Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 161/2024/DS-ST

Ngày: 29/7/2024

V/v Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Quang Dũng

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Lâm Văn Vô
  2. Ông Đoàn Hồng Hải

- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Văn Dần

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5 tham gia phiên toà:

Bà Nguyễn Thị Thu Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 7 năm 2024 tại Tòa án nhân dân Quận 5 – Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 49/2023/DSST ngày 15 tháng 3 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 139/2024/QĐXX-DS ngày 17 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 102/2024/QĐST-DS ngày 08 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Đỗ Ánh T, sinh năm 1982
  2. Địa chỉ: H T, phường B, Quận A, Tp. .

    Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đoàn Quốc P, sinh năm 1981.

    Địa chỉ: 4 N, Phường A, quận B, Tp ..

    (Giấy ủy quyền ngày 14/3/2023 tại Phòng C, Tp .)

  3. Bị đơn: Ông Nguyễn Tương L, sinh năm: 1988
  4. Địa chỉ: Ấp T, xã B, huyện G, tỉnh Tiền Giang.

    Địa chỉ nơi làm việc: Trung tâm truyền máu Bệnh viện Chợ Rẫy Thành phố H số B N, Phường A, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 14/3/2023 và quá trình giải quyết vụ án ông Đoàn Quốc P là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Do quen biết và tin tưởng nhau trong cuộc sống nên ngày 05/12/2020, bà Đỗ Ánh T cho ông Nguyễn Tương L vay số tiền 1.000.000.000 đồng, thỏa thuận đến ngày 27/5/2021 ông L sẽ trả gốc và lãi cho bà T là 1.100.000.000 đồng. Đối với khoản vay này, ông L đã trả cho bà T số tiền lãi là 100.000.000 đồng, chưa trả tiền gốc.

1

Ngày 19/5/2021, bà T tiếp tục cho ông L vay 200.000.000 đồng, thỏa thuận tiền lãi mỗi năm là 20.000.000 đồng. Khoản vay này, ông L chưa trả tiền lãi và gốc cho bà T.

Nay bà T có đơn khởi kiện, yêu cầu ông L trả cho bà số tiền gốc và lãi, cụ thể:

+ Gốc: 1.200.000.000 đồng

+ Tiền lãi đối với số tiền gốc 1.000.000.000 đồng tạm tính từ ngày 27/5/2021 cho đến 27/02/2023 là: 350.700.000 đồng.

+ Tiền lãi đối với số tiền gốc 200.000.000 đồng, tạm tính từ ngày 19/5/2021 cho đến ngày 19/02/2021 là: 35.007.000 đồng.

Tổng cộng bà Đỗ Ánh T yêu cầu ông Nguyễn Tương L thanh toán số tiền tạm tính đến ngày 27/02/2023 là: 1.585.707.000 đồng.

Trước khi mở phiên Tòa, đại diện theo ủy quyền của Nguyên đơn là ông Đoàn Quốc P có nộp bản tự khai bổ sung với nội dung yêu cầu tính lãi đến ngày xét xử như sau:

- Đối với khoản vay ngày 05/12/2020, vay 1.000.000.000 đồng.

Hai bên có thỏa thuận lãi suất trong kỳ hạn tính từ ngày 05/12/2020 đến ngày 27/5/2021 (173 ngày) là: 100.000.000 đồng (Bằng chữ: Một trăm triệu đồng). Vì chúng bà T không am hiểu pháp luật nên thỏa thuận mức lãi suất có kỳ hạn nêu trên là vượt quá mức lãi suất theo quy định 20%/năm), do đó số tiền lãi tính lại như sau: 1.000.000.000 đồng x (20%/năm/365 ngày) x 173 ngày = 94.794.521 đồng. Bà T và ông L đã thỏa thuận về lãi suất vượt mức trần theo quy định pháp luật từ ngày 05/12/2020 đến ngày 27/5/2021 (173 ngày) là 100.000.000 đồng - 94.794.521 đồng = 5.205.479đ (Năm triệu, hai trăm lẻ năm nghìn, bốn trăm bảy mươi chín đồng). Số tiền này sẽ được trừ vào nợ gốc (số tiền 1.000.000.000) mà ông L đã vay của bà T.

Do đó, vốn gốc còn lại buộc ông L phải trả cho bà T là: 1.000.000.000 đồng – (100.000.000 đồng - 94.794.521 đồng) = 994.794.521 đồng.

Bà Đỗ Ánh T yêu cầu tính lãi từ ngày 28/5/2021 trên số dư nợ này cho đến khi ông Nguyễn Tương L thanh toán xong toàn bộ khoản nợ nêu trên với lãi suất 9%/năm.

Như vậy, lãi tạm tính từ ngày: 28/5/2021 đến ngày xét xử là ngày 29/7/2024 (1.158 ngày) là: 994.794.521 đồng x 9%/năm = 284.047.904 đồng.

· Đối với khoản vay ngày 19/5/2021, vay 200.000.000 đồng.

Vốn gốc: 200.000.000 đồng, ông Nguyễn Tương L chưa thanh toán bất kỳ số tiền nào cho khoản vay này. Trong giấy vay tiền, các bên đã tự thỏa thuận là lãi suất 20.000.000đ/năm tức 10%/năm. Do đó, tôi yêu cầu lãi tạm tính từ ngày: 19/5/2021 đến ngày xét xử (ngày 29/7/2024) (1.167 ngày) là: 200.000.000 đồng x 10%/năm x 1167 ngày = 63.945.205 đồng.

Như vậy, bà Đỗ Ánh T yêu cầu ông Nguyễn Tương L thanh toán toàn bộ số tiền còn thiếu tạm tính đến ngày xét xử (29/7/2024) là: 1.542.787.630 đồng (Bằng chữ: Một tỷ, năm trăm bốn mươi hai triệu, bảy trăm tám mươi bảy nghìn, sáu trăm ba mươi đồng).

Bị đơn ông Nguyễn Tương L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng ông L vẫn không đến Tòa làm việc nên không có ý kiến trình bày.

Tại phiên tòa hôm nay,

2

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Đoàn Quốc P có đơn đề ngày 05/7/2024 xin vắng mặt tại phiên tòa nên không có ý kiến trình bày.

Bị đơn vắng mặt nên không có ý kiến trình bày.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5 phát biểu:

Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các qui định của Bộ luật tố tụng dân sự, xác định đúng thẩm quyền, thời hiệu, quan hệ pháp luật tranh chấp. Những người tham gia tố tụng được thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo qui định của pháp luật.

Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn là ông Nguyễn Tương L phải có nghĩa vụ thanh toán hết một lần số tiền còn thiếu tính đến ngày 29/7/2024 là: 1.542.787.630 đồng (Bằng chữ: Một tỷ, năm trăm bốn mươi hai triệu, bảy trăm tám mươi bảy nghìn, sáu trăm ba mươi đồng). Trong đó, nợ gốc: là 1.194.794.521đ (một tỷ, một trăm chín mươi bốn triệu, bảy trăm chín mươi bốn nghìn, năm trăm hai mươi mốt đồng), nợ lãi là 347.993.109 đ (ba trăm bốn mươi bảy triệu, chín trăm chín mươi ba nghìn, một trăm lẻ chín đồng). Ngoài ra cần buộc ông L phải chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong các giấy vay nợ ngày 05/12/2020 và ngày 19/5/2021 đến khi thanh toán hết số tiền còn nợ bà T.

Do yêu cầu nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở xác định đây là vụ án dân sự về việc: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” do bị đơn ông Nguyễn Tương L có địa chỉ nơi làm việc tại Quận E nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 5 theo quy định tại khoản 3 điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về thủ tục tố tụng của Tòa án:

Xét người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Đoàn Quốc P có đơn đề ngày 05/7/2024 xin được vắng mặt tại phiên tòa. Bị đơn là ông Nguyễn Tương L đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng ông L vẫn vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

[3] Về yêu cầu đương sự:

Theo đơn khởi kiện và bản tự khai của ông Đoàn Quốc P là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn thể hiện vào các ngày 05/12/2020 và ngày 19/5/2021 ông Nguyễn Tương L vay của bà Đỗ Ánh T với tổng số tiền là 1.200.000.000đ (Một tỷ hai trăm triệu đồng).

Đối với khoản vay ngày 05/12/2020 là 1.000.000.000đ (một tỷ đồng). Trong giấy vay tiền này, các bên chỉ thỏa thuận lãi vay từ ngày vay là 05/12/2020 đến ngày 27/5/2021 là 100.000.000đ (một trăm triệu đồng), từ ngày 28/5/2021 trở đi, các bên không thỏa thuận tiền lãi.

3

Căn cứ Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015:

“1. Lãi suất vay do các bên thỏa thuận.

Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác. Căn cứ tình hình thực tế và theo đề xuất của Chính phủ, Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định điều chỉnh mức lãi suất nói trên và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất.

Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn được quy định tại khoản này thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực.”

Căn cứ Điều 5 Nghị quyết 01 năm 2019:

Hợp đồng vay tài sản không phải là hợp đồng tín dụng xác lập kể từ ngày 01-01-2017 hoặc xác lập trước ngày 01-01-2017 nhưng thuộc trường hợp áp dụng Bộ luật Dân sự năm 2015 theo hướng dẫn tại Điều 2 Nghị quyết này thì tại thời điểm xét xử sơ thẩm, lãi, lãi suất trong hợp đồng được xác định như sau:

...

2. Hợp đồng vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì lãi, lãi suất được xác định như sau:

a) Lãi trên nợ gốc trong hạn chưa trả theo lãi suất thỏa thuận nhưng không vượt quá mức lãi suất quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với thời hạn vay chưa trả lãi trên nợ gốc tại thời điểm xác lập hợp đồng. Trường hợp các bên có thỏa thuận về việc trả lãi nhưng không xác định rõ lãi suất và có tranh chấp thì lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 tại thời điểm trả nợ.

Tiền lãi trên nợ gốc trong hạn chưa trả = (nợ gốc chưa trả) x (lãi suất theo thỏa thuận hoặc 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 tại thời điểm trả nợ) x (thời gian vay chưa trả lãi trên nợ gốc).

b) Trường hợp chậm trả lãi trên nợ gốc trong hạn thì còn phải trả lãi trên nợ lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 tại thời điểm trả nợ tương ứng với thời gian chậm trả tiền lãi trên nợ gốc, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

Tiền lãi trên nợ lãi chưa trả = (nợ lãi chưa trả) x (lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 tại thời điểm trả nợ) x (thời gian chậm trả tiền lãi trên nợ gốc);

c) Lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả bằng 150% mức lãi suất vay do các bên thỏa thuận trong hợp đồng tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Mức lãi suất trên nợ gốc quá hạn do các bên thỏa thuận không được vượt quá 150% mức lãi suất quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Tiền lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả = (nợ gốc quá hạn chưa trả) x (lãi suất do các bên thỏa thuận hoặc 150% lãi suất vay do các bên thỏa thuận) x (thời gian chậm trả nợ gốc).

Căn cứ Điều 9 Nghị quyết 01 năm 2019:

“Hợp đồng vay tài sản có thỏa thuận về lãi suất, lãi trên nợ gốc quá hạn, lãi trên nợ lãi quá hạn cao hơn mức lãi suất, lãi trên nợ gốc quá hạn, lãi trên nợ lãi quá hạn

4

được pháp luật quy định thì mức lãi suất, lãi trên nợ gốc quá hạn, lãi trên nợ lãi quá hạn vượt quá không có hiệu lực; số tiền lãi đã trả vượt quá mức lãi suất, lãi trên nợ gốc quá hạn, lãi trên nợ lãi quá hạn quy định được trừ vào số tiền nợ gốc tại thời điểm trả lãi; số tiền lãi đã trả vượt quá còn lại sau khi đã trừ hết nợ gốc thì được trả lại cho bên vay."

Căn cứ Khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự thì khoản lãi trong thời hạn từ ngày 05/12/2020 đến ngày 27/5/2021 (173 ngày) là 100.000.000 đồng, tương đương mức lãi suất 22,39%/năm, vượt quá 20%/năm theo quy định do đó cần thiết phải tính lại.

Như vậy, số tiền lãi tính lại là: 1.000.000.000 đồng x (20%/năm/365 ngày) x 173 ngày = 94.794.521 đồng.

Do đó, chấp nhận buộc bị đơn trả cho nguyên đơn tiền gốc là 1.000.000.000 đồng – (100.000.000 đồng - 94.794.521 đồng) = 994.794.521 đồng.

Đối với Yêu cầu tính tiền lãi quá hạn tạm tính từ ngày 28/5/2021 đến ngày xét xử (29/7/2024): Tại bản tự khai ngày 05/7/2024, đại diện nguyên đơn là ông Đoàn Quốc P yêu cầu tính tiền lãi quá hạn từ ngày 28/5/2021 đến ngày 29/7/2024 (ngày xét xử), lãi suất 9%/năm là (1.158 ngày) là: 994.794.521 đồng x 9%/năm = 284.047.904 đồng. Nhận thấy mức lãi suất quá hạn không vượt quá 30% theo quy định tại Điểm b Khoản 5 Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015 nên có cơ sở chấp nhận.

- Đối với Giấy vay tiền ngày 19/5/2021, ông L vay của bà T số tiền 200.000.000₫ (hai trăm triệu đồng) với lãi suất 20.000.000₫ (hai mươi triệu đồng)/năm tức 10%/năm. Thời hạn trả tiền do hai bên thỏa thuận.

Căn cứ Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015, có cơ sở để chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, buộc bị đơn thanh toán số tiền gốc là 200.000.000 đồng.

Về yêu cầu của nguyên đơn buộc ông L trả tiền lãi đối với số tiền gốc 200.000.000 đồng, tạm tính từ ngày 19/5/2021 cho đến ngày 29/7/2024 là: 63.945.205 đồng.

Ngày 19/5/2021, bà T cho ông L vay 200.000.000 đồng, thỏa thuận tiền lãi mỗi năm là 20.000.000 đồng (tức 10%/năm). Khoản vay này, ông L chưa trả tiền lãi và gốc cho bà T.

Đây là hợp đồng vay không kỳ hạn theo Điều 469 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Điều 469 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định thực hiện hợp đồng vay không kỳ hạn:

“...

2. Đối với hợp đồng vay không kỳ hạn và có lãi thì bên cho vay có quyền đòi lại tài sản bất cứ lúc nào, nhưng phải báo trước cho bên vay một thời gian hợp lý và được trả lãi đến thời điểm nhận lại tài sản, còn bên vay cũng có quyền trả lại tài sản bất cứ lúc nào và chỉ phải trả lãi cho đến thời điểm trả nợ, nhưng cũng phải báo trước cho bên cho vay một thời gian hợp lý.”

Ngày 07/3/2023, bà T gửi bằng đường Bưu điện cho ông L Thông báo, yêu cầu ông L trả hai khoản vay trên.

Tại bản tự khai ngày 05/7/2024, nguyên đơn yêu cầu tính tiền lãi quá hạn tạm tính từ ngày 19/5/2021 đến ngày 29/7/2024 (ngày xét xử), lãi suất 9%/năm (thấp hơn mức các bên thỏa thuận) là 63.945.205 đồng. Nhận thấy mức lãi suất tính lãi của nguyên

5

đơn phù hợp với quy định tại Khoản 5 Điều 466, Khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự, do đó có cơ sở chấp nhận.

Để bảo vệ quyền và lợi ích cho mình, theo quy định pháp luật, bà Đỗ Ánh T và đại diện ủy quyền là ông Đoàn Quốc P đã giao nộp cho Tòa các chứng cứ gồm: Các giấy vay nợ ngày 05/12/2020 và ngày 19/5/2021 (bản phô tô có đối chiếu), Giấy thông báo yêu cầu trả nợ vay kèm phiếu báo phát.

Tuy chứng cứ vụ án chỉ có lời khai của nguyên đơn và Giấy mượn tiền không có công chứng chứng nhận, nhưng xét thấy, sau khi đã được Tòa án nhân dân Quận 5 tống đạt Thông báo về việc thụ lý vụ án số 49/TB-TLVA ngày 15/3/2023 của Tòa án nhân dân Quận 5, thành phố Hồ Chí Minh, trong đó nêu rõ yêu cầu khởi kiện của bà Đỗ Ánh T là yêu cầu ông L trả số tiền mượn đã vay là 1.200.000.000đ và tiền lãi thì cho đến nay, ông L không có ý kiến phản đối. Ngoài ra, trong quá trình giải quyết vụ án, ông L có tố giác tội phạm với Công an Q, Thành phố Hồ Chí Minh về việc bà T cho người gây áp lực buộc ông L viết giấy ghi nợ số tiền 1.000.000.000đ (một tỷ đồng) nhưng Viện kiểm sát nhân dân Quận 5 đã có kết luận về việc không khởi tố vụ án này. Do đó, căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xác định sự việc ông L có vay số tiền 1.200.000.000 đồng của bà T là có thật.

Xét các chứng cứ trên có trong hồ sơ phù hợp với đơn khởi kiện và lời trình bày của đại diện nguyên đơn nên có cơ sở để chấp nhận.

[4] Về án phí dân sự sơ thẩm:

Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn ông Nguyễn Tương L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 266; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Căn cứ các Điều 357, 466, 468 của Bộ luật Dân sự;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Xử:

  1. Xét xử vắng mặt nguyên đơn là bà Đỗ Ánh T (người đại diện ủy quyền là ông Đoàn Quốc P) và bị đơn là ông Nguyễn Tương L.
  2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là bà Đỗ Ánh T.

Buộc ông Nguyễn Tương L phải thanh toán hết một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật cho bà Đỗ Ánh T tổng số tiền còn nợ tạm tính đến ngày 29/7/2024 là 1.542.787.630 đồng (Bằng chữ: Một tỷ, năm trăm bốn mươi hai triệu, bảy trăm tám mươi bảy nghìn, sáu trăm ba mươi đồng). Trong đó, nợ gốc: là 1.194.794.521đ (một tỷ, một trăm chín mươi bốn triệu, bảy trăm chín mươi bốn nghìn, năm trăm hai mươi mốt đồng), nợ lãi là 347.993.109 đ (ba trăm bốn mươi bảy triệu, chín trăm chín mươi ba nghìn, một trăm lẻ chín đồng).

6

Việc giao nhận tiền được thực hiện trực tiếp hoặc tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

3. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định pháp luật; Nếu không có thỏa thuận lãi suất thì quyết định theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Ông Nguyễn Tương L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 58.283.629₫ (năm mươi tám triệu, hai trăm tám mươi ba nghìn, sáu trăm hai mươi chín đồng).

H lại cho bà Đỗ Ánh T số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 29.785.605đ (hai mươi chín triệu, bảy trăm tám mươi lăm nghìn, sáu trăm lẻ năm đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2021/0010519 ngày 15/3/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh.

5. Quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND Quận 5;
  • - TAND Tp HCM;
  • - THADS Quận 5;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Trương Quang Dũng

7

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 161/2024/DS-ST ngày 29/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 161/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản giữa nguyên đơn Đỗ Thị Ánh Tuyết và bị đơn Nguyễn Tương Lai
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger