|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 162/2024/HS-ST Ngày: 24/07/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Hạnh
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Trần Thị Việt Hoa
2. Bà Nguyễn Thị Lâm
Thư ký phiên toà: Bà Phạm Lệ Quyên – Thư ký Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên tham gia phiên tòa: Ông Bùi Bách Thành – Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 07 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân quận Long Biên, Thành phố Hà Nội xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 132/2024/TLST-HS ngày 23/05/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 144/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 06 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 71/QĐHPT-HS ngày 27/06/2024 đối với các bị cáo:
-
LÊ MINH C ; sinh năm 1967; HKTT và chỗ ở: N, quận Long Biên, Hà Nội. quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Lê Phú L (đã chết) và con bà Lê Thị L1, sinh năm 1930; có vợ là lê Thị H, sinh năm: 1973; có hai con (con lớn sinh năm 1997, con bé sinh năm 2001). Theo danh chỉ bản số 831 ngày 29/12/2023 do Công an quận Long biên lập, bị cáo không có tiền án, tiền sự.
Đầu thú và tạm giữ ngày 25/12/2023, hủy bỏ tạm giữ ngày 29/12/2023. Đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đến nay (có mặt tại phiên toà).
-
VI THỊ C1 ; sinh năm: 1960; HKTT và chỗ ở: Tổ D phường N, quận Long Biên, Hà Nội; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Tày; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Vi Văn Vũ (đã chết) và con bà Tô Thị L (đã chết); có chồng là Nguyễn Đức Lập, sinh năm 1960; có một con sinh năm 1986; Theo danh chỉ bản số 830 ngày 29/12/2023 do Công an quận Long biên lập, bị cáo không có tiền án, tiền sự.
Đầu thú và tạm giữ ngày 25/12/2023, hủy bỏ tạm giữ ngày 29/12/2023. Đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đến nay (có mặt tại phiên toà).
-
HỒ THỊ P ; sinh năm: 1969; HKTT và chỗ ở: Tổ N, quận Long Biên, Hà Nội. quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Hồ Bình Lập, sinh năm 1935 và con bà Ngô Thị H, sinh năm 1935; có chồng là Lê Minh T, sinh năm 1965; có hai con (con lớn sinh năm 1994, con nhỏ sinh năm 2000). Theo danh chỉ bản số 829 ngày 29/12/2023 do Công an quận Long biên lập, bị cáo không có tiền án, tiền sự.
Đầu thú và tạm giữ ngày 25/12/2023, hủy bỏ tạm giữ ngày 29/12/2023. Đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đến nay (có mặt tại phiên toà).
-
ĐẶNG THẾ L ; sinh năm: 1975; HKTT và chỗ ở: Tổ B, quận Long Biên, Hà Nội; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: 9/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Đặng Văn Lâm (đã chết) và con bà Lê Thị S, sinh năm 1955; có vợ là Phạm Thị H, sinh năm 1977; có một con sinh năm 1998; Theo danh chỉ bản số 832 ngày 29/12/2023 do Công an quận Long biên lập, bị cáo không có tiền án, tiền sự.
Đầu thú ngày 25/12/2023, hiện đang tại ngoại (vắng mặt tại phiên toà).
-
LÊ THỊ H; sinh năm: 1973; HKTT và chỗ ở: Tổ B phường N, quận Long Biên, Hà Nội; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Lê Văn Phiệt, sinh năm 1943 và con bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1947; có chồng là Lê Minh C, sinh năm 1967; có hai con (con lớn sinh năm 1997, con bé sinh năm 2001). Theo danh chỉ bản số 0291 ngày 01/04/2024 do Công an quận Long biên lập, bị cáo không có tiền án, tiền sự.
Bị bắt tạm giam ngày 01/04/2024. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 2 – Công an Thành phố Hà Nội (có mặt tại phiên toà).
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Từ Thị Ánh T1, sinh năm 1962, HKTT và chỗ ở: Tổ B phường N, quận Long Biên, Hà Nội (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 25/12/2023, tổ công tác Công an phường Ngọc Thụy tiến hành làm nhiệm vụ tại khu vực tổ B, N phát hiện Vi Thị C1 có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Quá trình kiểm tra, Vi Thị C1 đã tự nguyện khai báo với cơ quan công an về hành vi đánh bạc dưới hình thức mua bán số lô, đề. Cùng ngày, Công an phường Ngọc Thụy đã tiếp nhận đơn xin đầu thú của Hồ Thị P, Lê Minh C và Đặng Thế L về hành vi đánh bạc dưới hình thức mua bán số lô đề, đồng thời đã làm việc với Từ Thị Ánh T1.
Tạm giữ của Vi Thị C1 : 01 điện thoại Iphone 12Promax gắn Sim 0906037371 và 01 điện thoại Iphone 6Plus gắn Sim 0968473215. Kiểm tra điện thoại phát hiện có nội dung tin nhắn đánh bạc dưới hình thức lô đề giữa Vi Thị C1 với Hồ Thị P và Lê Minh C.
Tạm giữ của Hồ Thị P : 01 điện thoại Samsung Galaxy J7 Pro gắn Sim 0902124295 và 0383502868. Kiểm tra điện thoại không phát hiện nội dung tin nhắn liên quan đến việc mua bán số lô đề.
Tạm giữ của Lê Minh C : 01 điện thoại di động Iphone 7 màu hồng gắn sim 0972.523.567. Kiểm tra điện thoại phát hiện có nội dung tin nhắn đánh bạc dưới hình thức lô đề giữa Lê Minh C với Đặng Thế L, Vi Thị C1, Từ Thị Ánh T1 và Lê Thị H.
Tạm giữ của Đặng Thế L : 01 điện thoại di động Iphone Xsmax gắn sim 0983.064.xxx. Kiểm tra điện thoại không phát hiện nội dung tin nhắn liên quan đến việc mua bán số lô đề.
Tạm giữ của Từ Thị Ánh T1 01 điện thoại di động Samsung Galaxy Note 8 màu xanh gắn sim 0839314741. Kiểm tra điện thoại phát hiện có nội dung tin nhắn đánh bạc dưới hình thức lô đề giữa T1 với Lê Minh C.
Đến ngày 01/4/2024, cơ quan CSĐT – Công an quận Long Biên đã triệu tập Lê Thị H đến trụ sở để làm việc. Tạm giữ của Lê Thị H 01 điện thoại di động Iphone 6s màu hồng gắn sim 0981648934. Kiểm tra điện thoại không phát hiện nội dung tin nhắn liên quan đến việc mua bán số lô đề.
Tại cơ quan điều tra, Hồ Thị P, Vi Thị C1, Đặng Thế L, Lê Minh C, Lê Thị H và Từ Thị Ánh T1 khai nhận:
- Về cách thức chơi: Căn cứ vào 02 số cuối của kết quả xổ số kiến thiết miền bắc mở thưởng cùng ngày để xác định thắng thua. Nếu số đề đã mua trùng với 02 số cuối của giải đặc biệt thì thắng bạc (trúng đề) và phải trả gấp 80 lần số tiền đã bỏ ra để mua. Nếu số lô đã mua trùng với 02 số cuối của bất kì giải nào của kết quả sổ số kiến thiết miền Bắc cùng ngày thì thắng (trúng lô) và phải trả 80.000 đồng/1 điểm lô.
Ngày 24/12/2023, Lê Minh C sử dụng điện thoại có số thuê bao 0972523567 nhắn tin đến số điện thoại 0968.470.xxx của Vi Thị C1 để mua các số đề 575, 00, 09, 46, 47, 343, 35, 62, 39, 29, 69, 08, 09, 050, 191, 94, 585 x10 điểm, số đề 353 x 15 điểm, số đề 050 x 25 điểm, số đề 565, 66, 85 x 25 điểm, số đề 151, 262, 63, 43, 45 x 10 điểm, số Lô 43, 484 x 10điểm, số lô 242, 373, 383, 454, 585, 96, 454, 585, 393 x 05 điểm”; số lô 69 x10 điểm, số lô đầu 0, đầu 5 x 5 điểm, số lô 33, 94 x 25 điểm, lô 050, 191 x 2,5 điểm. C1 có nhắn tin lại với nội dung "ok em 8 tin”, nghĩa là đồng ý việc tham gia đánh bạc với C. Giữa C và C1 thỏa thuận 01 điểm lô=22.200 đồng, 01 điểm đề = 900 đồng. Như vậy, C đã mua của C1 là 285 điểm lô tương đương với số tiền 6.327.000đồng và 470 điểm đề tương đương với số tiền 423.000 đồng.
Căn cứ kết quả xổ số kiến thiết miền Bắc mở thưởng ngày 24/12/2023, C đã trúng được 92,5 điểm lô tương đương với số tiền 7.400.000 đồng và 20 điểm đề tương đương với số tiền 1.600.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc của C và C1 là 15.750.000 đồng. Giữa C và C1 chưa thanh toán tiền thắng thua với nhau.
Ngày 24/12/2023, sau khi mua bán số lô, đề với Lê Minh C, Vi Thị C1 đã nhắn tin đến ứng dụng zalo của Hồ Thị P, để mua các số đề: 282, 343 x 35 điểm, 35 x 20 điểm, 69 x 70 điểm, 050 x 10 điểm, số đề 565, 66, 85 x 10 điểm, 353 x 35 điểm, 343, 25 x 10 điểm, 63, 64 x 35 điểm, 66 x 90 điểm; số lô 34 x 35 điểm, 11, 42 x 05 điểm”. Sau khi nhận tin nhắn của C1, P đã nhắn lại 3 tin, nghĩa là P đồng ý tham gia đánh bạc với P . Cả hai thống nhất với nhau mua bán 01 điểm số lô với giá 22.000 đồng và 01 điểm số đề với giá 840 đồng. Như vậy, C1 đã mua của P 45 điểm lô tương đương với số tiền 990.000 đồng, 550 điểm đề tương đương số tiền 462.000 đồng.
Căn cứ kết quả số xố kiến thiết miền Bắc mở thường ngày 24/12/2023, C1 đã trúng được 20 điểm lô tương đương với số tiền 800.000 đồng và 45 điểm đề tương đương số tiền 3.600.000 đồng. Khi đó, tổng số tiền C thắng là 2.250.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc của C1 và P là 5.852.000 đồng. Giữa P và C1 chưa thanh toán tiền thắng thua với nhau.
Ngày 24/12/2023, Đặng Thế L sử dụng số điện thoại 0983.064.xxx nhắn tin đến số 0972523567 của Lê Minh C để mua các số lô 33, 94 x 50 điểm, số đề 242,343 x 50 điểm. Sau khi nhận được tin nhắn, C nhắn trả lời “ok” nghĩa là đồng ý tham gia đánh bạc. Giữa C và L thống nhất với nhau quy đổi 01 điểm số lô tương đương 22.500 đồng và 01 điểm số đề tương đương 1.000 đồng. Như vậy, C đã bán cho L 100 điểm lô tương đương số tiền 2.250.000 đồng và 200 điểm đề tương đương số tiền 200.000 đồng.
Căn cứ kết quả số xố kiến thiết miền Bắc mở thường ngày 24/12/2023, L đã trúng được 50 điểm số lô tương đương số tiền 4.000.000 đồng và 50 điểm số đề tương đương số tiền 4.000.000VNĐ. Tổng số tiền đánh bạc của C và L là 10.450.000 đồng. Giữa C và L chưa thanh toán tiền thắng thua với nhau.
Ngày 24/12/2023, Lê Minh C sử dụng điện thoại số 0972.523.xxx nhắn tin tới số 0839.314.741 của Từ Thị Ánh T1 để mua các số Lô 48, 84 x 10 điểm; 24, 42, 37, 73, 38, 83, 45, 54 x 5 điểm. Sau khi nhận tin nhắn thì T1 nhắn lại với nội dung "OK" nghĩa là đồng ý việc tham gia đánh bạc với C. Giữa T1 và C quy ước: 01 điểm lô tương đương số tiền 22.500 đồng. T1 đã bán cho C là 60 điểm số lô tương đương 1.350.000 đồng.
Căn cứ kết quả số xố kiến thiết miền Bắc mở thưởng ngày 24/12/2023, C đã trúng 25 điểm lô tương đương số tiền 2.000.000 đồng. Như vậy, số tiền đánh bạc giữa C với Tuyế t là 3.350.000 đồng. Giữa C và T1 chưa thanh toán tiền thắng thua với nhau.
Ngày 24/12/2023, Lê Minh C sử dụng điện thoại số 0972.523.xxx nhắn tin đến số 0981648934 của vợ là Lê Thị H để mua các số đề 50,58,85 x 70 điểm; 242,343 x 50 điểm; và các số lô 50,58,85, 48,84 x 10 điểm, đầu 0, đầu 5 x 5 điểm; 33,94 mỗi con 25 điểm, các số 242,373,383,454 mỗi con 05 điểm; lô xiên 3 (50,58,85) x 330 điểm. Giữa C với H quy ước 01 điểm lô là 22.200 đồng, 01 điểm đề là 870 đồng, 01 điểm lô xiên là 800 đồng. Như vậy, C đã mua của H 240 điểm lô tương đương số tiền 5.328.000 đồng và 410 điểm đề tương đương số tiền 356.000 đồng.
Căn cứ kết quả số xố kiến thiết miền Bắc mở thường ngày 24/12/2023, C đã trúng được 65 điểm lô tương đương số tiền 5.200.000 đồng và 50 điểm số đề tương đương số tiền 4.000.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc của C và H là 15.148.700 đồng. Giữa C và H chưa thanh toán tiền thắng thua với nhau.
Đối với hành vi đánh bạc của Từ Thị Ánh T1, quá trình điều tra xác định: ngày 24/12/2023, Từ Thị Ánh T1 đã bán cho Lê Minh C các số lô đề với tổng số tiền đánh bạc là 3.350.000 đồng chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Do đó, cơ quan CSĐT – Công an quận Long Biên đã có văn bản đề nghị Chủ tịch UBND quận Long Biên ra Quyết định xử phạt hành chính đối với Từ Thị Ánh T1 theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 28 Nghị định số 144/221/NĐ-CP ngày 31/12/2023 của Chính phủ là có căn cứ.
Đối với 01 điện thoại Iphone 12Promax gắn sim 0906037371 và 01 điện thoại Iphone 6Plus gắn sim 0968473215 tạm giữ của Vi Thị C1, quá trình điều tra xác định số điện thoại 0906.037.xxx đăng ký chính chủ mang tên Vi Thị C1, còn số điện thoại 0968.473.xxx đăng ký chính chủ tên Nguyễn Đức Phương, sinh năm 1986, địa chỉ: Ngọc Thụy, Long Biên, Hà Nội. Anh Phương cho biết: mẹ đẻ anh là Vi Thị C1 mua chiếc sim trên nhưng khi đăng ký thông tin anh Phương đã sử dụng CMND của anh. Từ đó, chỉ có bà C1 sử dụng số điện thoại trên. Trong 02 chiếc điện thoại mà cơ quan CSĐT đã thu giữ, Vi Thị C1 đã sử dụng điện thoại Iphone 6Plus gắn sim 0968473215 để thực hiện hành vi đánh bạc. Chuyển Tòa án nhân dân quận Long Biên xem xét, xử lý.
Đối với 01 điện thoại Samsung Galaxy J7 Pro gắn sim 0902124295 và 0383502868 tạm giữ của Hồ Thị P, quá trình điều tra xác định: số điện thoại 0383.502.xxx đăng ký chính chủ tên Hồ Thị P, còn số điện thoại 0902.124.xxx (là số khuyến mãi P không sử dụng) đăng ký chính chủ tên Lê Đức Tâm, địa chỉ: Phường 6, quận Bình Thạnh, Tp. Hồ Chí Minh. Nhưng Hồ Thị P khai nhận P là người duy nhất sử dụng chiếc điện thoại trên để đánh bạc. Chuyển Tòa án nhân dân quận Long Biên xem xét, xử lý. Với chủ thuê bao số 0902124295 tên Lê Đức Tâm, cơ quan CSĐT – Công an quận Long Biên chưa có điều kiện để làm rõ, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.
Đối với 01 điện thoại di động Iphone 7 màu hồng gắn sim 0972523567 tạm giữ của Lê Minh C, quá trình điều tra xác định số thuê bao 0972523567 đăng ký chính chủ tên Lê Minh C và C đã sử dụng điện thoại nêu trên để đánh bạc. Chuyển Tòa án nhân dân quận Long Biên xem xét, xử lý.
Đối với 01 điện thoại di động Iphone Xsmax gắn sim 0983.064.xxx tạm giữ của Đặng Thế L, quá trình điều tra xác định, số thuê bao 0983064075 đăng ký chủ thuê bao tên Đặng Thế L và L đã sử dụng chiếc điện thoại trên để nhắn tin mua số lô đề, sau đó đã xóa tin nhắn nên không còn dữ liệu. Chuyển Tòa án nhân dân quận Long Biên xem xét, xử lý.
Đối với 01 điện thoại di động Iphone 6s màu hồng gắn sim 0981648934 tạm giữ của Lê Thị H, quá trình điều tra xác định, số thuê bao 0981648934 đăng ký chủ thuê bao tên Lê Thị H và H đã sử dụng chiếc điện thoại trên để nhắn tin mua số lô đề, sau đó đã xóa tin nhắn nên không còn dữ liệu. Chuyển Tòa án nhân dân quận Long Biên xem xét, xử lý.
Đối với 01 điện thoại di động Samsung Galaxy Note 8 màu xanh gắn sim 0839314741 tạm giữ của Từ Thị Ánh T1, T1 khai đã sử dụng chiếc điện thoại này để đánh bạc. Chuyển Tòa án nhân dân quận Long Biên xem xét, xử lý.
Lời khai của Hồ Thị P, Vi Thị C1, Đặng Thế L, Lê Minh C, Lê Thị H và Từ Thị Ánh T1 phù hợp với nhau và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Tại phiên toà, các bị cáo Hồ Thị P, Vi Thị C1, Lê Minh C, Lê Thị H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình theo đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Bị cáo Đặng Thế L có đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên toà và xác nhận hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố.
Tại bản cáo trạng số 138/CT-VKSLB ngày 20/05/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên truy tố các bị cáo Lê Minh C, Vi Thị C1, Hồ Thị P, Đặng Thế L, Lê Thị H về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa thấy rằng: hành vi của các bị cáo Lê Minh C, Vi Thị C1, Hồ Thị P, Đặng Thế L, Lê Thị H đã đủ yếu tố cấu thành tội tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự;
Về hình phạt đề nghị HĐXX: Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự 2015 đối với bị cáo Lê Minh C, Vi Thị C1, Hồ Thị P, Đặng Thế L; áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự 2015 đối với bị cáo Lê Thị H.
Đề nghị xử phạt các bị cáo với mức án sau: Bị cáo Lê Minh C từ 24 đến 28 tháng tù treo, thử thách 48 đến 56 tháng; bị cáo Vi Thị C1 từ đến 15 đến 18 tháng tù treo, thử thách 30 đến 36 tháng; bị cáo Hồ Thị P từ 08 đến 10 tháng tù treo, thử thách 16 đến 20 tháng; bị cáo Đặng Thế L từ 09 đến 12 tháng tù treo, thử thách 18 đến 24 tháng; bị cáo Lê Thị H từ 12 đến 15 tháng tù treo, thử thách 24 đến 30 tháng;
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng đối với các bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47, Điều 48 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Đề nghị cho tịch thu, sung quỹ Nhà nước: 01 điện thoại Iphone 6Plus gắn sim 0968473215 thu giữ của Vi Thị C1 ; 01 điện thoại Samsung Galaxy J7 Pro gắn sim 0902124295 và 0383502868 thu giữ của Hồ Thị P ; 01 điện thoại di động Iphone 7 màu hồng gắn sim 0972523567 thu giữ của Lê Minh C ; 01 điện thoại di động Iphone Xsmax gắn sim 0983.064.xxx thu giữ của Đặng Thế L; 01 điện thoại di động Iphone 6s màu hồng gắn sim 0981648934 thu giữ của Lê Thị H; 01 điện thoại di động Samsung Galaxy Note 8 màu xanh gắn sim 0839314741 thu giữ của Từ Thị Anh T1.
Trả lại bị cáo Vi Thị C1 01 điện thoại Iphone 12Promax gắn sim 0906037371 do không liên quan đến hành vi phạm tội.
Nói lời sau cùng, các bị cáo nhận thức hành vi phạm tội của mình là sai, vi phạm pháp luật. Mong HĐXX cho các bị cáo được giảm nhẹ hình phạt, cho các bị cáo được hưởng án treo để cải tạo ngoài xã hội làm người có ích.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra - Công an quận Long Biên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: Tại phiên toà, các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội, lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, vật chứng cũng như các tài liệu, chứng cứ khác của vụ án. Từ đó Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Ngày 24/12/2023, trên địa bàn phường Ngọc Thụy, quận Long Biên, Hà Nội:
- Vi Thị C1 có hành vi đánh bạc dưới hình thức bán số lô, số đề cho Lê Minh C với tổng số tiền đánh bạc mà C1, C phải chịu trách nhiệm hình sự là 15.750.000 đồng.
- Vi Thị C1 có hành vi đánh bạc dưới hình thức mua số lô, số đề của Hồ Thị P với tổng số tiền đánh bạc mà C1, P phải chịu trách nhiệm hình sự là 5.852.000 đồng.
- Lê Minh C có hành vi đánh bạc dưới hình thức bán số lô, số đề cho Đặng Thế L với tổng số tiền đánh bạc phải chịu trách nhiệm hình sự là 10.450.000 đồng.
- Lê Minh C có hành vi đánh bạc dưới hình thức mua số lô, số đề của Lê Thị H với tổng số tiền đánh bạc phải chịu trách nhiệm hình sự là 15.148.700 đồng.
Hành vi của các bị cáo đã đủ dấu hiệu cấu thành tội “Đánh bạc”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên đã đưa ra các chứng cứ buộc tội và truy tố các bị cáo Lê Minh C, Vi Thị C1, Hồ Thị P, Đặng Thế L, Lê Thị H về tội: “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên là có căn cứ và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
[3] Về vai trò của các bị cáo và tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Qua phần thẩm vấn và tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy các bị cáo đánh bạc bằng hình thức thắng thua trực tiếp bằng tiền để hưởng lợi do cơ hội. Các bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có hiểu biết pháp luật, muốn kiếm tiền nhanh chóng, không bằng sức lao động nên đã thực hiện hành vi phạm tội. Trong vụ án này, các bị cáo đều biết việc mua bán, đánh lô, đánh đề là vi phạm pháp luật nhưng vẫn tham gia đánh bạc cùng nhau nên tính chất mức độ thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo trong vụ án như nhau. Do đó khi lượng hình cần có mức hình phạt tương xứng với hành vi các bị cáo thực hiện.
[4] Xét hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã cố ý xâm phạm trật tự công cộng được bộ luật hình sự bảo vệ, gây mất trật tự trị an xã hội, do đó cần thiết phải có những hình phạt tù tương xứng đối với các bị cáo nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
- Xét nhân thân bị cáo Lê Minh C, bị cáo biết việc đánh lô đề là hình thức đánh bạc bị pháp luật nghiêm cấm nhưng muốn kiếm tiền nhanh nên đã tham gia mua, bán lô đề là tiếp tay cho tệ nạn cờ bạc trong xã hội phát triển, xâm phạm đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Hội đồng xét xử xem xét tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo khai báo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo đã đến cơ quan đầu thú về hành vi phạm tội của mình là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
- Xét nhân thân bị cáo Vi Thị C1, bị cáo là người trưởng thành biết việc mua bán lô, đề là hình thức đánh bạc bị Nhà nước cấm nhưng vẫn thực hiện là tiếp tay cho tệ nạn cờ bạc trong xã hội phát triển, gây mất trật tự trị an chung. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; ; bị cáo đã đến cơ quan đầu thú về hành vi phạm tội của mình là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
- Xét nhân thân bị cáo Hồ Thị P, bị cáo biết việc đánh lô đề là hình thức đánh bạc bị Nhà nước cấm nhưng vẫn thực hiện là tiếp tay cho tệ nạn cờ bạc trong xã hội phát triển, gây mất trật tự trị an chung. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo đã đến cơ quan điều tra đầu thú về hành vi phạm tội là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
- Xét nhân thân bị cáo Đặng Thế L, bị cáo là biết việc đánh lô đề là hình thức đánh bạc bị Nhà nước cấm nhưng lười lao động muốn hưởng thụ nhanh nên đã tham gia mua bán lô đề cùng các bị cáo khác là tiếp tay cho tệ nạn cờ bạc trong xã hội phát triển, gây mất trật tự trị an chung. Tại cơ quan điều tra bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo đã đến cơ quan điều tra đầu thú về hành vi phạm tội là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
- Xét nhân thân bị cáo Lê Thị H, bị cáo là biết rất rõ việc mua bán lô đề là hình thức đánh bạc bị Nhà nước cấm nhưng vẫn tham gia là tiếp tay cho tệ nạn cờ bạc trong xã hội phát triển, gây mất trật tự trị an chung. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, trong vụ án này bị cáo bán lô đề cho Lê Minh C (chồng bị cáo), chồng bị cáo cũng bị truy tố về hành vi đánh bạc, ngoài bán lô đề cho C, bị cáo không mua bán với ai khác là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo đáng ra phải xử phạt một mức tù trong khung hình phạt nhằm cách ly các bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian mới thỏa đáng. Song khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử thấy rằng, các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; số tiền liên quan đến đánh bạc không lớn, phạm tội có mức độ, các bị cáo có nơi cư trú cụ thể rõ ràng, có khả năng tự cải tạo, nhân thân tốt nên mở lượng khoan hồng cho các bị cáo và chỉ cần xử phạt các bị cáo một mức án tù trong khung hình phạt nhưng cho các bị cáo được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 của Bộ luật Hình sự 2015 để tạo điều kiện cho các bị cáo được cải tạo ngoài xã hội cũng đủ điều kiện giáo dục riêng các bị cáo và phòng ngừa tội phạm, không gây nguy hiểm cho xã hội và không làm ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.
Đối với bị cáo H trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, số tiền liên quan đến đánh bạc không lớn, phạm tội có mức độ, có chồng là Lê Minh C cũng bị truy tố về hành vi đánh bạc. Khi bị bắt bị cáo đã bị tạm giam đến nay đã gần 04 tháng đây cũng là hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo; Xét hoàn cảnh bị cáo có nơi cư trú cụ thể rõ ràng, có khả năng tự cải tạo, nên mở lượng khoan hồng cho bị cáo và chỉ cần xử phạt bị cáo một mức án tù trong khung hình phạt nhưng cho bị cáo được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 của Bộ luật Hình sự 2015 để tạo điều kiện cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội cũng đủ điều kiện giáo dục riêng bị cáo và phòng ngừa tội phạm, không gây nguy hiểm cho xã hội và không làm ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về nhân thân của các bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, hình phạt bổ sung và mức hình phạt đối với các bị cáo là có căn cứ và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
[5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS:
- * Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
- * Về tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo C, C1, P, L được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; bị cáo H được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[6] Về hình phạt bổ sung: Xét các bị cáo không có tài sản và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng phạt tiền bổ sung đối với các bị cáo.
[7] Về xử lý vật chứng:
- Đề nghị cho tịch thu, sung quỹ Nhà nước: 01 điện thoại Iphone 6Plus gắn sim 0968473215 thu giữ của Vi Thị C1 ; 01 điện thoại Samsung Galaxy J7 Pro gắn sim 0902124295 và 0383502868 thu giữ của Hồ Thị P ; 01 điện thoại di động Iphone 7 màu hồng gắn sim 0972523567 thu giữ của Lê Minh C ; 01 điện thoại di động Iphone Xsmax gắn sim 0983.064.xxx thu giữ của Đặng Thế L; 01 điện thoại di động Iphone 6s màu hồng gắn sim 0981648934 thu giữ của Lê Thị H; 01 điện thoại di động Samsung Galaxy Note 8 màu xanh gắn sim 0839314741 thu giữ của Từ Thị Anh T1.
- Trả lại bị cáo Vi Thị C1 01 điện thoại Iphone 12Promax gắn sim 0906037371 do không liên quan đến hành vi phạm tội.
[8] Về án phí và quyền kháng cáo: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên!
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với bị cáo Lê Minh C, Vi Thị C1, Hồ Thị P, Đặng Thế L.
- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với bị cáo Lê Thị H;
2. Tuyên bố các bị cáo Lê Minh C, Vi Thị C1, Hồ Thị P, Đặng Thế L, Lê Thị H phạm tội “Đánh bạc”;
- Xử phạt bị cáo Lê Minh C 22 (Hai mươi hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 44 (bốn mươi tư) tháng kể từ ngày tuyên án. Giao bị cáo Lê Minh C cho Uỷ ban nhân dân phường Ngọc Thuỵ, quận Long Biên, Hà Nội để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 (Hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Xử phạt bị cáo Vi Thị C1 18 (Mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 36 (Ba mươi sáu) tháng kể từ ngày tuyên án. Giao bị cáo Vi Thị C1 cho Uỷ ban nhân dân phường Ngọc Thuỵ, quận Long Biên, Hà Nội để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 (Hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Xử phạt bị cáo Hồ Thị P 08 (Tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 16 (Mười sau) tháng kể từ ngày tuyên án. Giao bị cáo Hồ Thị P cho Uỷ ban nhân dân phường Ngọc Thuỵ, quận Long Biên, Hà Nội để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 (Hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Xử phạt bị cáo Đặng Thế L 10 (Mười) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 20 (Hai mươi) tháng kể từ ngày tuyên án. Giao bị cáo Đặng Thế L cho Uỷ ban nhân dân phường Ngọc Thuỵ, Long Biên, Hà Nội để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 (Hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Xử phạt bị cáo Lê Thị H 10 (Mười) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 20 (Hai mươi) tháng kể từ ngày tuyên án. Giao bị cáo Lê Thị H cho Uỷ ban nhân dân phường Ngọc Thuy, Long Biên, Hà Nội để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trả tự do cho bị cáo Lê Thị H tại phiên tòa, nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.
5. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015;
- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 điện thoại Iphone 6 Plus gắn sim 0968473215 thu giữ của Vi Thị C1 ; 01 điện thoại Samsung Galaxy J7 Pro gắn sim 0902124295 và 0383502868 thu giữ của Hồ Thị P ; 01 điện thoại di động Iphone 7 màu hồng gắn sim 0972523567 thu giữ của Lê Minh C ; 01 điện thoại di động Iphone Xsmax gắn sim 0983.064.xxx thu giữ của Đặng Thế L; 01 điện thoại di động Iphone 6s màu hồng gắn sim 0981648934 thu giữ của Lê Thị H; 01 điện thoại di động Samsung Galaxy Note 8 màu xanh gắn sim 0839314741 thu giữ của Từ Thị Ánh T1 (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 02/03/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Long Biên).
- Trả lại bị cáo Vi Thị C1 : 01 điện thoại Iphone 12Promax gắn sim 0906037371 do không liên quan đến hành vi phạm tội (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 02/03/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Long Biên).
7. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Buộc các bị cáo Lê Minh C, Vi Thị C1, Hồ Thị P, Đặng Thế L, Lê Thị H mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015: Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Hồng Hạnh |
Bản án số 162/2024/HS-ST ngày 24/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự về tội đánh bạc
- Số bản án: 162/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ĐB
