|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG Bản án số: 162/2020/DS-PT Ngày: 29/10/2020 Tranh chấp kiện đòi nợ hụi và thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thị Bích Vân
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Như Tám, Ông Trần Bá Kha
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nàng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Nhân - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 10 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 156/2020/TLPT-DS ngày 07 tháng 10 năm 2020 về Tranh chấp kiện đòi nợ hụi và thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 19/2020/DS-ST ngày 15 tháng 7 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện Q, tỉnh Kiên Giang bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 157/2020/QĐPT-DS ngày 14 tháng 10 năm 2020 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Bùi Văn T (tên thường gọi là G), sinh năm 1975. Có mặt.
Địa chỉ: ấp H, xã Đ, huyện Q, tỉnh Kiên Giang.
Bị đơn: Ông Danh L, sinh năm 1975. Có mặt.
Địa chỉ: ấp H, xã Đ, huyện Q, tỉnh Kiên Giang.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Thị Tuyết M (tên thường gọi là D), sinh năm 1976 (đã chết).
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ của bà M:
- Ông Danh V - sinh năm 1928. Vắng mặt
- Anh Danh Minh N - sinh ngày 23/8/2002. Vắng mặt
- Chị Danh Thị Minh T - sinh ngày 08/7/2004. Vắng mặt
Cùng địa chỉ: ấp H, xã Đ, huyện Q, tỉnh Kiên Giang.
Người giám hộ cho anh N và chị T là ông Danh L (cha ruột).
Người làm chứng:
- Bà Thị D - sinh năm 1984. Vắng mặt
- Bà Thị Kim T - sinh năm 1983. Vắng mặt
- Bà Trịnh Thu N - sinh năm 1982. Vắng mặt
- Người kháng cáo: Bị đơn ông Danh L.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Nguyên đơn ông Bùi Văn T trình bày: Bà Thị Tuyết M (vợ ông Danh L) có làm chủ hụi nên ông có tham gia chơi hụi của bà M, cụ thể như sau:
Vào ngày 11/4/2017, bà M áp dây hụi 3.000.000 đồng, nửa tháng xổ 01 lần, gồm có 53 hụi viên, ông tham gia 01 chân hụi, khi hụi xổ được 25 lần còn lại 28 lần thì ngưng do bà M chết, ông đã đóng được 25 lần với số tiền là 54.780.000 đồng. Tiếp đến vào ngày 26/6/2017, bà M áp dây hụi 500.000 đồng, một tuần xổ 01 lần, gồm có 72 hụi viên, ông tham gia 01 chân hụi, hụi xổ được 39 lần còn lại 33 lần thì ngưng, ông đã đóng được 39 lần với số tiền là 15.500.000 đồng. Bà M chết vào ngày 16/4/2018 nên hụi ngưng lại từ đó đến nay.
Sau khi bà M chết, ông và những hụi viên còn lại (hụi sống) đến gặp ông L bàn tính và thống nhất về việc ông L gom tiền hụi của những hụi viên đã hốt giao lại cho ông và những hụi viên còn lại (hụi sống), có lập biên bản các bên ký tên. Đồng thời, lúc áp hụi của hai dây hụi trên thì ông Danh L đều biết và ông L có đi gom hụi khi vợ ông đã chết. Hơn nữa, khi bà M nằm viện thì đứa cháu của bà M có đi gom hụi giùm bà M.
Nay ông yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Danh L phải trả cho ông số tiền nợ hụi là 70.280.000 đồng (bảy mươi triệu, hai trăm tám mươi nghìn đồng). Ngoài ra ông không yêu cầu thêm gì.
- Bị đơn ông Danh L trình bày: Ông xác định việc vợ ông tổ chức hụi như thế nào thì ông không biết, khoảng 01 - 02 tháng sau ông có biết và kêu vợ ông ngưng hụi, nhưng vợ ông nói lỡ rồi không có tiền giao lại cho những hụi viên chưa hốt. Đồng thời, ông cũng không giáp mặt với những hụi viên để xác định hụi với nhau. Sau khi vợ ông chết, ông và những hụi viện còn lại (hụi sống) có bàn tính thống nhất là ông gom tiền hụi của những hụi viên đã hốt, giao lại cho những hụi viên còn lại (hụi sống) trong đó có ông T, có lập biên bản các bên ký tên. Sau đó, ông chỉ gom được 01 lần với số tiền là 9.000.000 đồng giao cho bà T1, từ đó đến nay không gom được ai nữa. Ông không thừa nhận số tiền hụi mà ông T kiện ông là 70.280.000 đồng, vì ông không có nhận số tiền này hay chơi hụi gì với ông T mà do vợ ông làm nên ông không biết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Nhận thấy, nguyên đơn là ông T chỉ yêu cầu ông L (là chồng bà M) trả số tiền hụi còn nợ, mà không yêu cầu các con và cha bà M (là ông V) cùng liên đới trả nợ. Vì vậy, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy việc vắng mặt của những người này không làm ảnh hưởng đến quyền lợi, nghĩa vụ của nguyên đơn và bị đơn. Nên việc vắng mặt của những người này không liên quan đến việc kháng cáo. Vì vậy, HĐXX vẫn tiến hành xét xử mà không cần thiết phải hoãn phiên tòa.
[2] Tại phiên tòa phúc thẩm, giữa ông T với ông L tự nguyện thỏa thuận và thống nhất số tiền hụi ông L có nghĩa vụ phải trả cho ông T là 55.000.000 đồng, ông L được trả số nợ làm hai lần, cụ thể như sau: lần thứ nhất trả vào ngày 28/3/2021 với số tiền là 30.000.000 đồng, lần thứ hai vào ngày 28/10/2021 với số tiền còn lại là 25.000.000 đồng. Nếu đến ngày trả nợ lần đầu (28/3/2021) mà ông L vẫn không trả được số tiền 30.000.000 đồng, thì ông T có quyền làm đơn yêu cầu Thi hành án trả một lần hết số tiền còn nợ. Đồng thời, ông L còn phải chịu thêm khoản tiền lãi chậm trả theo quy định pháp luật. Xét thấy, các đương sự tự nguyện thỏa thuận, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội, nên được chấp nhận và công nhận sự thỏa thuận của các đương sự theo quy định tại Điều 300 Bộ luật Tố tụng dân sự.
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Điều 300, Khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;
- Áp dụng các Điều 471, 615, 651 Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị định số 144/2006/NĐ-CP ngày 27 tháng 11 năm 2006 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường;
- Chấp nhận kháng cáo của ông Danh L.
- Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 19/2020/DS-ST ngày 15 tháng 7 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện Q, tỉnh Kiên Giang.
Tuyên xử:
1. Công nhận sự thỏa thuận của ông Bùi Văn T với ông Danh L về việc: Ông Danh L có nghĩa vụ trả cho ông Bùi Văn T số tiền hụi còn nợ là 55.000.000 đồng (Năm mươi lăm triệu đồng). Số tiền nợ được trả làm hai lần, cụ thể như sau:
- - Lần thứ nhất vào ngày 28/3/2021: Trả số tiền là 30.000.000 đồng;
- - Lần thứ hai vào ngày 28/10/2021: Trả số tiền còn nợ lại là 25.000.000 đồng.
|
Nơi nhận: - VKSND tỉnh Kiên Giang; - TAND huyện Q; - THA dân sự huyện Q; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký và đóng dấu) Đặng Thị Bích Vân |
Bản án số 162/2020/DS-PT ngày 29/10/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang về tranh chấp kiện đòi nợ hụi và thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại
- Số bản án: 162/2020/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp kiện đòi nợ hụi và thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 29/10/2020
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ông T kiện ông L tranh chấp nợ hụi
