|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ GHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 1618/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 20-6-2025
V/v: “Ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Thu Hà.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trần Đăng Vạn
- Bà Nguyễn Hương Thủy.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền – Cán bộ Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
Ngày 20 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 1139/2025/HNST ngày 09 tháng 5 năm 2025 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 5380/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 6 năm 2025 giữa:
- Nguyên đơn: Bà Đặng Thị Minh Hồng, sinh năm 1972;
Địa chỉ thường trú: Tổ 2, xã Tân Hòa, huyện Bến Lức, tỉnh Long An.
- Bị đơn: Ông Phạm Văn Có, sinh năm 1972;
Địa chỉ tạm trú: Số 32 Đường số 47, Khu phố 6, phường Thảo Điền, Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ liên hệ: Số 60 Giang Văn Minh, phường Thảo Điền, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Bà Hồng, ông Có có đơn xin xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, nguyên đơn là bà Đặng Thị Minh Hồng trình bày như sau: Bà và ông Phạm Văn Có tự nguyện kết hôn năm 2003 theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 07/2003, Quyển số 01 do Uỷ ban nhân dân xã Tân Hòa, huyện Bến Lức, tỉnh Long An cấp ngày 23/6/2003. Thời gian đầu chung sống giữa bà và ông Có chung sống với nhau hạnh phúc, tuy nhiên khoảng từ năm 2021 hai vợ chồng bắt đầu xảy ra mâu thuẫn do có nhiều bất đồng trong quan điểm sống, không có tiếng nói chung suốt nhiều năm, cuộc sống hôn nhân ngày càng ngột ngạt và bế tắc, cả hai không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Hiện bà và ông Có đã ly thân từ tháng 9/2024 đến nay. Do nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà đề nghị được ly hôn với ông Có.
Về con chung: Giữa bà và ông Phạm Văn Có có 01 (một) con chung tên Phạm Tuyết Nhi sinh ngày 25/11/2003. Hiện con chung đã thành niên.
Tài sản chung và nợ chung: Bà Hồng khai không có và không yêu cầu giải quyết.
Theo Bản tự khai, bị đơn ông Phạm Văn Có trình bày như sau:
Ông và bà Hồng có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 07/2003 Quyển số 01 do Ủy ban nhân dân xã Tân Hòa, huyện Bến Lức, tỉnh Long An cấp ngày 23/6/2003. Nay bà Đinh Thị Minh Hồng yêu cầu ly hôn ông đồng ý. Giữa ông và bà Hồng có 01 con chung tên Phạm Tuyết Nhi, sinh năm 2003.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có và cũng không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa: Bà Đặng Thị Minh Hồng, ông Phạm Văn Có có đơn xin vắng mặt nên không có lời trình bày tại phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Bà Hồng khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông Có nên xác định là quan hệ tranh chấp về việc ly hôn theo khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn có nơi cư trú tại thành phố Thủ Đức nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức.
[2] Về việc vắng mặt của các đương sự: Bà Đặng Thị Minh Hồng là nguyên đơn và ông Phạm Văn Có là bị đơn vắng mặt nhưng có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ Khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, quyết định xét xử vắng mặt bà Hồng và ông Có.
[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy:
Bà Đặng Thị Minh Hồng và ông Phạm Văn Có tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 07/2003, Quyển số 01 do Uỷ ban nhân dân xã Tân Hòa, huyện Bến Lức, tỉnh Long An cấp ngày 23/6/2003 nên xác định hôn nhân của bà Hồng và ông Có là hợp pháp. Bà Hồng trình bày, trong thời gian chung sống với ông Có do có nhiều bất đồng về quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên cãi vã, không quan tâm đến nhau. Trong quá trình giải quyết vụ án, ông Có có bản tự khai trình bày ý kiến đồng ý với yêu cầu ly hôn của bà Hồng. Từ những nhận định trên cho thấy mối quan hệ hôn nhân của bà Hồng và ông Có đã trở nên trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng không còn quan tâm, chăm sóc cho nhau, bà Hồng và ông Có đã ly thân từ tháng 9/2024 đến nay do đó yêu cầu ly hôn của bà Hồng là có cơ sở để chấp nhận.
Về con chung: Giữa bà Đặng Thị Minh Hồng và ông Phạm Văn Có có 01 (một) con chung tên Phạm Tuyết Nhi sinh ngày 25/11/2003. Hiện con chung đã thành niên.
Tài sản chung và nợ chung: Bà Đặng Thị Minh Hồng và ông Phạm Văn Có khai không có và không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4] Về án phí: Bà Đặng Thị Minh Hồng chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định của pháp luật, ông Có không phải chịu án phí.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- - Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 228, Điều 243, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- - Áp dụng Điều 56, Điều 57 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
- - Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đặng Thị Minh Hồng:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Đặng Thị Minh Hồng được ly hôn với ông Phạm Văn Có.
(Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 07/2003, Quyển số 01 do Uỷ ban nhân dân xã Tân Hòa, huyện Bến Lức, tỉnh Long An cấp ngày 23/6/2003 không còn giá trị pháp lý)
- Về con chung: Bà Đặng Thị Minh Hồng và ông Phạm Văn Có có 01 (một) con chung tên Phạm Tuyết Nhi sinh, ngày 25/11/2003. Hiện con chung đã thành niên.
- Tài sản chung và nợ chung: Bà Đặng Thị Minh Hồng và ông Phạm Văn Có tự khai không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí: Bà Đặng Thị Minh Hồng phải chịu án phí là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn) đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà Hồng đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu số 0072648 ngày 08 tháng 5 năm 2025 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức. Bà Hồng đã nộp đủ án phí.
- Quyền kháng cáo, kháng nghị:
Bà Đặng Thị Minh Hồng và ông Phạm Văn Có có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh có quyền kháng nghị bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có quyền kháng nghị bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Thị Thu Hà |
Bản án số 1618/2025/HNGĐ-ST ngày 20/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn
- Số bản án: 1618/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
