TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 161/2024/HNGĐ-ST
Ngày 31 – 7 – 2024
V/v tranh chấp ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thanh Hiền.
Các Hội thẩm nhân dân.
Ông Nguyễn Văn Mầm.
Ông Nguyễn Tấn Lộc.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thu Khiếm – Là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cái
Nước, tỉnh Cà Mau.
Ngày 31 tháng 7 năm 2024 tại Tòa án nhân dân huyện Cái Nước xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 209/2024/TLST–HNGĐ ngày 10 tháng 4 năm 2024 về tranh chấp ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 133/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trần Thị Đ (Đ1), sinh năm 1979 (vắng mặt).
Địa chỉ cư trú: Ấp C, xã Đ, huyện C, tỉnh Cà Mau.
- Bị đơn: Anh Trần Hoàng N, sinh năm 1984 (vắng mặt).
Địa chỉ cư trú: Ấp C, xã Đ, huyện C, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 09/4/2024 và các lời khai tại Tòa án chị Trần Thị Đ (Đỉnh) (nguyên đơn) trình bày:
Về hôn nhân: Chị và anh Trần Hoàng N chung sống với nhau vào năm 2009, hôn nhân tự nguyện nhưng không có đăng ký kết hôn. Quá trình chung sống hạnh phúc nhưng đến năm 2021 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, không hợp nhau, anh N không quan tâm lo lắng gia đình, vợ chồng thường xuyên cự cãi và đã sống ly thân từ năm 2021 cho đến nay. Do cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, nay chị yêu cầu ly hôn với anh Trần Hoàng N.
Về con chung: Chị xác định có 01 con chung tên Trần Hoàng P, sinh ngày 28/4/2010. Hiện nay, con đang sống với chị. Sau khi ly hôn chị yêu cầu được nuôi con và không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Chị xác định tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết
Về nợ thu, nợ trả: Chị xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với anh Trần Hoàng N, sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý về yêu cầu của chị Trần Thị Đ (Đ1) nhưng anh N không có ý kiến. Tòa án thông báo để anh N tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải đến lần thứ hai nhưng anh N vắng mặt nên Tòa án không thể tiến hành hòa giải giữa anh, chị được.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã triệu tập hợp lệ anh Trần Hoàng N tham gia phiên tòa đến lần thứ hai nhưng anh N vắng mặt không lý do; nguyên đơn chị Trần Thị Đ (Đỉnh) có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh N, chị Đ theo quy định tại khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ Luật tố tụng dân sự.
[2] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền:
Tranh chấp giữa chị Trần Thị Đ (Đ1) với anh Trần Hoàng N là tranh chấp hôn nhân và gia đình về tranh chấp ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.
Bị đơn anh Trần Hoàng N có địa chỉ cư trú tại ấp C, xã Đ, huyện C, tỉnh Cà Mau. Do đó, Tòa án nhân dân huyện Cái Nước thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[3] Về nội dung vụ án:
[3.1] Về hôn nhân: Chị Trần Thị Đ (Đ1) và anh Trần Hoàng N chung sống với nhau vào năm 2009, hôn nhân tự nguyện nhưng không có đăng ký kết hôn theo đúng quy định tại Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình và được Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện C xác nhận ngày 09/4/2024. Do đó, hôn nhân của anh, chị không có giá trị pháp lý. Qua mâu thuẫn giữa chị Đ và anh N như chị Đ trình bày, mặc dù chị Đ yêu cầu xin ly hôn với anh N nhưng do anh, chị không có đăng ký kết hôn nên Hội đồng xét xử không công nhận quan hệ giữa chị Đ và anh N là vợ chồng là có căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình.
[3.2] Về con chung: Chị Đ xác định có 01 con chung tên Trần Hoàng P, sinh ngày 28/4/2010. Hiện nay, con đang sống với chị Đ. Sau khi ly hôn chị Đ yêu cầu được nuôi con và không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, từ trước đến nay chị Đ nuôi dưỡng con cũng đã ổn định, sức khỏe vẫn phát triển bình thường. Mặt khác, theo biên bản lấy lời khai ngày 07/6/2024 cháu Trần Hoàng P có nguyện vọng muốn sống với chị Đ, anh N cũng không có ý kiến yêu cầu được nuôi con nên yêu cầu nuôi con
của chị Đ là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Đ giao cháu Trần Hoàng P cho chị Đ trực tiếp nuôi dưỡng. Chị Đ không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[3.3] Về tài sản chung: Chị Đ xác định tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết, do đó Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[3.4] Về nợ thu, nợ trả: Chị Đ xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết, do đó Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[4] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Đ phải chịu theo quy định của pháp luật.
[5] Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 9, 14, 15, 51, 53, 81, 82 và 83 của Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
[1] Về hôn nhân: Không công nhận chị Trần Thị Đ (Đ1) với anh Trần Hoàng N là vợ chồng.
[2] Về con chung: Giao cho chị Trần Thị Đ (Đ1) được tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung tên Trần Hoàng P, sinh ngày 28/4/2010 và anh Trần Hoàng N không phải cấp dưỡng nuôi con.
Anh Trần Hoàng N không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
[3] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Trần Thị Đ (Đ1) phải chịu 300.000 đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0013057 ngày 10/4/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cái Nước; chị Đ đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Trường hợp Bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án dân sự, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án xử sơ thẩm công khai, chị Trần Thị Đ (Đ1) và anh Trần Hoàng N vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày được tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thanh Hiền |
Bản án số 161/2024/HNGĐ-ST ngày 31/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 161/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không công nhận chị Trần Thị Đ với anh Trần Hoàng N là vợ chồng
