|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 162/2024/HS-ST Ngày: 22 - 8 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Kiều Lương
Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Quang Huy
Bà Nguyễn Thị Mến
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Ngân - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Dũng – Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai tiến hành xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 175/2024/TLST-HS ngày 17/7/2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 184/2024/QĐXX-ST ngày 31/7/2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Huỳnh Nguyễn Quốc C. Tên gọi khác: không. Sinh ngày 08/10/1996, tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Nơi cư trú: 46/41/18 V, Khu phố C, Phường D, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: Lớp 12/12. Dân tộc: Kinh. Giới tính: Nam. Tôn giáo: Không. Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Huỳnh Văn T, sinh năm 1965 và con bà Nguyễn Thị Xa T1, sinh năm 1968. Bị cáo là con duy nhất trong gia đình. Có vợ là Trần Diễm T2 sinh năm 1996 và có 01 con sinh năm 2017. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt trong trường hợp quả tang ngày 27/6/2023, chuyển tạm giam ngày 06/7/2023 và hiện nay đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an Đ. (Bị cáo có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
1. Nội dung chính: Trên cơ sở kết quả điều tra đã xác định được như sau:
Tháng 6/2023, Huỳnh Nguyễn Quốc C đi đến khu vực cửa khẩu B1 thuộc huyện N, tỉnh Kon Tum gặp người tên B (không rõ nhân thân lai lịch) đặt mua hai khẩu súng ngắn giá 10.000.000 đồng một khẩu. Ngày 15/6/2023 C đi đến địa điểm trên đưa cho B 20.000.000 đồng, thì B giao cho C hay khẩu súng gồm: 01 khẩu súng ngắn màu trắng, 01 khẩu súng ngắn màu đen bên trong hộp tiếp đạn có 04 viên đạn đựng trong túi nylon màu đen. C mang theo súng, đạn trên về phòng trọ không nhớ địa chỉ (tại thành phố P, tỉnh Gia Lai cất giấu. Đến ngày 25/6/2023, C mang theo số súng, đạn đã mua và đi cùng Nguyễn Hữu P (sinh năm 1992, nơi cư trú 188/2 Nguyễn Thị K, tổ A, khu phố A, phường H, Quận A, Thànhphố H) về thành phố B, tỉnh Đồng Nai để hẹn gặp Nguyễn Quang H (sinh năm 1981, nơi cư trú 12C tổ B, khu phố D, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai). Khoảng trưa ngày 26/6/2023, C, P gặp H tại thành phố B rồi cùng thuê xe ô tô đi đến cơ sở lưu trú tên P1 thuộc ấp A, xã H, huyện V (C không cho H, P biết có mang theo súng, đạn) để chơi và sử dụng ma túy. Đến nơi, C cất giấu súng, đạn tại khu vực bàn đá (gần căn nhà số A). Đến 03 giờ 00 phút ngày 27/6/2023, Công an huyện V đến kiểm tra, phát hiện bắt quả tang thu giữ tại khu vực bàn đá (gần căn nhà số A) 01 khẩu súng có chữ ZORAKI MOD 914-TD AUTO A3IZR3DTSO1-2200722 màu đen bên trong có 04 viên đạn màu vàng, đầu đạn màu đen, đáy viên đạn có chữ 9mm PAKIASGLD; 01 khẩu súng có chữ OX-4170 màu trắng Huỳnh Nguyễn Quốc C khai nhận là của C và thu giữ một số đồ vật liên quan đến hành vi phạm tội về ma túy (đã được khởi tố điều tra, xử lý giải quyết ở vụ án khác). Bị cáo Huỳnh Nguyễn Quốc C trong quá trình điều tra khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.
2. Giám định và kết luận giám định:
Kết luận giám định số 4385/KL-KTHS ngày 17/7/2023 của Phân viện khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận về khẩu súng, đạn thu giữ của thu giữ của Huỳnh Nguyễn Quốc C:
- Khẩu súng gửi giám định ký hiệu A là súng ngắn quân dụng cỡ nòng 7,65mm. Súng thường sử dụng để bắn với đạn quân dụng cỡ (7,65x17)mm, trúng cơ thể người có thể gây thương tích hoặc tử vong.
- Khẩu súng ngắn gửi giám định ký hiệu A1 là súng bán tự động ZORAKI MOD914-TD, sử dụng để bắn đạn công cụ hỗ trợ cỡ (9x22)mm.
- 04 (bốn) viên đạn gửi giám định ký hiệu A2 là đạn cao su cỡ (9x22)mm, loại đạn này thường sử dụng để bắn cho một số công cụ hỗ trợ cỡ 9mm.
- Súng và đạn gửi giám định (ký hiệu A1 và A2) là công cụ hỗ trợ, không phải vũ khí quân dụng hoặc có tính năng tác dụng tương tự vũ khí quân dụng.
3. Về biện pháp tư pháp:
Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai tuyên:
- Tịch thu và giao Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Đ quản lý: 01 khẩu súng có chữ OX-4170 màu trắng.
4. Truy tố: Cáo trạng số 110/CT-VKS-P1 ngày 15/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai đã truy tố bị cáo “Tàng trữ, vận chuyển trái phép vũ khí quân dụng” theo quy định tại khoản 1 Điều 304 Bộ luật Hình sự.
5. Ý kiến của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo xác định tất cả lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay là hoàn toàn tự nguyện, không bị ép buộc hay bức cung. Kết luận điều tra cũng như bản cáo trạng truy tố bị cáo ra trước tòa hoàn toàn phù hợp với hành vi của bị cáo đã thực hiện. Bị cáo không có gì để nói thêm.
6. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa:
6.1. Về tội danh, trách nhiệm hình sự, quan điểm truy tố và điều luật áp dụng:
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm xử lý đối với vụ án và giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Huỳnh Nguyễn Quốc C về tội “Tàng trữ, vận chuyển trái phép vũ khí quân dụng”, theo quy định tại khoản 1 Điều 304 Bộ luật Hình sự
6.2. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
6.3. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong suốt quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải, có hoàn cảnh gia đình khó khăn, là dân lao động. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
6.4. Điều luật áp dụng và mức án đề nghị:
Áp dụng khoản 1 Điều 304 điểm s khoản 1 và 2 Điều 51, Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).
Đề nghị xử phạt bị cáo mức án từ 01 (một) năm đến 02 (hai) năm tù.
6.5. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 và 48 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu và giao cho Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Đ quản lý 01 khẩu súng có chữ OX-4170 màu trắng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Trong suốt quá trình điều tra, truy tố và xét xử cũng như tại phiên tòa, hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng phù hợp với quy định của Pháp luật Tố tụng hình sự, các văn bản tố tụng được tống đạt hợp lệ và đầy đủ, quyền được bào chữa và tự bào chữa của bị cáo, được bảo đảm, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều phù hợp.
[2] Về nội dung vụ án.
2.1. Hành vi của bị cáo bị truy tố:
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các chứng cứ đã được thu thập có tại hồ sơ, kết quả giám định vật chứng, biên bản thu nhận vật chứng, biên bản khám xét cùng các chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ trong vụ án, thể hiện: Vào ngày 15/6/2023, tại khu vực của khẩu Bờ Y thuộc huyện N, tỉnh Kon Tum, Huỳnh Nguyễn Quốc C có hành vi mua tàng trữ 01 khẩu súng ngắn quân dụng có chữ OX-4170 màu đen giá 10.000.000 đồng. Sau đó, C mang phòng trọ (không nhớ địa chỉ cụ thể tại thành phố P, tỉnh Gia Lai) cất giấu. Đến ngày 26/6/2023, C tiếp tục mang khẩu súng trên đến cơ sở lưu trú tên P1 thuộc ấp A, xã H, huyện V cất giấu tại khu vực bàn đá (gần căn nhà số A) đến 03 giờ 00 phút ngày 27/6/2023 thì bị Công an huyện V đến kiểm tra, phát hiện bắt quả tang.
Hành vi của bị cáo thực hiện đã phạm vào tội “Tàng trữ, vận chuyển trái phép vũ khí quân dụng” được quy định tại khoản 1 Điều 304 Bộ luật Hình sự.
2.2. Đánh giá về tính chất, mức độ, hành vi của bị cáo:
Hành vi của bị cáo thực hiện đã trực tiếp xâm phạm đến an toàn công cộng bằng việc vi phạm các quy định của Nhà nước về chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán và quản lý vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự là khách thể được pháp luật bảo vệ. Vì vậy, đối với bị cáo cần phải áp dụng hình phạt phù hợp với hành vi của bị cáo đã thực hiện nhằm mục đích giáo dục và răn đe phòng ngừa tội phạm nói chung.
[3]. Về hình phạt áp dụng cho bị cáo:
3.1. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
3.2. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, thuộc thành phần lao động. Đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[4] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa về hành vi phạm tội, tội danh và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được ghi nhận.
[5] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Đối với 01 khẩu súng ngắn màu trắng trên thân sung có ký hiệu “OX-4170” là vũ khí quân dụng. Do đó, tịch thu và giao cho Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Đ quản lý.
[6] Về vấn khác: Đối với 01 khẩu súng có chữ ZORAKI MOD 914-TD AUTO A3IZR3DTSO1-2200722 màu đen; 02 viên đạn màu vàng, đầu đạn màu đen đáy viên đạn có chữ 9mm PAKIASGLD (còn lại sau giám định) không phải là vũ khí quân dụng Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Đ đã chuyển đến Ủy ban nhân dân tỉnh Đ xử phạt hành chính số 1293 ngày 07/5/2024.
Đối với Nguyễn Quang H, Nguyễn Hữu P không biết việc C tàng trữ, vận chuyển trái phép vũ khí quân dụng nên Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Đ không xử lý.
Đối với người tên B bán súng cho C, Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Đ tiếp tục điều tra xác minh làm rõ và xử lý sau.
[7] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật TốhìnhNghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án:
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000đ (hai trăm nghìn đồng).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Huỳnh Nguyễn Quốc C phạm tội “Tàng trữ, vận chuyển trái phép vũ khí quân dụng”.
2. Áp dụng pháp luật: Căn cứ khoản 1 Điều 304; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).
3. Quyết định hình phạt: Xử phạt bị cáo Huỳnh Nguyễn Quốc C: 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 27/6/2023.
4. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu và giao cho Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Đ quản lý 01 khẩu súng ngắn màu trắng trên thân súng có ký hiệu “OX-4170”.
(Theo quyết định nhập vật chứng số 69/QĐ-BCH ngày 21/5/2024 và biên bản giao nhận tài liệu, đồ vật dữ liệu điện tử ngày 24/5/2024);
5. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
- Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000₫ (hai trăm nghìn đồng).
6. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Thị Kiều Lương |
Bản án số 162/2024/HS-ST ngày 22/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về tàng trữ, vận chuyển trái phép vũ khí quân dụng
- Số bản án: 162/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ, vận chuyển trái phép vũ khí quân dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vào ngày 15/6/2023, tại khu vực của khẩu Bờ Y thuộc huyện N, tỉnh Kon Tum, Huỳnh Nguyễn Quốc C có hành vi mua tàng trữ 01 khẩu súng ngắn quân dụng có chữ OX-4170 màu đen giá 10.000.000 đồng. Sau đó, C mang phòng trọ (không nhớ địa chỉ cụ thể tại thành phố P, tỉnh Gia Lai) cất giấu. Đến ngày 26/6/2023, C tiếp tục mang khẩu súng trên đến cơ sở lưu trú tên P1 thuộc ấp A, xã H, huyện V cất giấu tại khu vực bàn đá (gần căn nhà số A) đến 03 giờ 00 phút ngày 27/6/2023 thì bị Công an huyện V đến kiểm tra, phát hiện bắt quả tang.
