Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN BÌNH THẠNH

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 162/2024/HS-ST

Ngày: 21/8/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Minh Thuận.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trần Văn Phủ
  2. Ông Nguyễn Văn Vui

- Thư ký phiên tòa: Ông Mai Xuân Tùng – Thư ký Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh tham gia phiên tòa:

Bà Phan Ngân Giang - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 162/2024/TLST-HS ngày 09 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 201/2024/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Trung H

sinh năm 1979 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; giới tính: nam; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: D L, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 11/12, con ông Nguyễn Văn N và bà Nguyễn Thị H1; Gia đình có 07 anh em và bị cáo là con út, bị cáo có vợ đã ly hôn.

Tiền án:

  • + Tòa án nhân dân Quận 6 xử tù có thời hạn 01 năm 03 tháng theo bản án 81/HSST ngày 15/06/2010.
  • + Tòa án nhân dân quận Tân Bình xử tù có thời hạn 02 năm theo bản án số 335/HSST ngày 22/11/2011.

Tiền sự: không.

Bị bắt tạm giam từ ngày 08/8/2023 đến nay.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Những người tham gia tố tụng khác:

Người bào chữa chỉ định cho bị cáo:

  1. Ông Lê Bá T - Luật sư Công ty L1 thuộc Đoàn luật sư Thành phố Hồ Chí Minh
  2. Ông Lê Văn T1 - Luật sư Công ty L1 thuộc Đoàn luật sư Thành phố H.

Bị hại: Bà Trần Ngọc Thanh T2, sinh năm 1984

Địa chỉ: A V, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Trần Trung Trí T3, sinh năm 2002. Địa chỉ: Khu phố L, Phường T, TP B, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).
  2. Doanh Nghiệp Tư nhân ô tô xe máy Quốc Vương. Địa chỉ: A B P, Phường C, quận P, TP Hồ Chí Minh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Trung H và Trần Ngọc Thanh T2 có quen biết, nảy sinh tình cảm nhưng hay xảy ra cự cãi nên H hay đánh đập chị T2. Ngày 26/7/2023, H và chị T2 cãi nhau về việc H không đồng ý cho chị T2 làm nhân viên quán nhậu nên khoảng 22 giờ cùng ngày, chị T2 chạy xe máy Yamaha Janus màu đen biển số 61B1- 845.66 đi làm về, khi đến trước nhà số A đường V, Phường B, quận B thì H điều khiển xe máy Yamaha Nouvo màu đen biển số 59S1- 356.83 chạy tới. Lúc này, do thấy H có vẻ tức giận T2 sợ bị H đánh nên chị T2 bỏ xe tự ngã xuống đường rồi đi vào trong nhà. H đứng ngoài nói chị T2 cùng đi về nhà H để nói chuyện nhưng chị T2 không đồng ý thì H nói “mày không về thì tao lấy xe mày tao đi” rồi H bỏ xe của mình lại và lấy xe của T2 bỏ đi. Chị T2 lấy xe máy của H bỏ lại đi về nhà mình tại A V, Phường B, quận B. Sau đó bị cáo vòng xe lại 02 lần nói chị T2 về nhà nói chuyện, chị T2 không chịu về nói "mày về trước đi". Do nghĩ ngày mai H sẽ trả lại xe mình nên không đến cơ quan công an trình báo sự việc. Đến ngày 27/7/2023, chị T2 nhắn tin cho H yêu cầu trả xe vì trong cốp xe của mình có 1 lắc tay vàng 61% trọng lượng 7,15 chỉ; 1 CCCD mang tên Trần Ngọc Thanh T2, 1 giấy đăng kí xe Janus biển số 61B1- 845.66. Lúc đầu, H đồng ý trả lại tài sản nhưng chờ đến trưa vẫn không thấy H trả tài sản nên chị T2 đã đến cơ quan công an trình báo sự việc. Vì mục đích muốn chị T2 tìm đến gặp mình nhưng không được nên H đến tiệm V bán chiếc lắc vàng của chị T2 được 21.000.000 đồng rồi đến tiệm X số 170B Phan Đăng L vào ngày 27/7/2023 bán chiếc xe của chị T2 và bù thêm 13.000.000 đồng để mua xe vespa biển số 59H1- 142.32 ở cửa hàng này.

Khi đến bán vàng cho tiệm V và bán xe Janus để đổi xe vespa tại D Tư nhân ô tô xe máy Quốc Vương, H đều không nói rõ chiếc lắc vàng và chiếc xe máy hiệu Janus là do H chiếm giữ của chị T2 mà có nên không có căn cứ xử lý.

Tại kết luận số 182/KLĐGTS-TCKH ngày 08/9/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận B xác định tại thời điểm bị chiếm đoạt ngày 26/7/2023 01 chiếc xe gắn máy Yamaha Janus biển số 61B1-845.66 có giá trị 14.000.000 đồng, 01 lắc tay vàng 14,64K (61%), trọng lượng 7,15 chỉ có giá trị 23.409.100 đồng.

Vật chứng vụ án:

  • 01 điện thoại Vsmart J5 và 01 điện thoại Vivo 5G 128GB;
  • Số tiền 4.014.000 đồng;
  • 1 thanh dao tự chế bằng kim loại cán tròn dài 01m;
  • 1 USB thu giữ có chứa 2 đoạn video thể hiện việc hậu bán lắc vàng vào ngày 27/7/2023;
  • 1 xe máy vespa biển số 59H1- 142.32; 01 giấy đăng ký xe biển số 59H1- 142.32 mang tên Nguyễn Quốc H2;

Hiện các vật chứng trên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận B đang tạm giữ.

Về trách nhiệm dân sự:

Đối với 1 xe máy vespa biển số 59H1- 142.32; 01 giấy đăng ký xe biển số 59H1- 142.32 mang tên Nguyễn Quốc H2 đã bán theo hình thức ủy quyền cho ông Trần Trung Trí T3.

Bị hại chị Trần Ngọc Thanh T2 đã nhận lại tài sản 01 chiếc xe gắn máy Yamaha Janus biển số 61B1-845.66 và được gia đình H bồi thường nên không yêu cầu bồi thường gì thêm và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại bản Cáo trạng số 50/CT-VKS-QBT ngày 15 tháng 02 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố Nguyễn Trung H phạm tội: “Chiếm giữ trái phép tài sản” theo khoản 1 Điều 176 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa hôm nay:

  • Bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như lời khai tại cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh công bố bản luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo đúng theo nội dung bản cáo trạng. Sau khi phân tích tính chất và hậu quả của vụ án đối với xã hội, bị hại, nêu lên tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 176; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Nguyễn Trung H từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù, miễn áp dụng hình phạt bổ sung.

Về vật chứng:

Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • Cần trả cho bị cáo: 01 điện thoại Vsmart J5 và 01 điện thoại Vivo 5G 128GB;
  • Tiêu hủy: 1 thanh dao tự chế bằng kim loại cán tròn dài 01m;
  • Đối với 1 xe máy vespa biển số 59H1- 142.32; 01 giấy đăng ký xe biển số 59H1- 142.32 mang tên Nguyễn Quốc H2 đã bán theo hình thức ủy quyền cho ông Trần Trung Trí T3 (là nhân viên của Doanh Nghiệp Tư nhân Ô) cần trả lại cho ông T3. Doanh Nghiệp Tư nhân ô tô xe máy Quốc Vương do anh Trần Văn M đại diện đồng ý trả chiếc xe trên cho ông Trần Trung Trí T3.
  • Lưu hồ sơ vụ án: 1 USB thu giữ có chứa 2 đoạn video thể hiện việc H bán lắc vàng vào ngày 27/7/2023.
  • Trả cho chị T2 số tiền tịch thu của H (số tiền này do H chiếm giữ và bán chiếc lắc vàng của chị T2 còn lại khi bị bắt giữ): Số tiền 4.014.000 đồng.

Về trách nhiệm dân sự:

Bị hại chị Trần Ngọc Thanh T2 đã nhận lại tài sản bị H chiếm đoạt và gia đình của H đã bồi thường dân sự, chị T2 có đơn yêu cầu Hội đồng xét xử giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Doanh Nghiệp Tư nhân ô tô xe máy Quốc Vương do anh Trần Văn M đại diện yêu cầu bị cáo bồi thường 5.000.000 đồng vì làm mất giá trị xe vespa biển số 59H1- 142.32, bị cáo không đồng ý bồi thường, Doanh N1 đã có yêu cầu, nhưng không cung cấp đầy đủ chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình nên dành quyền khởi kiện trong vụ án dân sự khác khi Doanh N1 Tư nhân ô tô xe máy Quốc Vương khởi kiện.

Luật sư Lê Bá T4 bào chữa cho bị cáo: Nhất trí với đại diện VKSND Quận Bình Thạnh về việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Nguyễn Trung H về tội danh "Chiếm giữ trái phép tài sản". Mục đích mà bị cáo H thực hiện hành vi lấy và điều khiển chiếc xe máy JANUS của bị hại T2 và để lại chiếc xe máy NOUVO của bị cáo đang sử dụng là nhằm mục đích để chị T2 đi xe của bị cáo về nhà mình, nguyện vọng của bị cáo không muốn chị T2 làm nhân viên quán nhậu. Bị cáo không hề có ý định chiếm đoạt tài sản của bị hại, chỉ suy nghĩ đơn giản đây chỉ là sự thay đổi xe cho nhau để nhằm mục đích bị hại T2 sẽ đi xe bị cáo về nhà gặp mình. Bị cáo Hậu bị xét xử về tội "Chiếm giữ trái phép tài sản" là phù hợp quy định pháp luật. Bị cáo H đã biết ăn năn hối cải, đang bị bệnh hiểm nghèo, đang điều trị ARV bệnh HIV nhiều năm nay.

Luật sư đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo H được quy định tại: Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 về tình tiết Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 về tình tiết giảm nhẹ được bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo H. Áp dụng điểm d Khoản 1 Điều 3, Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định về nguyên tắc xử lý đối với người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tài sản đã được giao trả lại cho bị hại. Tuyên xử bị cáo H mức hình phạt nhẹ nhất để bị cáo H có cơ hội chuộc lỗi lầm và hòa nhập cộng đồng, cũng như có điều kiện tốt hơn cho việc chăm sóc điều trị bệnh hiểm nghèo của bị cáo, đồng thời thể hiện sự nhân đạo của pháp luật.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo rất hối hận về hành vi của mình, mong Hội đồng xét xử khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận B, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh, kiểm sát viên thu thập; do bị can, bị cáo, người tham gia tố tụng khác cung cấp đều thực hiện đúng trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về những chứng cứ, tài liệu đã thu thập, cung cấp. Do đó, những chứng cứ, tài liệu trong vụ án đều hợp pháp.

[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận B, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng như đã nêu trên. Tại các bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung mà bị cáo đã trình bày nội dung lời khai là hoàn toàn tự nguyện. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[3] Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã truy tố. Qua lời khai nhận của bị cáo, đối chiếu với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở để kết luận: Xuất phát mâu thuẫn trong chuyện tình cảm và hám lợi mà Nguyễn Trung H đã lấy chiếc xe hiệu Yamaha Janus biển số 61B1- 845.66 của chị Trần Ngọc T5 Tuyền vào lúc 22 giờ 30 ngày 26/7/2023 tại trước số nhà A V, Phường B, quận B. Bên trong cốp xe Janus của chị T2 lúc đó còn có 1 lắc tay vàng 61% trọng lượng 7,15 chỉ. Đến ngày 27/7/2023, chị T2 có nhắn tin yêu cầu H trả xe nhưng H không đồng ý mà đem bán lắc vàng của bị hại bán tại tiệm V, sau đó đến tiệm X số 170B Phan Đăng L bán chiếc Janus và bù thêm 13.000.000 đồng để mua chiếc xe vespa biển số 59H1- 142.32. Do đó, Nguyễn Trung H phải chịu trách nhiệm về việc chiếm giữ chiếc xe máy hiệu Yamaha Janus bên trong cốp có 1 chiếc lắc vàng của bà Trần Ngọc Thanh T2. Tại kết luận số 182/KLĐGTS-TCKH ngày 08/9/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận B xác định tại thời điểm bị chiếm đoạt ngày 26/7/2023 01 chiếc xe gắn máy Yamaha Janus biển số 61B1-845.66 có giá trị 14.000.000 đồng, 01 lắc tay vàng 14,64K (61%), trọng lượng 7,15 chỉ có giá trị 23.409.100 đồng. với tổng giá trị tài sản bị chiếm giữ là 37.409.000 đồng. Hành vi nêu trên của bị cáo đã cấu thành tội “Chiếm giữ trái phép tài sản”.

[4] Việc áp dụng hình phạt, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của công dân, ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo là người đã trưởng thành, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Bị cáo nhận thức rõ được hành vi chiếm giữ tài sản là hành vi pháp luật nghiêm cấm, ảnh hưởng đến trật tự xã hội. Bị cáo hám lợi đã thực hiện hành vi chiếm giữ tài sản của bị hại. Do đó, có đủ cơ sở kết luận hành vi của các bị cáo đã cấu thành tội “Chiếm giữ trái phép tài sản” tội danh và hình phạt được quy định tại Điều 176 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Xét thấy bị cáo có nhân thân xấu, đã có 02 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản”, lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm. Hội đồng xét xử áp dụng điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tuy nhiên, bị cáo trong thời gian bị bắt giữ và tại phiên tòa có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Gia đình cũng đã khắc phục hậu quả cho bị hại nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt đối với các bị cáo, đồng thời miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[5] Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp khác:

  • Lưu hồ sơ vụ án: 1 USB thu giữ có chứa 2 đoạn video thể hiện việc H bán lắc vàng vào ngày 27/7/2023.
  • Tiêu hủy: 1 thanh dao tự chế bằng kim loại cán tròn dài 01m.
  • Trả cho chị T2 số tiền 4.014.000 đồng (tịch thu của H, số tiền này do H chiếm giữ và bán chiếc lắc vàng của chị T2 còn lại khi bị bắt giữ).
  • Trả lại cho bị cáo: 01 điện thoại Vsmart J5 và 01 điện thoại Vivo 5G 128GB.
  • Đối với 1 xe máy vespa biển số 59H1- 142.32; 01 giấy đăng ký xe biển số 59H1- 142.32 mang tên Nguyễn Quốc H2, anh H2 đã bán theo hình thức ủy quyền cho ông Trần Trung Trí T3 (là nhân viên của Doanh Nghiệp Tư nhân Ô) cần trả lại cho ông T3. Doanh Nghiệp Tư nhân ô tô xe máy Quốc Vương do anh Trần Văn M đại diện đồng ý trả chiếc xe trên cho ông Trần Trung Trí T3.

Về trách nhiệm dân sự:

Bị hại chị Trần Ngọc Thanh T2 đã nhận lại tài sản bị H chiếm đoạt và gia đình của H đã bồi thường dân sự, chị T2 có đơn yêu cầu Hội đồng xét xử giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Doanh Nghiệp Tư nhân ô tô xe máy Quốc Vương do anh Trần Văn M đại diện yêu cầu bị cáo bồi thường 5.000.000 đồng vì làm mất giá trị xe vespa biển số 59H1- 142.32, bị cáo không đồng ý bồi thường, Doanh N1 đã có yêu cầu, nhưng không cung cấp đầy đủ chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình nên dành quyền khởi kiện trong vụ án dân sự khác khi Doanh N1 Tư nhân ô tô xe máy Quốc Vương có yêu cầu và khởi kiện.

[6] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng khoản 1 Điều 176; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt: Nguyễn Trung H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, về tội “Chiếm giữ trái phép tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 08/8/2023.

Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp khác: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • Trả cho bị cáo: 01 điện thoại Vsmart J5 và 01 điện thoại Vivo 5G 128GB.
  • Trả cho ông Trần Trung Trí T3 1 xe máy vespa biển số 59H1- 142.32, số khung RP8M66301BV000874, số máy M665M4016549, loại xe hai bánh 50-175cm³ nhãn hiệu PIAGGIO số loại: VESPA S125, màu sơn trắng; 01 giấy đăng ký xe biển số 59H1- 142.32 mang tên Nguyễn Quốc H2.
  • Trả cho chị T2 số tiền 4.014.000 đồng (tịch thu của H, số tiền này do H chiếm giữ và bán chiếc lắc vàng của chị T2 còn lại khi bị bắt giữ).
  • Tiêu hủy: 1 thanh dao tự chế bằng kim loại cán tròn dài 01m;
  • Lưu hồ sơ vụ án: 1 USB thu giữ có chứa 2 đoạn video thể hiện việc H bán lắc vàng vào ngày 27/7/2023.

(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, chứng cứ ngày 10 tháng 4 năm 2024 giữa Cơ quan điều tra Công an quận B với Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thạnh).

Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.

2. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND TP. Hồ Chí Minh;
  • - VKSND TP. Hồ Chí Minh;
  • - VKSND Q.Bình Thạnh;
  • - Công an Q.Bình Thạnh;
  • - Công an TP. Hồ Chí Minh (Phòng PV06);
  • - Chi cục THADS quận Bình Thạnh;
  • - Sở Tư pháp TP. Hồ Chí Minh;
  • - Bị cáo, bị hại;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hồ Minh Thuận

2. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bào chữa cho bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc niêm yết bản án.

HỘI THẨM NHÂN DÂN THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 162/2024/HS-ST ngày 21/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự - chiếm giữ trái phép tài sản

  • Số bản án: 162/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Chiếm giữ trái phép tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Trung Hậu phạm tội chiếm giữ trái phép tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger