|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập- Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 162/2024/HC-ST Ngày: 09-9-2024 V/v khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Quản
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hữu Nhạc, bà Lê Thị Hằng
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Phương là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Phương Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 163/2024/TLST-HC, ngày 02/7/2024 về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 193/2024/QĐXXST-HC ngày 26 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
- Người khởi kiện: Ông Nguyễn Khắc T, sinh năm: 1984
Địa chỉ: Khu phố C, phường X, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
- Người bị kiện: Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phan Công T1, chức vụ: Giám đốc.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Ông Trần Anh T2, chức vụ: Giám đốc Chi nhánh Văn phòng Đ.
- Người có nghĩa vụ và quyền lợi liên quan:
-
Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai Phan Thiết
Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Anh T2, chức vụ: giám đốc.
-
Ủy ban nhân dân thành phố Phan Thiết
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phan Nguyễn Hoàng T3, chức vụ: Chủ tịch.
2
- Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1952. Địa chỉ: khu phố C, phường X, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
- Bà Lê Thị A, sinh năm 1953. Địa chỉ: khu phố C, phường X, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
- Bà Nguyễn Tường V, sinh năm 1984. Địa chỉ: khu phố C, phường X, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Đ, bà A, bà V: Ông Nguyễn Khắc T, sinh năm: 1984. Địa chỉ: Khu phố C, phường X, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
Tại phiên tòa có mặt: ông Nguyễn Khắc T; các đương sự còn lại vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, người khởi kiện ông Nguyễn Khắc T trình bày:
Ngày 09/4/2024, ông có nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ ông Nguyễn Văn Đ. Đất chuyển nhượng thuộc thửa đất số 254, tờ bản đồ số 23, diện tích 60.0m² đất ở tại đô thị, Giấy chứng nhận số CM 375369 cấp ngày 12/02/2018. Địa chỉ thửa đất khu phố D, phường X, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. Ngày 10/4/2024, ông có nộp hồ sơ đăng ký biến động quyền sử dụng đất tại Chi nhánh Văn phòng Đ. Ngày 17/4/2024, Chi nhánh Văn phòng Đ ban hành Thông báo số 561/TB-CNVPĐKĐĐPT về việc hoàn trả hồ sơ chuyển quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Khắc T và bà Nguyễn Tường V. Ông đã đủ điều kiện thực hiện quyền chuyển nhượng, quyền sử dụng đất theo quy định tại khoản 1 Điều 188 nhưng Chi nhánh Văn phòng Đ từ chối giải quyết hồ sơ đăng ký biến động quyền sử dụng đất là không đúng quy định của pháp luật, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông. Vì vậy, ông khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận giải quyết các vấn đề sau:
- Hủy Thông báo số 561/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 17/4/2024, của Chi nhánh Văn phòng Đ;
- Buộc Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B và Chi nhánh Văn phòng Đ thực hiện nhiệm vụ, vụ công vụ giải quyết hồ sơ đăng ký biến động sang tên cho ông Nguyễn Khắc T và bà Nguyễn Tường V theo quy định của pháp luật.
Người bị kiện Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B có ý kiến tại văn bản số 2640/VPĐKĐĐ-ĐKCG ngày 21/8/2024:
Đối với yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Khắc T, Chi nhánh Văn phòng Đ đã cung cấp ý kiến tại Công văn số 7435 ngày 13/8/2024 và toàn bộ hồ sơ, tài liệu có liên quan cho Tòa án. Văn phòng đăng ký đất đai thống nhất ý kiến tại Công văn số 7435 ngày 13/8/2024 và không có hồ sơ, tài liệu nào khác để cung cấp.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Chi nhánh Văn phòng Đ có ý kiến tại văn bản 7435/CNVPĐKĐĐPT-TTLT ngày 13/8/2024:
3
Ngày 10/4/2024, Chi nhánh Văn phòng Đ có tiếp nhận hồ sơ nhận tặng cho quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Khắc T và bà Nguyễn Tường V tại biên nhận số 2024-6311/TNHS.
Ông Nguyễn Khắc T và bà Nguyễn Tường V nhận tặng cho quyền sử dụng đất từ ông Nguyễn Văn Đ và bà Lê Thị A đối với thửa đất số 254, tờ bản đồ số 23, diện tích 60,0 m² đất ở tại đô thị, địa chỉ thửa đất tại phường X, thành phố P, tỉnh Bình Thuận theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CM 375369 do UBND thành phố P cấp ngày 12/02/2018.
Thửa đất số 254, tờ bản đồ số 23 có nguồn gốc do UBND thành phố P cho phép ông Nguyễn Văn Đ được chuyển mục đích sử dụng đất theo Quyết định số 124/QĐ-UBND ngày 11/01/2018 với diện tích 60 m² từ đất trồng cây lâu năm sang đất ở tại đô thị đối với thửa đất số 19, tờ bản đồ số 23 theo Giấy chứng nhận số BE 435215 do UBND thành phố P cấp ngày 18/4/2011 và được cấp đổi thành thửa đất số 254, tờ bản đồ số 23, diện tích 60,0 m² đất ở tại đô thị theo Giấy chứng nhận số CM 375369 và thửa đất số 253, tờ bản đồ số 23, diện tích 1295,0 m² đất trồng cây lâu năm theo Giấy chứng nhận số CM 375368 được cấp cùng ngày 02/12/2018.
Qua rà soát hồ sơ thì thửa đất số 254, tờ bản đồ số 23 có nguồn gốc do UBND thành phố P cho phép ông Nguyễn Văn Đ được chuyển mục đích sử dụng đất theo Quyết định số 124/QĐ-UBND ngày 11/01/2018 nhưng không phù hợp quy hoạch sử dụng đất theo Bản đồ quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 tại Quyết định số 3200/QĐ-UBND ngày 13/12/2013 của UBND tỉnh B.
Ngày 30/11/2023, UBND tỉnh B có Công văn số 4721/UBND-KT về việc ý kiến về nội dung báo cáo và đề nghị của Sở T4 tại Công văn Số 5523/STNMT-CCQLĐĐ ngày 20/11/2023, có nêu: "...2. Giao trách nhiệm cho UBND các huyện, thị xã, thành phố tiếp tục tự rà soát và tự chịu trách nhiệm đối với các trường hợp đã cho phép chuyên mục đích sử dụng đất trước đây mà không đúng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất để làm rõ trách nhiệm của từng đơn vị, cá nhân tham mưu, giải quyết trước đây. Trên cơ sở kết quả rà soát, có báo cáo và kiến nghị đề xuất gửi Sở T4." Căn cứ công văn nêu trên của UBND tỉnh B, hiện nay UBND thành phố P đang rà soát và kiến nghị đề xuất giải quyết đối với các trường hợp đã cho phép chuyển mục đích sử dụng đất trước đây mà không đúng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất để làm rõ trách nhiệm của từng đơn vị, cá nhân tham mưu, giải quyết trước đây. Chi nhánh Văn phòng hiện vẫn chưa nhận được ý kiến chỉ đạo giải quyết hồ sơ của cấp có thẩm quyền liên quan đến vướng mắc các trường hợp hồ sơ đã chuyển mục đích chưa đảm bảo theo quy định. Do đó, ngày 17/4/2024, Chi nhánh Văn phòng ban hành Thông báo số 561/ CNVPĐKĐĐPT về việc hoàn trả hồ sơ chuyển quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Khắc T và bà Nguyễn Tường V. Sau khi các cấp có thẩm quyền có ý kiến chỉ đạo liên quan đến các nội dung vướng mắc của Chi nhánh V1 thì Chi nhánh Văn phòng sẽ thông báo lại cho ông Nguyễn Khắc T và bà Nguyễn Tường V được biết và phối hợp thực hiện giải quyết hồ sơ theo quy định.
4
- Ủy ban nhân dân thành phố P có ý kiến tại Văn bản số 5696/UBND-KT ngày 22/8/2024 như sau:
Thửa đất mà ông Nguyễn Khắc T và bà Nguyễn Tường V đăng ký biến động quyền sử dụng đất (nhận chuyển nhượng) thuộc thửa đất số 254, tờ bản đồ số 23, diện tích 60 m² đất ở tại đô thị, địa chỉ thửa đất tại phường X, thành phố P, tỉnh Bình Thuận theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CM 375369 do UBND thành phố P cấp ngày 12/02/2018 cho ông Nguyễn Văn Đ.
Thửa đất số 254, tờ bản đồ số 23 nêu trên có nguồn gốc từ thửa đất số 19, tờ bản đồ số 23, diện tích 1.355 m² đất trồng cây lâu năm theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BE 435215 do UBND thành phố P cấp ngày 18/4/2011 cho ông Nguyễn Văn Đ.
Ngày 11/01/2018, UBND thành phố P cho phép ông Nguyễn Văn Đ được phép chuyển mục đích sử dụng đất từ đất trồng cây lâu năm sang đất ở tại đô thị theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BE 435215 ngày 18/4/2011 tại Quyết định số 124/QĐ-UBND và được UBND thành phố P cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CM 375369 (thửa đất số 254, tờ bản đồ số 23, diện tích 60 m² đất ở tại đô thị) và số CM 375368 (thửa đất số 253, tờ bản đồ số 23, diện tích 1.295 m² đất trồng cây lâu năm) cùng ngày 12/02/2018.
Tại Quyết định số 124/QĐ-UBND ngày 11/01/2018 của UBND thành phố P về việc cho phép ông Nguyễn Văn Đ được chuyển mục đích sử dụng đất từ đất trồng cây lâu năm sang đất ở tại đô thị với diện tích 60 m² thì trong phần cơ sở pháp lý căn cứ vào Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và Kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ đầu (2011-2015) của thành phố P đã được UBND tỉnh B phê duyệt tại Quyết định số 3200/QĐ-UBND ngày 13/12/2013 và Kế hoạch sử dụng đất năm 2017 của thành phố P đã được UBND tỉnh B phê duyệt tại Quyết định số 738/QĐ-UBND ngày 22/3/2017.
Căn cứ Mảnh chỉnh lý bản đồ địa chính số 115-2017 kèm theo tại Quyết định số 124/QĐ-UBND ngày 11/01/2018 do chi nhánh Văn phòng Đ ngày 18/12/2017 đối chiếu với các quy hoạch như sau:
- Căn cứ Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và Kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ đầu (2011-2015) của thành phố P đã được UBND tỉnh B phê duyệt tại Quyết định số 3200/QĐ-UBND ngày 13/12/2013 thì vị trí khu đất cho phép chuyển mục đích sử dụng đất thuộc quy hoạch đất chuyên dùng và đất giao thông.
- Căn cứ Kế hoạch sử dụng đất năm 2017 của thành phố P đã được UBND tỉnh B phê duyệt tại Quyết định số 738/QĐ-UBND ngày 22/3/2017 thì vị trí khu đất cho phép chuyển mục đích sử dụng đất thuộc quy hoạch đất sinh hoạt cộng đồng.
- Căn cứ Quy hoạch sử dụng đất thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến 2050 của thành phố P được UBND tỉnh phê duyệt tại Quyết định số 536/QĐ-UBND ngày 23/3/2023 thì vị trí khu đất cho phép chuyển mục đích sử dụng đất phần lớn thuộc quy hoạch đất ở tại đô thị.
5
Hiện nay, UBND thành phố P chưa thu hồi và hủy Quyết định số 124/QĐ-UBND ngày 11/01/2018 nêu trên.
Căn cứ Điều 52 Luật đất đai năm 2013 thì việc UBND thành phố P cho phép ông Nguyễn Văn Đ chuyển mục đích sử dụng đất từ đất trồng cây lâu năm sang đất ở tại đô thị tại Quyết định số 124/QĐ-UBND ngày 11/01/2018 thì không phù hợp với Quy hoạch sử dụng đất và Kế hoạch sử dụng đất được cấp thẩm quyền phê duyệt.
Ngày 17/4/2024, Chi nhánh Văn phòng Đ có Thông báo số 561/TB-CNVPĐKĐĐPT về việc hoàn trả hồ sơ chuyển quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Khắc T và bà Nguyễn Tường V.
Do đó, đối với nội dung mà ông Nguyễn Khắc T và bà Nguyễn Tường V yêu cầu Tòa án hủy Thông báo số 561/TB-CNVPĐKĐĐP ngày 17/4/2024 của Chi nhánh Văn phòng Đ nêu trên và buộc Chi nhánh Văn phòng Đ thực hiện nhiệm vụ, công vụ được giao không thuộc thẩm quyền của UBND thành phố P vì Chi nhánh Văn phòng Đ là đơn vị trực thuộc Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B – Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T4. UBND thành phố P có ý kiến để Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận xem xét giải quyết vụ án theo đúng quy định pháp luật.
- Ông Nguyễn Văn Đ, bà Lê Thị A, bà Nguyễn Tường V có ông Nguyễn Khắc T là người đại diện theo ủy quyền trình bày: đồng ý với yêu cầu của người khởi kiện.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên có ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân và Thư ký đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Luật Tố tụng hành chính.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 193 Luật Tố tụng hành chính, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Khắc T, hủy Thông báo số 561/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 17/4/2024 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố P. Buộc Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B và Chi nhánh Văn phòng Đ thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- Về việc vắng mặt người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, ông Nguyễn Văn Đ, bà Lê Thị A, bà Nguyễn Tường V vắng mặt nhưng có người đại diện theo ủy quyền tham gia phiên tòa, Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B và Chi nhánh Văn phòng Đ và UBND thành phố P vắng mặt nhưng có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt những người tham gia tố tụng này theo quy định tại khoản 1, 2 Điều 158 Luật Tố tụng hành chính.
- Về quyền khởi kiện: Ông Nguyễn Khắc T nhận chuyển nhượng thửa đất số 254, tờ bản đồ số 23, diện tích 60 m² đất ở tại đô thị, địa chỉ thửa đất tại phường X, thành phố P, tỉnh Bình Thuận theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất số CM 375369 do UBND thành phố P cấp ngày 12/02/2018 đứng tên ông Nguyễn Văn Đ, theo Hợp đồng
6
chuyển nhượng số công chứng 0282, quyển số 03/2024TP/CC-SCC/HĐGD ngày 09/4/2024 tại Văn phòng C.
Ngày 10/4/2024, ông Nguyễn Khắc T nộp hồ sơ đăng ký chuyển quyền sử dụng đất tại Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố P. Ngày 17/4/2024, Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố P ban hành Thông báo số 561/TB-CNVPĐKĐĐPT về việc hoàn trả hồ sơ chuyển quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Khắc T. Việc trả hồ sơ, từ chối đăng ký biến động sang tên ông Nguyễn Khắc T đã ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông nên ông có quyền khởi kiện đối với Văn bản số 561/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 17/4/2024 của Chi nhánh Văn phòng Đ.
- Về thời hiệu khởi kiện: Chi nhánh Văn phòng Đ ban hành Thông báo số 561/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 17/4/2024. Đến ngày 04/6/2024, ông Nguyễn Khắc T nộp đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận là còn trong thời hiệu khởi kiện theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 116 Luật Tố tụng hành chính.
-
Về nội dung quyết định hành chính bị khiếu kiện, Hội đồng xét xử nhận thấy:
-
Khoản 1 Điều 188 Luật Đất đai quy định người sử dụng đất được thực hiện quyền tặng cho quyền sử dụng đất khi có các điều kiện sau đây:
- Có Giấy chứng nhận, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 186 và trường hợp nhận thừa kế quy định tại khoản 1 Điều 168 của Luật này;
- Đất không có tranh chấp;
- Quyền sử dụng đất không bị kê biên để bảo đảm thi hành án;
- Trong thời hạn sử dụng đất.
- Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất giữa ông Nguyễn Khắc T, bà Nguyễn Tường V và ông Nguyễn Văn Đ, bà Lê Thị A phù hợp với quy định của pháp luật, thửa đất được tặng cho có đủ tất cả các điều kiện nêu trên và thuộc trường hợp bắt buộc phải đăng ký biến động đất đai theo quy định tại khoản 1 và điểm a khoản 4 Điều 95 Luật Đất đai. Việc đăng ký biến động sang tên người được tặng cho quyền sử dụng đất chỉ thay đổi tên người sử dụng thửa đất, không làm thay đổi các thông tin khác đối với thửa đất.
- Chi nhánh Văn phòng Đ cho rằng Quyết định cho phép chuyển mục đích sử dụng đất của UBND thành phố P không phù hợp với quy hoạch của Bản đồ quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 tại Quyết định số 3200/QĐ-UBND ngày 13/12/2013 của UBND tỉnh B nên không giải quyết hồ sơ đăng ký biến động của ông Nguyễn Khắc T. Hội đồng xét xử xét thấy: Đến nay, Quyết định cho phép chuyển mục đích sử dụng đất của UBND thành phố P chưa bị hủy bỏ, các thông tin về diện tích và mục đích sử dụng đất thể hiện trong hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất hoàn toàn phù hợp với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Việc trả lại hồ sơ đăng ký biến động của Chi nhánh Văn phòng Đ tại Thông báo số 561/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 17/4/2024 là không có căn cứ, xâm phạm đến quyền lợi hợp pháp của người khởi kiện nên người khởi kiện yêu cầu hủy bỏ
-
Khoản 1 Điều 188 Luật Đất đai quy định người sử dụng đất được thực hiện quyền tặng cho quyền sử dụng đất khi có các điều kiện sau đây:
7
thông báo nêu trên là có cơ sở. Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện như ý kiến của đại diện Viện kiểm sát.
- Về án phí: Do yêu cầu của người khởi kiện được chấp nhận nên người bị kiện phải chịu án phí hành chính sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 32 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; ông Nguyễn Khắc T được hoàn trả lại tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- Khoản 1 Điều 30, khoản 4 Điều 32, điểm b khoản 2 Điều 193 Luật Tố tụng hành chính; Khoản 1, điểm a khoản 4 Điều 95, khoản 1 Điều 168, Điều 169, 188 Luật Đất đai;
- Khoản 2 Điều 32 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
Tuyên xử:
-
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Khắc T.
- Hủy Thông báo số 561/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 17/4/2024 của Chi nhánh Văn phòng Đ.
- Buộc Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B, Chi nhánh Văn phòng Đ phải thực hiện nhiệm vụ, công vụ trong việc giải quyết hồ sơ đăng ký quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Khắc T theo quy định của pháp luật.
-
Về án phí hành chính sơ thẩm:
- Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hành chính sơ thẩm.
- Ông Nguyễn Khắc T không phải chịu án phí hành chính sơ thẩm. Trả lại cho ông Nguyễn Khắc T 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0000329 ngày 25/6/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bình Thuận.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (09/9/2024); đương sự vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được giao bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Luật tố tụng hành chính.
|
Nơi nhận: - VKSND tỉnh B.Thuận; - Cục THADS tỉnh B.Thuận; - Các đương sự; - Lưu: hồ sơ, TỔ HCTP; |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Quản |
8
Bản án số 162/2024/HC-ST ngày 09/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN về khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai
- Số bản án: 162/2024/HC-ST
- Quan hệ pháp luật: Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/09/2024
- Loại vụ/việc: Hành chính
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ông Nguyễn Khắc Tâm khởi kiện VPĐK tỉnh
