Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ LA GI

TỈNH BÌNH THUẬN

Bản án số: 162/2024/HS-ST

Ngày: 06-12-2024.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

—————————

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LA GI, TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Biện Việt Hùng.

Các Hội thẩm nhân dân:1. Ông Nguyễn Văn Quang.

2. Ông Lê Ngọc Thơm.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Ngọc Song Yến – Thư ký Toà án nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà: Ông Lê Văn Nhật - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 147/2024/TLST-HS ngày 17 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 156/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 11 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 18/2024/HSST-QĐ ngày 29 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Phạm Văn P, sinh năm 1987 tại Bình Thuận; Nơi cư trú: Khu phố C, phường B, thị xã L, tỉnh Bình Thuận; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 06/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Văn P1, sinh năm: 1962 và bà Phạm Thị H, sinh năm: 1968; Vợ bà Trần Thị Thu C, sinh năm: 1990 và 03 người con chung; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ ngày 19/8/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã L. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 18/8/2024, Phạm Văn P có nhu cầu sử dụng ma túy, P mượn xe mô tô của người quen đi đến khu vực phường T, thị xã L để mua ma túy. Đến phường T, Pháp đi vào một con hẻm bê tông và gặp một nam thanh niên (không rõ lai lịch), hỏi mua 300.000 đồng ma túy đá. P đưa cho người này 300.000 đồng, người thanh niên ném xuống đất cho Pháp 03 đoạn ống nhựa cắt ngắn, hàn kín hai đầu, gồm 02 đoạn ống nhựa có kích thước (01 x 02)cm và 01 đoạn kích thước (1,5 x 02)cm, bên trong chứa tinh thể dạng rắn màu trắng. Sau khi mua được ma túy, P bỏ 02 tép vào túi quần và giữ 01 tép trong tay, rồi chạy về trả xe, sau đó đi bộ về phòng trọ trên đường L thuộc khu phố C, phường B, thị xã L để sử dụng. Khi P đang đứng trước nhà trọ, Công an phường B đi tuần tra và phát hiện Pháp có biểu hiện nghi vấn nên kiểm tra. Khi thấy lực lượng Công an, Pháp ném 01 tép ma túy trên tay xuống đất, cách nơi P đứng một đoạn nhưng bị Công an phát hiện, thu giữ và bắt giữ. Sau đó, P tiếp tục dùng tay móc 02 tép ma túy trong túi quần ra ném xuống đường, cách vị trí của Pháp khoảng 40cm, nhưng cũng bị Công an phát hiện, thu giữ. Pháp sau đó được đưa về trụ sở Công an phường B để làm việc.

Tại bản kết luận giám định số 1014 ngày 26/8/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: 03 đoạn ống nhựa màu trắng, hàn kín hai đầu, bên trong chứa tinh thể màu trắng được ký hiệu là M, có khối lượng 0,2248 gam là Methamphetamine.

Vật chứng vụ án còn lại sau giám định: Số ma túy còn lại sau giám định đã được Phòng K Công an tỉnh B niêm phong trong phong bì số 1014 và chuyển sang Chi cục Thi hành án dân sự thị xã La Gi quản lý.

Tại bản cáo trạng số 149/CT-VKSLG-HS ngày 14 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân thị xã L đã truy tố bị cáo Nguyễn Quốc D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Phạm Văn P đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tại phiên toà hôm nay đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi giữ quyền công tố, tranh luận và phát biểu quan điểm xử lý vụ án như sau:

Đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Phạm Văn P từ 01 năm 06 tháng tù đến 02 năm tù.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định đã được Phòng K Công an tỉnh B niêm phong trong phong bì số 1014 là vật cấm tàng trữ, lưu hành và không có giá trị.

Đối với người nam thanh niên Pháp khai đã bán cho P số ma túy trên, do không xác định được nhân thân lai lịch nên không có căn cứ để xử lý nên đề nghị không xét.

Tại phiên tòa bị cáo P xác định cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố là không sai và không tranh luận gì và đề nghị hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Cơ quan điều tra Công an thị xã L và Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, theo hồ sơ đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự và thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không thắc mắc, khiếu nại về những hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

[2] Về thẩm quyền giải quyết: Bị cáo bị truy tố về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự, có khung hình phạt cao nhất đến 05 năm tù, thuộc loại tội phạm nghiêm trọng quy định tại điểm b khoản 1 Điều 9 của Bộ luật Hình sự. Tội phạm được thực hiện tại địa bàn thị xã L, tỉnh Bình Thuận. Vì vậy, căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 268 và khoản 1 Điều 269 của Bộ luật Tố tụng hình sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận.

[3] Về căn cứ buộc tội đối với bị cáo: Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã nêu. Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án và qua tranh tụng tại phiên tòa có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 18/8/2024, tại khu vực thuộc khu phố C, phường B, Công an phường B, thị xã L phát hiện bắt quả tang Phạm Văn P đang có hành vi tàng trữ trái phép khối lượng 0,2248 gam chất Methamphetamine để sử dụng cho bản thân. Hành vi nêu trên của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của nhà nước về các chất ma túy. Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự và thực hiện hành vi với lỗi cố ý nên đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Như vậy cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận đã truy tố đối với bị cáo P là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[4] Về tính chất, mức độ nguy hiểm về hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo biết rõ tác hại của ma túy đối với sức khỏe con người và cộng đồng xã hội, bị cáo cũng nhận thức được Methamphetamine là loại ma túy gây nghiện, nhà nước nghiêm cấm và nghiêm khắc xử lý đối với mọi hành vi mua bán, vận chuyển, tàng trữ trái phép..... Bị cáo biết rõ ma túy là một trong những căn nguyên làm phát sinh nhiều loại tội phạm nguy hiểm khác cho xã hội, nhất là trong giai đoạn hiện nay tệ nạn ma túy ngày một gia tăng, gây ra những hậu quả, hệ lụy nguy hiểm cho xã hội nhưng bị cáo xem thường pháp luật, bất chấp hậu quả đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.

[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên cần xem xét khi lượng hình đối với bị cáo.

Trên cơ sở cân nhắc tính chất, mức độ phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân và mức hình phạt do đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần phải xử lý nghiêm, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để trừng trị, giáo dục bị cáo biết ý thức tuân thủ pháp luật, ngăn ngừa bị cáo phạm tội mới, đồng thời giáo dục những người khác biết tôn trọng pháp luật, tích cực tham gia phòng, chống tội phạm. Tuy nhiên, khi lượng hình Hội đồng xét xử cũng cân nhắc nhân thân phạm tội lần đầu của bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng: Số ma túy còn lại sau giám định đã được Phòng K Công an tỉnh B niêm phong trong phong bì số 1014 là vật cấm tàng trữ, lưu hành và không có giá trị nên tịch thu, tiêu hủy theo quy định tại khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[8] Về các vấn đề khác: Đối với người nam thanh niên, Pháp khai đã bán cho P số ma túy trên, do không xác định được nhân thân lai lịch nên không có căn cứ để xử lý nên Hội đồng xét xử không xét.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Căn cứ Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Căn cứ khoản 2 Điều 135; Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Phạm Văn P 01 (Một) năm 06 (S) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày từ ngày bị tạm giữ là ngày 19/8/2024.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định đã được Phòng K Công an tỉnh B niêm phong trong phong bì số 1014 theo biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 16 tháng 10 năm 2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã L và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã La Gi.

Về án phí: Buộc bị cáo Phạm Văn P phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Quyền kháng cáo bản án của bị cáo là 15 ngày kể từ ngày tuyên án (06/12/2024).

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi;
  • - Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận;
  • - Công an thị xã La Gi;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Chi cục thi hành án dân sự thị xã La Gi;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đã ký

Biện Việt Hùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 162/2024/HS-ST ngày 06/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LA GI, TỈNH BÌNH THUẬN về tàng trữ trái phép chất ma túy (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 162/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LA GI, TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 18/8/2024, tại khu vực thuộc khu phố 3, phường Bình Tân, Công an phường Bình Tân, thị xã La Gi phát hiện bắt quả tang Phạm Văn P đang có hành vi tàng trữ trái phép khối lượng 0,2248 gam chất Methamphetamine để sử dụng cho bản thân. Xử phạt: Bị cáo Phạm Văn P 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày từ ngày bị tạm giữ là ngày 19/8/2024.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger