Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HẬU GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 162/2023/DS-PT

Ngày: 06 – 12 – 2023

“V/v Tranh chấp quyền sở hữu tài

sản và chia di sản thừa kế”

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Thanh

Các Thẩm phán:Ông Võ Hoàng Khải

Bà Võ Thị Phượng

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thúy – Thẩm tra viên, Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Hương - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 05, 06 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang, công khai xét xử phúc thẩm vụ án thụ lý số: 120/2023/TLPT-DS ngày 01 tháng 10 năm 2023, về việc “Tranh chấp quyền sở hữu tài sản và chia di sản thừa kế”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 18/2023/DS-ST ngày 27 tháng 3 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 152/2023/QĐ-PT ngày 18 tháng 10 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn:

  1. Chị Nguyễn Thị Thanh D.
  2. Cháu Nguyễn Thành Đ, sinh năm: 2019.

Người đại diện hợp pháp của cháu Đ: Chị Nguyễn Thị Thanh D.

Cùng cư trú tại: 1 đường H, phường T, quận N, thành phố Cần Thơ.

Người đại diện theo ủy quyền của chị D (theo Hợp đồng ủy quyền ngày 16/6/2022): Ông Võ Hà T.

Cư trú tại: D đường P, khu vực Y, phường L, quận C, thành phố Cần Thơ.

- Bị đơn: Bà Huỳnh Thị T1.

Cư trú tại: ấp T, xã T, huyện P, tỉnh Hậu Giang.

Người đại diện theo ủy quyền của bà T1 (theo Hợp đồng ủy quyền ngày 23/5/2023): Bà Đặng Thị Huỳnh Cẩm Q.

Cư trú tại: ấp X, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Nguyễn Văn T2.

Cư trú tại: ấp T, xã T, huyện P, tỉnh Hậu Giang.

Người đại diện theo ủy quyền của ông T2 (theo Hợp đồng ủy quyền ngày 26/5/2023): Ông Nhan Minh H.

Cư trú tại: ấp A, xã V, thành phố V, tỉnh Hậu Giang.

Địa chỉ liên lạc: Số D, khu V, phường B, quận B, thành phố C.

  1. Công ty trách nhiệm hữu hạn B.

Trụ sở: Lầu A Tòa nhà R số B N, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

Địa chỉ liên lạc: Lầu A Tòa nhà S, đại lộ H, phường T, quận N, thành phố Cần Thơ.

  1. Ngân hàng Thương mại cổ phần N1.

Địa chỉ: Số C, Đại lộ H, phường T, quận N, thành phố Cần Thơ.

  1. Bảo hiểm xã hội thành phố Cần Thơ.

Trụ sở: Số 138 đường Nguyễn Văn Cừ, phường An Khánh, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Đặng Văn N – chức vụ: Giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền (theo Giấy ủy quyền số 1377/GUQ-BHXH ngày 01/11/2023): Ông Trần Văn K – chức vụ: Phó Giám đốc.

  1. Bà Võ Thị Mỹ V.

Cư trú tại: 1, đường H, phường T, quận N, thành phố Cần Thơ.

Người đại diện theo ủy quyền của bà V (theo Giấy ủy quyền ngày 02/12/2023): Ông Võ Hà T.

Cư trú tại: D đường P, khu vực Y, phường L, quận C, thành phố Cần Thơ.

- Người kháng cáo: Bị đơn bà Huỳnh Thị T1; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn T2.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, các tài liệu có trong hồ sơ thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 05 tháng 3 năm 2022, đơn khởi kiện bổ sung ngày 13 tháng 9 năm 2022 và trong quá trình xét xử người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thanh D là ông Võ Hà T trình bày: Năm 2013 anh Nguyễn Hoàng T3 tham gia bảo hiểm nhân thọ AIA với gói tiền 600.000.000 đồng. Đến năm 2019, chị D và anh T3 kết hôn có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn. Năm 2021, anh T3 chết không để lại di chúc, tài sản để lại bao gồm: Gói bảo hiểm nhân thọ, số tiền tham gia bảo hiểm xã hội Việt Nam, số tiền gửi trong tài khoản Ngân hàng thương mại cổ phần N1. Những người thừa kế theo pháp luật thuộc hàng thừa kế thứ nhất của anh T3 gồm chị D, cháu Nguyễn Thành Đ, sinh năm 2019 (con ruột anh T3 và chị D), bà Huỳnh Thị T1 (mẹ ruột anh T3) và ông Nguyễn Văn T2 (cha ruột anh T3). Do không thỏa thuận phân chia được di sản thừa kế nên nguyên đơn yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật: Đối với số tiền tham gia Công ty trách nhiệm hữu hạn B được chi trả 600.052.000 đồng, yêu cầu được hưởng phần di sản mà anh T3 tham gia từ tháng 02/2013 cho đến khi kết hôn với chị D tháng 6/2019 tạm tính 465.640.352 đồng và yêu cầu chia đều cho những người thừa kế và yêu cầu được nhận 02 kỷ phần (của chị D và cháu Đ) là 232.820.176 đồng; Đối với phần di sản tham gia bảo hiểm nhân thọ của Công ty trách nhiệm hữu hạn B từ khi kết hôn tháng 7/2019 đến tháng 5/2021 số tiền 134.411.648 đồng yêu cầu được nhận 50% kỷ phần với số tiền 67.205.824 đồng và còn lại chia đều cho những người thừa kế, yêu cầu được nhận 02 kỷ phần (chị D và cháu Đ) số tiền 33.602.912 đồng; Yêu cầu trích một phần di sản thừa kế để cấp dưỡng cháu Đ theo quy định pháp luật cho đến khi cháu đủ 18 tuổi; Đối với số tiền tiết kiệm tại Ngân hàng thương mại cổ phần N1 chi nhánh C là 8.924.000 đồng yêu cầu được nhận 50% số tiền 4.462.000 đồng, còn lại 4.462.000 đồng chia đều cho những người thừa kế và yêu cầu được nhận hai kỷ phần (chị D và cháu Đ) số tiền 2.231.000 đồng; Đối với số tiền tham gia bảo hiểm xã hội đến tháng 5/2021 là 71.068.000 đồng, yêu cầu được nhận tài sản chung là 50% với số tiền 6.754.398 đồng, còn 50% còn lại chia cho chị D và cháu Đ mỗi người nhận 3.377.199 đồng, số tiền còn lại 57.559.425 đồng chia đều cho những người thừa kế và yêu cầu được nhận hai kỷ phần (chị D, cháu Đ) là 28.779.715 đồng. Tổng số tiền yêu cầu chia thừa kế được nhận 379.233.224 đồng và không đồng ý với yêu cầu của bị đơn về chi phí mai táng 14.900.000 đồng.

Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn bà Huỳnh Thị T1 là ông Nhan Minh H trình bày: Bà Huỳnh Thị T1 và ông Nguyễn Văn T2 là vợ chồng có một người con chung là anh Nguyễn Hoàng T3, sinh năm 1982 (chết năm 2021). Năm 2019, anh T3 kết hôn với chị Nguyễn Thị Thanh D và có một con chung Nguyễn Thành Đ, sinh năm 2019 hiện đang được chị D trực tiếp nuôi dưỡng. Trước khi chết, anh T3 không có di chúc định đoạt tài sản, tài sản để lại tổng số tiền 680.074.839 đồng. Nay bà T1 yêu cầu phân chia di sản thừa kế theo quy định của pháp luật, phân chia thành bốn phần, bà yêu cầu được nhận một phần và được nhận chi phí mai táng 14.900.000 đồng.

Người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn T2 là ông Nhan Minh H trình bày: Ông T2 và bà Huỳnh Thị T1 là vợ chồng có một người con chung là anh Nguyễn Hoàng T3, sinh năm 1982 (chết năm 2021). Năm 2019 anh T3 kết hôn với chị Nguyễn Thị Thanh D và có một con chung Nguyễn Thành Đ, sinh năm 2019. Trước khi chết, anh T3 không có di chúc định đoạt tài sản, tài sản để lại số tiền 680.074.839 đồng. Nay ông yêu cầu phân chia di sản thừa kế theo quy định của pháp luật phân chia thành bốn phần, ông yêu cầu được nhận một phần và sau khi được phân chia thì giao phần thừa kế cho bà T1 định đoạt.

Công ty trách nhiệm hữu hạn B có văn bản trình bày: B nhận được Công văn số 110/CV.TA đề ngày 01 tháng 08 năm 2022 về thông tin liên quan đến hợp đồng bảo hiểm để giải quyết vụ án tranh chấp thừa kế có liên quan đến Hợp đồng bảo hiểm số U904104484 của anh Nguyễn Hoàng T3, sinh ngày 13/11/1982 là bên mua bảo hiểm đồng thời là người được bảo hiểm của Hợp đồng bảo hiểm số U904104484, có hiệu lực từ ngày 18/02/2013. Sản phẩm tham gia là “An phúc trọn đời nâng cao lựa chọn 1” với số tiền bảo hiểm là 600.000.000 đồng (sáu trăm triệu đồng) và bảo hiểm bệnh hiểm nghèo với số tiền bảo hiểm là 300.000.000 đồng (ba trăm triệu đồng). Hiện, Hợp đồng bảo hiểm phát sinh sự kiện bảo hiểm là việc tử vong của anh Nguyễn Hoàng T3 và đã được B thông báo chấp thuận chi trả với số tiền 600.052.000 đồng.

Tại công văn số 582a/CCTTM-CTH-KT ngày 02/8/2022 của Ngân hàng thương mại cổ phần N1 – Chi nhánh C cung cấp thông tin như sau: Thông tin khách hàng có số thẻ 97043668 04075481 037 mở tại V2: Số tài khoản: 0111001346690; chủ tài khoản: Nguyễn Hoàng T3; Sinh ngày 13/11/1982; CMND số: [...]; Địa chỉ đăng ký: Ấp T, T, P, Hậu Giang; Số dư tài khoản số 0111001346690 của Nguyễn Hoàng T3 tại thời điểm 17 giờ 01 phút ngày 02/08/2022 là 8.924.812 đồng (tám triệu, chín trăm hai mươi bốn nghìn, tám trăm mười hai đồng). Việc xử lý thừa kế Ngân hàng tuân thủ theo pháp luật hiện hành, hiện tại Ngân hàng chưa nhận được yêu cầu giao cho ai quản lý.

B1 có văn bản trình bày: Ông Nguyễn Hoàng T3, sinh năm 1982, số sổ 9210008530, tham gia đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm xã hội thất nghiệp tại Hội khuyến học thành phố C từ tháng 6/2010 đến tháng 4/2021 là 10 năm 11 tháng. Ông T3 chết ngày 02/5/2021, B1 hiện báo giảm và chốt sổ bảo hiểm xã hội cho ông T3 được hưởng tiền trợ cấp tử tuất 85.968.027 đồng (trong đó trợ cấp tuất một lần 71.068.027 đồng, trợ cấp mai táng phí 14.900.000 đồng).

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 18/2023/DS-ST ngày 27 tháng 3 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang tuyên xử như sau:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thanh D, bác yêu cầu tiền tham gia bảo hiểm xã hội thất nghiệp do B1 chi trả là tài sản chung với anh Nguyễn Hoàng T3.
  2. Chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn.
  3. Chấp nhận yêu câu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chia di sản thừa kế như sau:

Chị Nguyễn Thị Thanh D được nhận kỷ phần thừa kế: Tài sản chung số tiền 81.212.837 đồng + kỷ phần nhận thừa kế số tiền 149.010.194 đồng = 230.223.031 đồng (hai trăm ba mươi triệu, hai trăm hai mươi ba nghìn, không trăm ba mươi mốt đồng).

Bà Huỳnh Thị T1 được nhận hai kỷ phần thừa kế số tiền 300.810.773 đồng (ba trăm triệu, tám trăm mười nghìn đồng, bảy trăm bảy mươi ba nghìn đồng).

Cháu Nguyễn Thành Đ được nhận kỷ phần thừa kế số tiền 149.010.194 đồng (một trăm bốn mươi chín triệu, không trăm mười nghìn, một trăm chín mươi bốn đồng). Giao chị Nguyễn Thị Thanh D là mẹ ruột cháu Đ quản lý toàn bộ tài sản được chia thừa kế và có nghĩa vụ giao lại tài sản được thừa kế cho cháu Đ từ đủ 15 tuổi trở lên.

Bà Huỳnh Thị T1 được nhận chi phí mai táng số tiền 12.000.000 đồng (mười hai triệu đồng), bà Nguyễn Thị Thanh D được nhận số tiền 2.900.000 đồng (hai triệu, chín trăm nghìn đồng) từ B1 - thành phố Cần Thơ.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án có nghĩa vụ thi hành bản án khi có hiệu lực pháp luật:

  • Công ty trách nhiệm hữu hạn B có trách nhiệm chi trả cho chị Nguyễn Thị Thanh D số tiền 230.223.031 đồng theo Hợp đồng bảo hiểm số U904104484; B1 - thành phố Cần Thơ có trách nhiệm chi trả cho chị Nguyễn Thị Thanh D số tiền 2.900.000 đồng theo số sổ bảo hiểm 9210008530.
  • Công ty trách nhiệm hữu hạn B có trách nhiệm chi trả cho bà Huỳnh Thị T1 số tiền 300.810.773 đồng theo Hợp đồng bảo hiểm số U904104484; B1 - thành phố Cần Thơ có trách nhiệm chi trả cho bà Huỳnh Thị T1 số tiền 12.000.000 đồng theo số sổ bảo hiểm 9210008530.
  • Công ty trách nhiệm hữu hạn B có trách nhiệm chi trả cho Nguyễn Thành Đ số tiền 69.018.196 đồng theo Hợp đồng bảo hiểm số U904104484; Ngân hàng thương mại cổ phần N1 - (V2) có trách nhiệm chi trả cho Nguyễn Thành Đ số tiền 8.924.812 đồng theo số tài khoản chủ tài khoản: 0111001346690 được mở tại Ngân hàng thương mại cổ phần N1 chi nhánh C Bảo hiểm xã hội Việt Nam - thành phố Cần Thơ có trách nhiệm chi trả cho Nguyễn Thành Đ số tiền 71.068.027 đồng theo số sổ bảo hiểm 9210008530.
  1. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn trích một phần di sản thừa kế để cấp dưỡng cháu Nguyễn Thành Đ.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về lãi chậm thi hành án, án phí, quyền kháng cáo và quyền yêu cầu thi hành án của các đương sự theo quy định.

Ngày 10/4/2023, bị đơn bà Huỳnh Thị T1; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn T2 có đơn kháng cáo, yêu cầu cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, xác định di sản của ông Nguyễn Hoàng T3 để lại gồm tiền bảo hiểm nhân thọ 600.052.000 đồng, tiền bảo hiểm xã hội 71.068.027 đồng và tiền trong tài khoản V2 8.924.812 đồng; chia di sản thừa kế thành 04 kỷ phần; Yêu cầu nhận chi phí mai táng 14.900.000 đồng do bảo hiểm xã hội chi trả; Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn xác định tài sản chung với ông Nguyễn Hoàng T3.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Đối với số tiền mai táng phí là 14.900.000 đồng: Đại diện nguyên đơn là ông T đồng ý sẽ do bà T1 là người lo mai táng cho ông T3 được nhận.

- Đối với tiền tuất một lần là 71.068.027 đồng: Các đương sự thống nhất phân chia thành 06 phần bằng nhau cho thân nhân của ông Nguyễn Hoàng T3 bao gồm vợ là bà D, con là cháu Đ, cha mẹ đẻ là bà T1, ông T2, cha mẹ vợ là bà Võ Thị Mỹ V, ông Nguyễn Như H1. Trong đó, bà D sẽ đại diện nhận số tiền của bà V, ông H1 và sẽ có trách nhiệm giao lại cho bà V, ông H1; đại diện ông T2 đồng ý giao cho bà T1 sở hữu.

- Đối với số tiền đứng tên ông T3 trong tài khoản mở tại Ngân hàng thương mại cổ phần N1, chi nhánh C tạm tính tại thời điểm 02/8/2022 là 8.924.812 đồng (các đương sự thống nhất tính tròn là 8.924.000 đồng): Các đương sự thống nhất như bản án sơ thẩm xác định có ½ thuộc sở hữu của bà D, còn lại ½ sẽ chia thừa kế theo pháp luật cho bà D, cháu Đ, bà T1 và ông T2.

- Đối với số tiền 600.052.000 đồng do Công ty B chi trả: Đại diện nguyên đơn đồng ý chia thừa kế theo pháp luật cho những người thừa kế thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông T3.

Đồng thời, nhằm thuận lợi trong quá trình liên hệ với các cơ quan, tổ chức để được chi trả tiền, các đương sự thống nhất đối với số tiền tuất một lần và số tiền đứng tên ông T3 tại Ngân hàng thương mại cổ phần N1 sẽ do bà D đại diện nhận và xác định lại số tiền mỗi bên được nhận tại Công ty B tương ứng với số tiền được phân chia.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang trình bày quan điểm:

- Về chấp hành pháp luật tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và các đương sự đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị sửa bản án sơ thẩm theo hướng ghi nhận ý kiến thỏa thuận của các đương sự tại phiên tòa phúc thẩm như sau: Bà T1 được nhận tiền mai táng phí là 14.900.000 đồng; số tiền tuất một lần là 71.068.027 đồng sẽ chia thành 06 phần bằng nhau cho thân nhân của ông Nguyễn Hoàng T3 và ghi nhận trách nhiệm của bà D sẽ đại diện nhận cho cha mẹ vợ ông T3 là bà V, ông H1 (cha mẹ ruột bà D) và có trách nhiệm giao lại cho bà V, ông H1; số tiền đứng tên ông T3 tại Ngân hàng TMCP N1, chi nhánh C là tài sản chung của bà D và ông T3 trong thời kỳ hôn nhân, trong đó bà D được sở hữu ½, còn lại ½ sẽ phân chia thừa kế theo pháp luật; số tiền công ty B chi trả là 600.052.000 đồng sẽ được chia thừa kế theo pháp luật. Đồng thời, nhằm thuận lợi trong quá trình thi hành án đề nghị ghi nhận sự thỏa thuận của các đương sự về người đại diện được liên hệ với các cơ quan, tổ chức để được nhận tiền tương ứng với phần của mình được chia.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 10/4/2023, bị đơn bà Huỳnh Thị T1; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn T2 có đơn kháng cáo đúng quy định tại các Điều 271, 272, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[1.2] Tại phiên tòa phúc thẩm, vắng mặt đại diện Bảo hiểm xã hội thành phố C (có yêu cầu xét xử vắng mặt), Ngân hàng thương mại cổ phần N1 và Công ty trách nhiệm hữu hạn B không lý do. Xét thấy, Tòa án đã triệu tập hợp lệ để các đương sự tham gia phiên tòa được mở lần thứ hai nhưng đại diện Ngân hàng thương mại cổ phần N1 và Công ty trách nhiệm hữu hạn B vẫn vắng mặt. Căn cứ các khoản 2, 3 Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án. Ngoài ra, bà Võ Thị Mỹ V có Giấy ủy quyền cho ông Võ Hà Triều đại d tham gia tố tụng nên chấp nhận ông Triều đại d bà V tham gia phiên tòa phúc thẩm.

[2] Về quan hệ pháp luật: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thanh D khởi kiện yêu cầu chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, chia thừa kế theo pháp luật đối với các khoản tiền bao gồm: tiền chế độ tử tuất của ông Nguyễn Hoàng T3 (chết ngày 02/5/2021), tiền bảo hiểm nhân thọ do ông Nguyễn Hoàng T3 là bên mua và tiền trong tài khoản ngân hàng đứng tên ông Nguyễn Hoàng T3. Bị đơn bà Huỳnh Thị T1 có đơn phản tố, ông Nguyễn Văn T2 có đơn yêu cầu độc lập yêu cầu phân chia thừa kế số tiền tranh chấp trên theo pháp luật. Xét yêu cầu của các đương sự thì quan hệ pháp luật tranh chấp là tranh chấp về quyền sở hữu tài sản và tranh chấp di sản thừa kế theo quy định tại khoản 2 và khoản 5 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án cấp sơ thẩm chỉ xác định một quan hệ pháp luật là tranh chấp thừa kế là chưa đầy đủ. Bởi lẽ, ngoài yêu cầu chia thừa kế, bà D còn yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng và tranh chấp tiền tử tuất mà cơ quan Bảo hiểm xã hội sẽ chia trả cho thân nhân của ông T3. Trong đó, tranh chấp yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng là tranh chấp về quyền sở hữu tài sản; đối với tiền tuất một lần, theo quy định tại Điều 612 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì di sản phải là tài sản riêng của người chết hoặc phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác, còn số tiền trợ cấp mai táng phí và trợ cấp tuất một lần phát sinh từ sự kiện người tham gia bảo hiểm xã hội chết mà thân nhân của họ được hưởng, chỉ được chia thừa kế khi họ không có thân nhân theo quy định tại khoản 4 Điều 69 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014. Do đó, tranh chấp tiền tử tuất là việc xác định ai được hưởng số tiền tử tuất mà cơ quan bảo hiểm xã hội chi trả, nên cũng là tranh chấp về quyền sở hữu tài sản.

[3] Căn cứ lời khai của các đương sự và các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án như Đơn xin xác nhận hàng thừa kế thứ nhất của bà Nguyễn Thị Thanh D ngày 20/12/2021 (bút lục 27-28), Trích lục khai tử (bút lục 22) và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở xác định ông Nguyễn Hoàng T3, chết ngày 02/5/2021, có những người thừa kế theo pháp luật thuộc hàng thừa kế thứ nhất, đồng thời cũng là thân nhân của ông T3 bao gồm cha mẹ đẻ là ông Nguyễn Văn T2, bà Huỳnh Thị T1, vợ là Nguyễn Thị Thanh D và con là Nguyễn Thành Đ.

[4] Về người được hưởng số tiền chế độ tử tuất: Ông T3 có quá trình tham gia đóng bảo hiểm xã hội từ tháng 6/2010 đến tháng 4/2021 là 10 năm 11 tháng. Căn cứ quy định tại Điều 66, Điều 67, Điều 69 của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 thì người lo mai táng được nhận một lần trợ cấp mai táng và thân nhân được hưởng trợ cấp tuất một lần. Tại khoản 6 Điều 3 của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014, quy định: “Thân nhân là con đẻ, con nuôi, vợ hoặc chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, cha vợ hoặc cha chồng, mẹ vợ hoặc mẹ chồng của người tham gia bảo hiểm xã hội hoặc thành viên khác trong gia đình mà người tham gia bảo hiểm xã hội đang có nghĩa vụ nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình”.

[4.1] Đối với số tiền trợ cấp mai táng là 14.900.000 đồng sẽ được chi trả cho người lo mai táng. Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện nguyên đơn đồng ý do bà T1 là người lo mai táng nên đồng ý cho bà T1 được nhận số tiền này. Xét ý kiến của đại diện nguyên đơn là tự nguyện, phù hợp với quy định của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 nên chấp nhận kháng cáo của bà T1 về nội dung này.

[4.2] Đối với tiền trợ cấp tuất một lần với số tiền là 71.068.027 đồng. Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự xác định thân nhân của ông T3 ngoài bà D, cháu Đ, bà T1 và ông T2 thì ông T3 không có cha nuôi, mẹ nuôi, con nuôi, không có người khác mà ông T3 có trách nhiệm nuôi dưỡng. Nguyên đơn có cung cấp được chứng cứ chứng minh cha mẹ vợ của ông T3 là ông Nguyễn Như H1 và bà Võ Thị Mỹ V. Như vậy, những người được hưởng trợ cấp tuất một lần là thân nhân của ông T3 bao gồm ông Nguyễn Văn T2, bà Huỳnh Thị T1, chị Nguyễn Thị Thanh D, cháu Nguyễn Thành Đ, ông Nguyễn Như H1 và bà Võ Thị Mỹ V. Tòa án cấp sơ thẩm không đưa ông H1, bà V vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo khoản 4 Điều 68 của Bộ luật Tố tụng dân sự, phân chia số tiền tuất một lần không có phần của ông H1, bà V là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng dân sự, ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của ông H1 và bà V.

[4.2.1] Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự thống nhất phân chia số tiền tuất một lần thành 06 phần bằng nhau cho thân nhân của ông Nguyễn Hoàng T3 bao gồm bà D, cháu Đ, bà T1, ông T2, bà V và ông H1. Đồng thời, đại diện theo ủy quyền của bà D, đồng thời là đại diện theo ủy quyền của bà V có ý kiến đồng ý giao cho bà D đại diện nhận số tiền của bà V, ông H1 và sẽ có trách nhiệm giao lại cho bà V, ông H1; đại diện ông T2 đồng ý nhường quyền cho bà T1 sở hữu. Xét thấy, ý kiến thỏa thuận của các đương sự tại phiên tòa phúc thẩm là tự nguyện, vẫn đảm bảo quyền lợi của ông H1, bà V nên không cần thiết hủy bản án sơ thẩm về phần này. Tòa án cấp sơ thẩm cần nghiêm túc rút kinh nghiệm.

[4.2.2] Như vậy, số tiền bà D được đại diện nhận bao gồm 04 phần với số tiền là 47.379.000 đồng, bà T1 nhận 02 phần với số tiền là 23.689.000 đồng. Bà D có trách nhiệm giao trả cho ông H1, bà V số tiền đã nhận thuộc phần của ông H1, bà V, trường hợp có tranh chấp sẽ giải quyết thành vụ án khác.

[5] Về xác định di sản thừa kế của anh Nguyễn Hoàng T3:

[5.1] Đối với số tiền bảo hiểm nhân thọ: Theo Hợp đồng bảo hiểm số U904104484 giữa ông Nguyễn Hoàng T3 và Công ty trách nhiệm hữu hạn B thì ông T3 là bên mua bảo hiểm, cũng là người thụ hưởng với gói bảo hiểm “An phúc trọn đời nâng cao lựa chọn 1” phát sinh hiệu lực từ ngày 18/02/2013. Theo quy định tại khoản 8 Điều 3 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000 quy định “Người thụ hưởng là tổ chức, cá nhân được bên mua bảo hiểm chỉ định để nhận tiền bảo hiểm theo hợp đồng bảo hiểm con người”. Do trong hợp đồng bảo hiểm ông T3 là nguời mua, đồng thời cũng là người thụ hưởng nên số tiền bảo hiểm chi trả được xác định là di sản của ông T3 để lại. Do đó, số tiền bảo hiểm nhân thọ sẽ được B chi trả cho những người thừa kế của ông T3. Tòa án cấp sơ thẩm xác định số tiền này có một khoản tiền trong thời gian từ khi ông T3 kết hôn với bà D là tài sản chung của ông T3, bà D là không đúng, làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của ông T2, bà T1 và cháu Đ. Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện theo ủy quyền của bà D đồng ý chia thừa kế theo pháp luật đối với số tiền bảo hiểm nhân thọ, phù hợp với yêu cầu kháng cáo của bà T1, ông T2 nên chấp nhận.

[5.2] Đối với số tiền tiết kiệm do ông T3 đứng tên chủ tài khoản tại Ngân hàng TMCP N1: Mặc dù ông T3 đứng tên chủ tài khoản với số tiền tạm tính tại thời điểm 02/8/2022 là 8.924.812 đồng (các đương sự thống nhất tính tròn là 8.924.000 đồng), nhưng đây là tài sản ông T3 có được trong thời kỳ hôn nhân với bà D. Căn cứ Điều 33 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 thì số tiền này là tài sản chung của ông T3 và bà D trong thời kỳ hôn nhân. Tòa án cấp sơ thẩm xác định có ½ là tài sản của bà D, còn lại ½ là di sản thừa kế của ông T3 là có căn cứ.

[6] Về chia di sản thừa kế: Do ông T3 chết không để lại di chúc nên di sản của ông T3 sẽ được phân chia theo pháp luật. Các đương sự thống nhất các khoản tiền là di sản sẽ được phân chia cho những người thừa kế, nên xác định tổng số tiền là 604.514.000 đồng (600.052.000 đồng + 4.462.000 đồng), được chia thành 04 kỷ phần bằng nhau chia đều cho ông T2, bà T1, bà D và cháu Đ với giá trị của mỗi kỷ phần là 151.128.500 đồng.

[7] Do ông T2 có yêu cầu nhường kỷ phần của ông được hưởng cho bà T1 nên bà T1 được nhận 02 kỷ phần. Đối với kỷ phần của cháu Đ sẽ do người đại diện hợp pháp là bà D đại diện nhận và có quyền định đoạt vì lợi ích của cháu Đ theo quy định tại khoản 2 Điều 76, khoản 1 Điều 77 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

[8] Như vậy, bà D được nhận số tiền là 354.098.000 đồng (trong đó: tiền trợ cấp tuất là 47.379.000 đồng, tiền chia tài sản chung là 4.462.000 đồng, tiền chia thừa kế là 302.257.000 đồng); bà T1 được nhận là 340.846.000 đồng (trong đó: tiền trợ cấp mai táng phí là 14.900.000 đồng, tiền trợ cấp tuất một lần là 23.689.000 đồng, tiền chia thừa kế là 302.257.000 đồng).

[9] Về việc nhận các khoản tiền: Nhằm thuận tiện cho các bên trong việc liên hệ với các cơ quan, tổ chức có trách nhiệm chi trả cần ghi nhận ý kiến thỏa thuận của các đương sự, xác định khoản tiền các đương sự được nhận như sau:

[9.1] Bà D được nhận khoản tiền trợ cấp tuất một lần với số tiền 71.068.027 đồng, tiền ông Nguyễn Hoàng T3 đứng tên chủ tài khoản số 0111001346690 tại Ngân hàng TMCP N1, chi nhánh C tạm tính tại thời điểm 17 giờ 01 phút ngày 02/8/2022 là 8.924.000 đồng và một phần tiền bảo hiểm nhân thọ theo Hợp đồng bảo hiểm số U904104484 với số tiền là 274.106.000 đồng (trong đó: phần của bà D là 167.436.089 đồng, phần bà D đại diện nhận cho cháu Đ là 162.973.250 đồng, phần của bà V, ông H1 mỗi người là 11.844.750 đồng)

[9.2] Bà T1 được nhận một phần tiền bảo hiểm nhân thọ theo Hợp đồng bảo hiểm số U904104484 với số tiền là 325.946.000 đồng và tiền trợ cấp mai táng phí là 14.900.000 đồng.

[9.3] Theo Quyết định số 166/QĐ-BHXH ngày 31/01/2019 của B1 về việc ban hành quy trình giải quyết hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội, chi trả các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp và Công văn số 1381/BHXH-CĐBHXH ngày 02/11/2013 của Bảo hiểm xã hội thành phố C thì trách nhiệm chi trả tiền tử tuất là của Bảo hiểm xã hội cấp quận, huyện nơi thân nhân của ông T3 được hưởng cư trú. Do đó, bà D, bà T1 có quyền liên hệ với cơ quan Bảo hiểm xã hội nơi mình cư trú để làm các thủ tục nhận tiền chế độ tử tuất của ông T3 theo quy định.

[10] Từ những nhận định trên, có cơ sở chấp nhận một phần kháng cáo của bà Huỳnh Thị T1 và ông Nguyễn Văn T2, sửa một phần bản án sơ thẩm.

[11] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[12] Về án phí dân sự sơ thẩm: ông T2, bà T1 là người cao tuổi, cháu Đ là trẻ em, căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án thì thuộc trường hợp miễn án phí. Do đó, bà T1 và cháu Đ không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Bà D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm chia thừa kế, chia tài sản là 9.556.000 đồng.

[13] Về án phí dân sự phúc thẩm: Không ai phải chịu.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị, nên không xem xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn bà Huỳnh Thị T1 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn T2;

Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 18/2023/DS-ST ngày 27 tháng 3 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang.

Áp dụng:

  • Các Điều 612, 623, 649, 650, 651, 658, 660 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
  • Khoản 6 Điều 3, Điều 66, Điều 67, Điều 69 của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014;
  • Khoản 8 Điều 3 của Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000;
  • Các Điều 33, 73, 76, 77 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
  • Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thanh D, cháu Nguyễn Thành Đ (do bà D là người đại diện) về yêu cầu chia tài sản chung và yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật;

Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bị đơn bà Huỳnh Thị T1, chấp nhận một phần yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Văn T2 về yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật;

- Bà Nguyễn Thị Thanh D được nhận khoản tiền trợ cấp tuất một lần với số tiền 71.068.027 đồng, tiền ông Nguyễn Hoàng T3 đứng tên chủ tài khoản số 0111001346690 tại Ngân hàng TMCP N1, chi nhánh C tạm tính tại thời điểm 17 giờ 01 phút ngày 02/8/2022 là 8.924.812 đồng và một phần tiền bảo hiểm nhân thọ theo Hợp đồng bảo hiểm số U904104484 giữa ông Nguyễn Hoàng T3 và Công ty trách nhiệm hữu hạn B với số tiền là 274.106.000 đồng (trong đó: phần của bà D là 167.436.089 đồng, phần bà D đại diện nhận cho cháu Nguyễn Thành Đ là 162.973.250 đồng, phần của ông Nguyễn Như H1 và bà Võ Thị Thu V1 mỗi người là 11.844.750 đồng)

- Bà Huỳnh Thị T1 được nhận một phần tiền bảo hiểm nhân thọ theo Hợp đồng bảo hiểm số U904104484 giữa ông Nguyễn Hoàng T3 và Công ty trách nhiệm hữu hạn B với số tiền là 325.946.000 đồng và tiền trợ cấp mai táng phí là 14.900.000 đồng.

Bà Huỳnh Thị T1 và bà Nguyễn Thị Thanh D được quyền liên hệ với Ngân hàng thương mại cổ phần N1, Công ty trách nhiệm hữu hạn B và Bảo hiểm xã hội có trách nhiệm chi trả để làm các thủ tục nhận số tiền trên theo quy định.

  1. Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Bà Huỳnh Thị T1, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn T2, cháu Nguyễn Thành Đ được miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.

- Nguyên đơn Nguyễn Thị Thanh D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền là 9.556.000 đồng, được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp 5.560.000 đồng theo biên lai thu số 0007889 ngày 10/3/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang. Số tiền còn lại bà D phải nộp là 3.996.000 đồng.

  1. Về án phí dân sự phúc thẩm: Không ai phải chịu.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Hậu Giang;
  • - TAND H. Phụng Hiệp;
  • - Chi cục THADS H. Phụng Hiệp;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Hồng Thanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 162/2023/DS-PT ngày 06/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG về tranh chấp quyền sở hữu tài sản và chia di sản thừa kế

  • Số bản án: 162/2023/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sở hữu tài sản và chia di sản thừa kế
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 06/12/2023
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Về quan hệ pháp luật: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thanh Duyên khởi kiện yêu cầu chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, chia thừa kế theo pháp luật đối với các khoản tiền bao gồm: tiền chế độ tử tuất của ông Nguyễn Hoàng Thành (chết ngày 02/5/2021), tiền bảo hiểm nhân thọ do ông Nguyễn Hoàng Thành là bên mua và tiền trong tài khoản ngân hàng đứng tên ông Nguyễn Hoàng Thành. Bị đơn bà Huỳnh Thị Thắm có đơn phản tố, ông Nguyễn Văn Thường có đơn yêu cầu độc lập yêu cầu phân chia thừa kế số tiền tranh chấp trên theo pháp luật. Xét yêu cầu của các đương sự thì quan hệ pháp luật tranh chấp là tranh chấp về quyền sở hửu tài sản và tranh chấp di sản thừa kế theo quy định tại khoản 2 và khoản 5 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án cấp sơ thẩm chỉ xác định một quan hệ pháp luật là tranh chấp thừa kế là chưa đầy đủ. Bởi lẽ, ngoài yêu cầu chia thừa kế, bà Duyên còn yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng và tranh chấp tiền tử tuất mà cơ quan Bảo hiểm xã hội sẽ chia trả cho thân nhân của ông Thành. Trong đó, tranh chấp yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng là tranh chấp về quyền sở hữu tài sản; đối với tiền tuất một lần, theo quy định tại Điều 612 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Di sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung của người khác”. Theo đó, di sản phải là tài sản do người chết để lại, còn số tiền trợ cấp mai táng phí và trợ cấp tuất một lần phát sinh từ sự kiện người tham gia bảo hiểm xã hội chết mà thân nhân của họ được hưởng, chỉ được chia thừa kế khi họ không có thân nhân theo quy định tại khoản 4 Điều 69 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014. Do đó, tranh chấp tiền tử tuất là việc xác định ai được hưởng số tiền tử tuất mà cơ quan bảo hiểm xã hội chi trả, nên cũng là tranh chấp về quyền sở hữu tài sản.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger