa bà T, ông H cho rằng ông bà chỉ hợp tác đầu tư góp vốn với cá nhân bà H1, tuy nhiên bà T, ông H đều không xuất trình

được các chứng cứ chứng minh về việc ông bà góp vốn với cá nhân bà H1. Các Hợp đồng hợp tác đầu tư đều thể hiện bà T, ông H là người trực tiếp ký Hợp đồng hợp tác đầu tư với Công ty Đ. Ngoài ra các tài liệu có trong hồ sơ thể hiện ông H, bà T đều nộp tiền cho Công ty Đ, việc nộp tiền của ông H, bà T đều có chứng từ.

Hơn nữa, tại biên bản làm việc số 247/2013/BBLV ngày 24/7/2013 giữa Công ty Đ và bà T, ông H (bên góp vốn) có nội dung: “ Căn cứ biên bản số 01/2013/BBTT ngày 23/7/2013 giữa Công ty Đ và đại diện bên góp vốn là ông H và căn cứ theo số liệu làm việc ngày 24/7/2013 giữa Công ty M, V và bên góp vốn, theo đó V còn nợ bên góp vốn 12.009.217.750 đồng.

Mặt khác, tại Quyết định giám đốc thẩm số 59/2021/DS-GĐT ngày 14/9/2021 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội đã nhận định: “... Nguyên đơn hợp tác đầu tư với công ty Đ, số tiền các Nguyên đơn nộp để thực hiện các hợp đồng hợp tác đầu tư là nộp cho Công ty Đ và số tiền 12.009.217.550 đồng mà Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả là số tiền Công ty Đ nợ các nguyên đơn. Do đó việc Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm xác định đây là khoản nợ của bà H1 và buộc bà H1 phải thanh toán cho ông H, bà T số tiền 12.009.217.750 đồng theo Văn bản thỏa thuận ngày 02/12/2016 là không đúng.

Do đó cần hủy bản án phúc thẩm và bản án sơ thẩm để xét xử sơ thẩm lại....”.

Từ những phân tích trên có cơ sở xác định ông H, bà T ký Hợp đồng hợp tác đầu tư với Công ty Đ2 và số tiền ông H, bà T nộp để thực hiện các hợp đồng hợp tác đầu tư với Công ty Đ, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm lại xác định đây là khoản nợ của bà Nguyễn Phương H1 và buộc bà H1 phải thanh toán trả số tiền 12.009.217.750 đồng cho ông H, bà T là không đúng. Do vậy, chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Bị đơn là bà Nguyễn Phương H1; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là Công ty cổ phần Đ và ông Trần Doãn T2; Chấp nhận Quyết định kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân quận T, thành phố Hà Nội. Nên sửa bản án sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Lệ T và ông Nguyễn Văn H.

Đề nghị của Luật sư bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho Bị đơn là bà Nguyễn Phương H1 và Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là Công ty cổ phần Đ và ông Trần Doãn T2 phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ, nên được chấp nhận.

Đề nghị của Đại diện viện kiểm sát tại phiên tòa sơ thẩm phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ nên được chấp nhận.

* Về án phí: Do sửa án sơ thẩm, nên bà Nguyễn Phương H1; ông Trần Doãn T2; Công ty cổ phần Đ3 không phải chịu án phí phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Khoản 3 Điều 26; Điều 296; khoản 2 Điều 308, Điều 309 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 12, Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Sửa bản án Dân sự sơ thẩm số 21/2024/DS-ST ngày 21/3/2024 của Tòa án nhân quận T, thành phố Hà Nội.
  2. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn là ông Nguyễn Văn H, bà Nguyễn Thị Lệ T.
  3. Về án phí:
    • + Án phí sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Lệ T, ông Nguyễn Văn H phải chịu 120.009.218 đồng án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào 60.000.000 đồng tiền tạm ứng án phí ông, bà đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0005145 ngày 15/8/2018 của Chi cục thi hành án dân sự quận T, thành phố Hà Nội.
    • + Án phí phúc thẩm: Hoàn trả cho Công ty cổ phần Đ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí Công ty đã nộp theo biên lai thu tiền số 0036045 ngày 22/4/2024 của Chi cục thi hành án quận T, thành phố Hà Nội.

Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

  1. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật ngay kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND thành phố Hà Nội;
  • - TAND quận T;
  • - Chi cục THADS quận T;
  • - Đương sự;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

NGÔ TUYẾT BĂNG

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 162/2025/DS-PT ngày 17/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp đòi tài sản

  • Số bản án: 162/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 17/03/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Án dân sự phúc thẩm giải quyết tranh chấp đòi tài sản giữa nguyên đơn Nguyễn Lệ T và bị đơn Nguyễn Phương H
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger