Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CẦN GIUỘC,

TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 162/2024/HNGĐ-STNgày: 29-11-2024V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC, TỈNH LONG AN

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Nguyễn Xuân An
  • - Các Hội thẩm nhân dân:
    • Ông Võ Trường Tam
    • Ông Đặng Văn Vững
  • Thư ký phiên tòa: Ông Trần Tuấn Anh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc.

Trong ngày 29 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 589/2024/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 125/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 11 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Trần Thị Tuyết M, sinh năm 1996;Địa chỉ: Tổ A Ấp A, xã L, huyện C, tỉnh Long An.

Bị đơn: Ông Phan Thành L, sinh năm 1993;Địa chỉ: ấp T, xã L, huyện C, tỉnh Long An.

Các đương sự vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời trình bày của đương sự, vụ án có nội dung như sau:

Nguyên đơn – bà Trần Thị Tuyết M trình bày: Sau thời gian tìm hiểu, quen biết, năm 2016, bà M và ông Phan Thành L kết hôn. Năm 2020, bà và ông L đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã L, huyện C, tỉnh Long An cấp Giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 20-4-2020. Vợ chồng có hai người con chung tên Phan Hoàng Gia P, sinh ngày 16-6-2020 và Trần Hoàng Phát Đ, sinh ngày 15-4-2016. Sau khi kết hôn năm 2016, vợ chồng sống chung nhà với cha mẹ ruột của ông L. Tuy nhiên, do không hợp sống chung với gia đình chồng nên 06 tháng sau bà chuyển về nhà cha mẹ ruột (xã L) sinh sống cho đến nay, thỉnh thoảng ông L có sang thăm con. Quá trình chung sống, vợ chồng chỉ hạnh phúc được thời gian ngắn, do ông L không lo làm ăn, không phụ giúp bà trong việc chăm lo đời sống chung gia đình, chăm sóc, nuôi dưỡng các con. Mọi việc do bà và gia đình cha mẹ ruột của bà tự xoay sở, tự chăm sóc, nuôi dạy các con, ông L không quan tâm, cũng không chu cấp về kinh tế. Bà cũng nhiều lần khuyên ông L thay đổi, lo làm ăn để vợ chồng cùng chăm lo cho hai con, nhưng không có kết quả, vợ chồng không còn tiếng nói chung. Nay thấy rằng tình cảm vợ chồng không còn, không thể chung sống với ông L được nữa nên bà khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà ly hôn với ông L, bà yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng hai người con chung. Về cấp dưỡng nuôi con: Khi nộp đơn khởi kiện, bà có yêu cầu ông L cấp dưỡng cho mỗi người con hàng tháng là 2.000.000 đồng, hai cháu là 4.000.000 đồng/tháng, nhưng thấy rằng ông L không có việc làm ổn định, từ trước đến nay bà vẫn đủ khả năng lo cho các con nên bà thay đổi yêu cầu khởi kiện, không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con. Vợ chồng không có tài sản chung, không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn – ông Phan Thành L mặc dù đã được tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định pháp luật, nhưng ông L không có mặt theo giấy triệu tập, không có văn bản thể hiện ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của bà M. Mặt khác, bà M có đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải. Do đó, vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được nên Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Bà Trần Thị Tuyết M khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Phan Thành L, hiện ông L cư trú tại xã L, huyện C, tỉnh Long An nên Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại Khoản 1 Điều 28; điểm a Khoản 1 Điều 35; điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Nguyên đơn – bà Trần Thị Tuyết M xác định vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án vắng mặt bà M; bị đơn – ông Phan Thành L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, không rõ lý do. Căn cứ Khoản 1 Điều 228, Khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án giải quyết vụ án vắng mặt các đương sự.

[2] Về hôn nhân: Bà Trần Thị Tuyết M và ông Phan Thành L kết hôn, có đăng ký và được Ủy ban nhân dân xã L, huyện C, tỉnh Long An cấp Giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 20-4-2020, nên xác định hôn nhân giữa bà M và ông L là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Bà Trần Thị Tuyết M cho rằng quá trình chung sống giữa vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, ông L không phụ giúp bà chăm lo cuộc sống gia đình từ kinh tế đến chăm sóc, nuôi dưỡng các con. Hiện bà và ông L mỗi người có cuộc sống riêng, không còn quan tâm nhau. Bà M xác định tình cảm vợ chồng giữa bà và ông L không còn nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà ly hôn với ông L. Ông Phan Thành L mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng khác theo quy định pháp luật nhưng ông L không đến Tòa án theo giấy triệu tập cũng không có văn bản thể hiện ý kiến về yêu cầu ly hôn của bà M. Qua đó, thấy rằng, bà M và ông L đều không có thiện chí hàn gắn lại tình cảm vợ chồng. Từ đó, có đủ cơ sở xác định, tình cảm vợ chồng giữa bà M và ông L không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà M về việc ly hôn với ông L.

[3] Về con chung: Bà Trần Thị Tuyết M và ông Phan Thành L có hai người con chung tên Phan Hoàng Gia P, sinh ngày 16-6-2020 và Trần Hoàng Phát Đ, sinh ngày 15-4-2016, hiện các cháu sống chung với bà M. Bà M yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng hai người con chung. Thấy rằng, hiện cháu P và cháu Đ đang sống chung với mẹ và cháu Đ có văn bản thể hiện ý kiến muốn sống chung với mẹ, ông L không có ý kiến tranh chấp. Do đó, Hội đồng xét xử giao hai người con chung cho bà Trần Thị Tuyết M trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con: Trong quá trình giải quyết vụ án, bà M thay đổi ý kiến, không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con, ông L cũng không có ý kiến tranh chấp, do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.

[4] Về tài sản chung: Bà Trần Thị Tuyết M xác định vợ chồng không có tài sản chung. Ông Phan Thành L không có ý kiến. Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về nợ chung: Bà Trần Thị Tuyết M xác định vợ chồng không có tài sản chung. Ông Phan Thành L không có ý kiến. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về án phí: Bà Trần Thị Tuyết M là người khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, nên bà M phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Khoản 1 Điều 28, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39, Khoản 2 Điều 227, Khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 9, Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình; các điều 81, 82, 83, 84, 85, 86 Luật Hôn nhân và Gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Tuyết M về việc “Tranh chấp ly hôn” với ông Phan Thành L.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Tuyết M và ông Phan Thành L không còn là vợ chồng.

Về con chung: Giao hai người con chung tên Phan Hoàng Gia P, sinh ngày 16-6-2020 và Trần Hoàng Phát Đ, sinh ngày 15-4-2016 cho bà Trần Thị Tuyết M trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

Sau khi ly hôn, cha mẹ có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên.

Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Về án phí: Bà Trần Thị Tuyết M phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0013476 ngày 14-10-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cần Giuộc.

Bản án sơ thẩm, các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Long An;
  • - VKSND tỉnh Long An;
  • - VKSND huyện Cần Giuộc;
  • - THADS huyện Cần Giuộc;
  • - Ủy ban nhân dân xã Long An, huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An.
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, lưu án văn;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Nguyễn Xuân An

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 162/2024/HNGĐ-ST ngày 29/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC, TỈNH LONG AN về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 162/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC, TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger