Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ DĨ AN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 162/2023/HNGĐ-ST

Ngày 27 - 12 - 2023

V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Hoa

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Nguyễn Văn Hoàn;
  2. Bà Nguyễn Thị Bửu Huệ.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tố Anh- Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa: Ông Trần Trọng An - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 12 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 367/2023/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 10 năm 2023 về tranh chấp ly hôn, nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 161/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 11 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 125/2023/QĐST-DS ngày 18 tháng 12 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trà Hoàng Yến T, sinh năm 1996; thường trú: Số I, đường Đ, khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương; địa chỉ liên hệ: Số E, Hẻm E, đường H, khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Minh D, sinh năm 1992; thường trú: Tổ E, Khu phố C, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Phương; địa chỉ liên hệ: Số E, Hẻm E, đường H, khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 17 tháng 8 năm 2023 và quá trình tố tụng nguyên đơn bà Trà Hoàng Yến T trình bày:

Chị và anh D tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2015, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại UBND phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương theo giấy chứng nhận kết hôn số 290/2015 quyển số 02/2015 ngày 31/12/2015.

Cuộc sống hạnh phúc được vài năm thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do quan điểm về cuộc sống không đồng nhất dẫn đến không thể nói chuyện và chia sẻ với nhau, thường xuyên cãi vã. Mặc dù hai bên đã rất cố gắng, hai gia đình cũng đã can thiệp nhưng không thể giải quyết được. Vợ chồng chị mặc dù vẫn ở chung nhà nhưng không còn chăm sóc nhau, mạnh ai người đó sống, việc ai người đó làm, không ai quan tâm đến ai và cũng không còn cùng nhau chăm sóc con chung. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Minh D.

Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có với nhau 02 người con là Nguyễn Hoàng Gia T1 sinh ngày 25/10/2017 và Nguyễn Hoàng Bảo D1 sinh ngày 09/12/2015. Từ khi vợ chồng sống ly thân chị là người trực tiếp chăm sóc các con, mọi chi phí chăm sóc, nuôi dưỡng đều do một mình chị lo, anh D không hỗ trợ nên chị yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung sau khi ly hôn và không yêu cầu anh Nguyễn Minh D thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung về tài sản: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Bị đơn anh Nguyễn Minh D đã được Tòa án triệu tập lên cung cấp bản tự khai, tham gia phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải vào ngày 30/11/2023, tham gia phiên tòa vào các ngày 18/12 và 27/12/2023 nhưng vắng mặt không có lý do nên không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của chị T, không cung cấp tài liệu chứng cứ và cũng không có ý kiến yêu cầu triệu tập thêm người tham gia tố tụng.

- Tại Biên bản xác minh ngày 31/10/2023 Hội Liên hiệp phụ nữ phường T cung cấp thông tin như sau: Hội liên hiệp phụ nữ phường không nhận được đơn đề nghị hòa giải hôn nhân giữa chị Trà Hoàng Yến T với anh Nguyễn Minh D, đồng thời Hội cũng không tiếp nhận phản ánh từ cơ sở về mâu thuẫn giữa hai ông, bà do đó không biết rõ mâu thuẫn giữa vợ chồng chị T, anh D như thế nào.

- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa:

Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán được phân công thụ lý, giải quyết vụ án đã được thực hiện đúng, đầy đủ theo quy định tại Điều 203 Bộ luật Tố tụng Dân sự, tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 về việc xét xử sơ thẩm vụ án.

Sự chấp hành pháp luật của đương sự: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự và các quy định pháp luật liên quan, nguyên đơn có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt tại phiên tòa. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, 228 để xét xử vắng mặt các đương sự.

Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án nhận thấy yêu cầu của nguyên đơn là có cơ sở theo quy định pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Trà Hoàng Y T và anh Nguyễn Minh D là vợ chồng có đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn số 290/2015 quyển số 02/2015 do UBND phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương cấp ngày 31/12/2015, nên là quan hệ hôn nhân hợp pháp.

[2] Theo đơn khởi kiện và lời trình bày trong quá trình tố tụng nguyên đơn xác định mâu thuẫn vợ chồng là do tính tình không hợp nhau, thường xuyên cãi nhau. Mặc dù hai bên đã rất cố gắng, hai gia đình cũng đã can thiệp nhưng không thể giải quyết được. Quá trình tố tụng Tòa án đã triệu tập anh D để tham gia hòa giải, hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng anh D bỏ mặc không quan tâm đến hòa giải đoàn tụ, hàn gắn quan hệ hôn nhân gia đình, chị T có đơn yêu cầu không tiến hành hòa giải vì anh D không có thiện chí hòa giải theo giấy triệu tập của tòa án và bản thân chị cũng xác định không còn tình cảm với anh D, vợ chồng đã có thời gian ly thân từ cuối năm 2023 đến nay, không còn quan tâm chăm sóc nhau nên hòa giải cũng không hàn gắn tình cảm được. Như vậy, chứng tỏ mục đích của cuộc hôn nhân không đạt được, mâu thuẫn đã thực sự trầm trọng không thể hàn gắn vì vậy yêu cầu xin ly hôn của chị T là có căn cứ theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[3] Về con chung: Vợ chồng anh, chị có với nhau 02 người con chung là cháu Nguyễn Hoàng Gia T1 sinh năm 2017, cháu Nguyễn Hoàng Bảo D1 sinh năm 2015. Chị T có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con sau ly hôn, anh D không có bất kỳ ý kiến nào về việc nuôi dưỡng các con sau ly hôn. Xét, việc giao con cho ai nuôi dưỡng thì phải đảm bảo sự phát triển tốt nhất cho các con, theo nguyên đơn trình bày thì từ khi vợ chồng sống ly thân, nguyên đơn là người trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng 02 con chung, trong bản tự khai cháu D1 cũng có nguyện vọng được ở với mẹ khi ba mẹ không còn chung sống cùng nhau. Vì vậy, căn cứ Điều 81 Luật Hôn nhân gia đình Hội đồng xét xử sẽ giao con chung cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của chị T về việc không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con.

[4] Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Đương sự không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.

Từ những phân tích trên, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An là có cơ sở chấp nhận.

Về án phí dân sự sơ thẩm: chị Trà Hoàng Yến T phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 4 Điều 147, các Điều 229, 235, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Về quan hệ hôn nhân: chị Trà Hoàng Yến T được ly hôn với anh Nguyễn Minh D (giấy chứng nhận kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn số 290/2015 quyển số 02/2015 do UBND phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương cấp ngày 31/12/2015).
  2. Về con chung: Anh Nguyễn Minh D giao cho chị T2 Hoàng Yến T nuôi dưỡng 02 con chung tên Nguyễn Hoàng Gia T1, sinh ngày 25/10/2017 và Nguyễn Hoàng Bảo D1, sinh ngày 09/12/2015. Ghi nhận sự tự nguyện của chị T về việc không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con.

    Sau khi ly hôn chị T phải tạo điều kiện cho anh D trong việc chăm sóc, thăm nom, giáo dục con, không ai có quyền cản trở anh, chị thực hiện quyền này. Vì lợi ích về mọi mặt của con khi một hoặc hai bên đương sự có yêu cầu, Tòa án sẽ quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng.

  3. Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản (nợ chung): Đương sự không yêu cầu, Tòa án không giải quyết.
  4. Về án phí dân sự sơ thẩm: chị Trà Hoàng Yến T phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0006923 ngày 13 tháng 10 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật/.

Nơi nhận:

  • - Đương sự (2);
  • - VKSND thành phố Dĩ An (1);
  • - THADS thành phố Dĩ An (1);
  • - TAND tỉnh Bình Dương (1);
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án (2).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đã ký

Trần Thị Kim Hoa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 162/2023/HNGĐ-ST ngày 27/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 162/2023/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Trả Hoàng Yến T yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Minh D
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger