Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ DUY TIÊN

TỈNH HÀ NAM

Bản án số: 162/2024/HS – ST

Ngày: 27 – 11 - 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUY TIÊN, TỈNH HÀ NAM

Thành phần Hội đồng xét xử:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Mạnh Xuân Hải.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Thể và ông Nguyễn Minh Tín;

- Thư ký phiên tòa:

Bà Nguyễn Khánh Vy – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên tham gia phiên tòa:

Ông Nghiêm Văn Tùng – Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 11 năm 2024, tại Tòa án nhân dân thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 163/2024/HSST ngày 14 tháng 11 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 166/2024/QĐXXST ngày 15 tháng 11 năm 2024, đối với:

  1. Bị cáo: Lê Văn Q, sinh năm 1991, tên gọi khác: Không, nơi cư trú: Tổ dân phố K, phường Q, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa; giới tính: Nam; trình độ học vấn: 09/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Lê Văn T và bà Vũ Thị T1; vợ: Trần Thị H (đã ly hôn), con: chưa có; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Không; tạm giữ: Từ ngày 07/09/2024 đến ngày 16/09/2024 chuyển sang tạm giam, hiện bị cáo đang tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh H; có mặt.
  2. Người chứng kiến: Ông Đinh Hồng H1 và ông Nguyễn Đức L; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 06/09/2024, tại đường B, thuộc địa phận Tổ dân phố N, phường T, thị xã D, tỉnh Hà Nam. Tổ công tác công an phường T phát hiện và bắt quả tang Lê Văn Q, sinh năm 1991, trú tại tổ dân phố K, phường Q, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa đang cất giấu trong lòng bàn tay trái 01 gói giấy bạc màu vàng bên trong có chứa chất bột màu trắng dạng cục, bột. Tại chỗ, Q khai nhận chất bột màu trắng trong gói giấy bạc trên là ma túy loại Heroine mà Q vừa mua cất giữ để sử dụng. Tổ công tác đã tiến hành thu giữ, niêm phong vật chứng có liên quan và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang theo quy định.

Vật chứng, đồ vật thu giữ, tạm giữ gồm: 01 gói giấy bạc màu vàng bên trong có chứa chất bột màu trắng dạng cục, bột. Được niêm phong trong phong bì, ký hiệu QT01.

Tại bản Kết luận giám định số 696/KL – KTHS ngày 12/9/2024 của Phòng K Công an tỉnh H kết luận: Mẫu bột màu trắng dạng cục trong phong bì ký hiệu QT01 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,175g, loại: Heroine (H).

Về nguồn gốc số ma túy, Lê Văn Q khai nhận: Khoảng 21 giờ 15 phút ngày 06/09/2024 Q từ phòng trọ ở gần chợ Đ, thuộc phường Đ, thị xã D, tỉnh Hà Nam đi bộ ra đường thì gặp T2 đi xe máy đến (là người Q mới quen, không biết địa chỉ của T2 ở đâu), khi gặp T2 nói “Có tiền không để mua ma túy về sử dụng cùng), Q trả lời “có 100.000 đồng” rồi Quang móc trong túi quần đang mặc ra 100.000 đồng đưa cho T2 và lên xe máy của T2 chở đến khu vực thuộc địa phận phường T, thị xã D, tỉnh Hà Nam, T2 bảo quang xuống xe đứng chờ để T2 đi mua ma túy. Khoảng 10 phút sau T2 quay lại, Q hỏi “Có mua được mua túy không?”, T2 trả lời “Có”. Q lên xe máy của T2 và được chở đi mua dụng cụ về sử dụng ma túy, khi đi đến hiệu thuốc tân dược T2 đưa cho Q gói ma túy vừa mua được và bảo Q đi mua xi lanh, Q cầm gói ma túy T2 đưa cầm trong tay trái rồi đi vào hiệu thuốc thì bị lực lượng Công an đến kiểm tra và bắt quả tang.

Về nguồn gốc số tiền 100.000 đồng Q sử dụng để mua ma túy, Q khai nhận đó là tiền do bản thân lao động mà có.

Cáo trạng số 169/CT – VKS – DT ngày 13 tháng 11 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Văn Q mức án từ 18 tháng đến 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đưa ra quan điểm về hình phạt bổ sung, xử lý vật chứng, và tuyên án phí đối với bị cáo.

Trong phần tranh luận và lời nói sau cùng, bị cáo Lê Văn Q chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét mức án thấp nhất và không tranh luận gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố, những người tiến hành tố tụng nêu trên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác trong vụ án không ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng. Do đó, HĐXX xác định các hành vi, quyết định tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do đó, HĐXX có đủ cơ sở để kết luận:

Hồi 21 giờ 30 phút ngày 06/09/2024 tại tổ dân phố N, phường T, thị xã D, tỉnh Hà Nam Lê Văn Q có hành vi cất giữ trái phép 0,175g ma túy loại Heroine, mục đích để sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang.

Hành vi nêu trên của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, ảnh hưởng xấu trật tự trị an tại địa phương, hành vi cất giữ trái phép chất ma túy mục đích để sử dụng cho bản thân của Lê Văn Q đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Do vậy, Cáo trạng số 169/CT – VKS – DT ngày 13/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam đã truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (TNHS):

Về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự nên là người có nhân thân tốt.

Về tình tiết tăng nặng TNHS: Bị cáo không phải phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ TNHS: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Lê Văn Q đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình. Đối chiếu với quy định của pháp luật, bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[4] Về hình phạt:

Hình phạt chính: Từ nhận định trên, nhận thấy bị cáo là người nghiện ma túy phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng. Vì vậy, HĐXX cần thiết cho bị cáo cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời để bị cáo cải tạo thành công dân tốt mới đáp ứng được yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm trên địa bàn.

Hình phạt bổ sung: Xét thấy hiện bị cáo là người không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

[5] Về các tình tiết khác: Đối với người đàn ông tên là T2 (như bị cáo Q khai) là người đã góp tiền mua ma túy cùng bị cáo ở khu vực thuộc tổ dân phố N, phường T, thị xã D ngày 06/9/2024. Tuy nhiên, ngoài lời khai của Q thì không còn tài liệu, chứng cứ nào khác để xác định làm rõ nhân thân và địa chỉ của người đàn ông tên T2 trên. Vì vậy Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh làm rõ để xử lý là có cơ sở.

[6] Về vật chứng vụ án: Đối với 01 (một) phong bì niêm phong số 696/KTHS có dấu giáp lai của Phòng K - Công an tỉnh H: Quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định đây là mẫu vật hoàn trả sau giám định ma túy, là vật chứng cấm lưu hành nên HĐXX cần tịch thu cho tiêu hủy.

[7] Về án phí: Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.

[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo thực hiện quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Từ nhận định trên:

QUYẾT ĐỊNH

1. Về hình sự:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Lê Văn Q 20 (hai mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 07/09/2024.

2. Về vật chứng:

Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu cho tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong số 696/KTHS có dấu giáp lai của Phòng K - Công an tỉnh H. (Đặc điểm vật chứng như biên bản giao nhận giữa Công an thị xã D, tỉnh Hà Nam và Chi cục thi hành án Dân sự thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam ngày 13/11/2024).

3. Về án phí hình sự sơ thẩm:

Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo Lê Văn Q phải nộp 200.000 đồng.

Báo cho bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./

Nơi nhân:

  • - TAND tối cao;
  • - TAND tỉnh Hà Nam;
  • - VKSND tỉnh Hà Nam;
  • - Cơ quan CSĐT Công an thị xã Duy Tiên;
  • - VKSND thị xã Duy Tiên;
  • - Chi cục THADS thị xã Duy Tiên;
  • - Cơ quan THAHS Công an tx Duy Tiên;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Nam;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Hà Nam;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Mạnh Xuân Hải

5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 162/2024/HS – ST ngày 27/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUY TIÊN, TỈNH HÀ NAM về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 162/2024/HS – ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUY TIÊN, TỈNH HÀ NAM
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Văn Quang phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger